TRẬN CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

 

 

 

 2010/5/1 Vũ Hoài Băo <tradamtudovietnam@gmail.com>

 
B'KAN TRẬN CHIẾN

             KHÔNG CÂN SỨC

  Tango Ngô Văn Tài 

Thành kính dâng lên hương hồn các anh hùng, tử sỹ của QLVNCH đă hy sinh v́ lư tưởng tự do của quân và dân Nam Việt -  đồng kính dâng anh linh những chiến hữu đă nằm xuống trên núi rừng Đơn Dương sau tháng Tư đen 1975
 


 

tai
Biệt Kích Tango Ngô Văn Tài, chiến đoàn 1

Lôi Hổ tại Non Nước – Đà Nẳng trước 1975

 


 

KBC: Tác giả bài viết này là  chiến hữu Ngô Văn Tài, một nguời tỵ nạn Cộng sản chạy sang Cam Bốt tầm trú với Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ nhưng nay đă phải chạy sang Thái Lan lánh nạn một lần nữa để tránh sự trả thù v́ anh đă can đảm vạch mặt chỉ tên điệp viên CSVN nằm vùng, giả dạng tỵ nạn là Nguyễn Công Cẩm. Ngô Văn Tài tên thật là Nguyễn Văn Tần, truớc tháng Tư 1975 là 1 quân nhân (thuộc Chiến đoàn 1 Xung kích. Sau 30/4/1975 anh không chịu buông súng, bỏ vào rừng Đơn Dương cùng 1 số chiến hữu tiếp tục kháng chiến. Khi sa cơ, bị bắt giam ở trại Đại B́nh chờ ngày bị đưa ra Toà anh vượt ngục lấy tên giả chờ ngày có cơ hội hoạt động lại. Khi tung tích bị lộ anh Tài kịp thời đào thoát sang Cam Bốt xin tỵ nạn chính trị. Xin giới thiệu với quư độc giả trang KBC và các chiến hữu những hồi ức tưởng niệm các đồng đội của anh đă hy sinh v́ lư tuởng Tự do, Dân chủ.

 

 trungtalong

 

*

Thù nhà nợ nuớc trả chưa xong

Ngày tháng thoi đưa măi nặng ḷng

Uất hận quê nhà bao tiếng khóc

Căm thù giặc Cộng phải lưu vong

Cho chúng tôi trăm ngàn cây súng

Muôn ḷng như một, mối thù chung

Quyết trở về một phen sống mái

Diệt loài Cộng phỉ, lũ tàn hung

(Kính dâng anh linh những chiến hữu đă nằm xuống trên núi rừng Đơn Dương)

Trong căn pḥng cô tịch, sau khi đọc hết quyển “Những trận chiến không tên trong quân sử” mà nguời bạn mới quen tận tay trao tặng, tôi hai tay ôm chặt quyển sách vào long như ôm cả quê hương miền Nam thân yêu, tưởng như anh linh và h́nh bóng của các Tướng, Tá, Úy, Sĩ năm xưa cũng phảng phất quanh đây. Tôi miên man nghĩ đến những người đă v́ Tự do, Dân chủ, Công bằng yên vui của quê huơng, đồng bào đă “Vị quốc vong thân” hay bị đày đọa trong ngục tù. Cộng sản từ Nam chí Bắc … những người đă tự xử để bảo toàn danh tiết, hoặc những người sau khi từ “địa ngục trần gian” trở về đă lại mưu t́m chiến hữu, lập kế hoạch phục quốc nhưng một lần nữa sa cơ, gánh chịu them bản án 12 năm tù khổ sai ở Z30A Đồng Nai … Và tôi không khỏi nhớ đến các chiến hữu thân yêu của tôi trong Tiểu đoàn Lê Lợi, Trung đoàn 8, Binh đoàn 2 Chí nguyện quân Đông Dương. Những ḍng chữ này xin được thay cho nén hương tuởng nhớ đến anh linh các anh …

*

Họ là những sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH đầu năm 1976 đă trốn khỏi nhà tù Don Bosco ở Phát Chi, Trạm Hành thuộc quận Đơn Dương , tỉnh Tuyên Đức để cùng với những trai tráng, người dân yêu nước ở làng Lạc Lâm, quận Đơn Dương đứng lên cầm súng vào rừng lập chiến khu chống lại sự chiếm đóng của Cộng sản Bắc Việt. Họ là những quân nhân thuộc đủ mọi binh chủng khác nhau, từ Trinh sát Tiểu khu An Xuyên, Thuỷ quân lục chiến, Nhảy dù, Biệt động quân, Chiến tranh chính trị, hay Bộ binh, Địa phương quân, Nghĩa quân … Họ đă đụng độ nhiều trận máu lửa với bộ đội Trung đoàn 22 VC (E 22) như trận M’rang, Dom, B’Kan, Đồi pháo binh, hồ Con ruà,La Boui và Sông Pha. Trong số những trận giao chiến với E 22 VC th́ trận đánh B’Kan là đáng nhắc tới hơn cả, dù trận này không lớn, tổn thất nhân mạng hai bên không nhiều như các trận La Boui và hồ Con ruà, nhưng v́ trận B’Kan biểu lộ hết sự dă man, vô nhân đạo, không lương tri của Việt Cộng khi chúng lùa thân nhân ruột thịt của những nguời chống lại chúng ra làm bia đỡ đạn, và sau đó những người chết không được chôn cất tử tế. B’Kan là một làng Thượng nhỏ cách quận lỵ Đơn Dương chừng 6 – 7 km, và cách quốc lộ 20 chừng 3 km, nằm sát chân núi Chabou, một nhánh của dăy Trường Sơn, phân giới của quận Đơn Dương, Đà Lạt và Sông Pha, Phan Rang. Cách làng B’Kan chừng 1 cây số có 1 hầm đá ăn sâu vào trong núi, nh́n bao quát từ bên ngoài th́ chỉ là một số phiến đá lớn nhỏ nằm chồng chất ở chân núi, ẩn hiện trong đám cây cối không mấy rậm rạp, không ai ngờ đó lại là 1 căn hầm đá có thể chứa được khoảng 10 nguời. Đó cũng là nhờ công của anh em nguời Thượng khám phá ra, đưa chúng tôi vào ẩn núp và dùng nơi đây như một trạm liên lạc. Lối đi trong hang lên xuống ngoắt ngoéo, có chỗ hẹp phải ép sát bụng, hai tay bám vào đá lần ḍ từng buớc hoặc đi lom khom. Trong hầm có chỗ tối lờ mờ, càng vào sâu càng tối. Chỉ có một lối duy nhất từ ngoài cửa hầm lên hầm chính, rồi từ hầm chính mới có lối lên nóc hầm; trấn giữ được conđường này th́ Việt cộng không thể nào tấn công được. Thoạt đầu chúng tôi phải dùng đến địa bàn và đèn pin đểdi chuyển, sau quen dần với khoảng cách và cảnh vật nên chúng tôi có thể sờ ven vào đá để di chuyển tương đối dễ dàng. Vào một buổi sáng sớm đầu tháng Năm 1977, chúng tôi bật dậy v́ hàng loạt đạn nổ liên hồi trên nóc hầm, chỗ mà Sùng (bí danh Sony) đang canh gác. Ai cũng vội vă vơ vũ khí và nghe Sùng thông báo th́ thào qua hơi thở “VC tấn công”. Chúng tôi vội leo lên khỏi hầm để vào vị trí chiến đấu, nhưng chưa ổn định xong th́ bỗng có một tiếng nổ lớn kinh hoàng chưa bao giờ nghe ngay cửa hầm. Tôi vội vă bịt hai tai, máu huyết trong người nhộn nhạo làm muốn ói.
 

 ..bdq_loisuoi

Miểng đạn và đá vỡ vụn bay rào rào, và nhiều tiếng nổ dồn dập liên tục, gây áp lực nặng nề làm chúng tôi dường như muốn bất tỉnh sau mỗi tiếng nổ (tôi đoán có lẽ là đạn B40 bắn vào). Sau một loạt tiếng nổ lớn là hàng tràng súng nhỏ bắn loạn xạ trong hầm. Lúc này th́ anh em chúng tôi cũng đă cố gắng lần ṃ vào hết vị trí chiến đấu v́ sợ nếu để VC lọt vào và t́m được lối leo lên quăng lựu đạn xuống hầm th́ chúng tôi chết hết.

Khi chúng tôi đă lên được trên hầm th́ trong của hầm chật hẹp, B40 mất tác dụng v́ xạ thủ không thể nào chĩa sung bắn lên, bởi sức phụt hậu dội vào đá sẽ khiến xạ thủ bị thương hoặc có thể chết được. Sùng (Sony) lúc này không thấy xuống, có lẽ anh đă chết ngay loạt đạn đầu tiên trên nóc hầm! Lúc đó có nhiều tiếng vật cứng va chạm vào đá vang lên trong bóng tối, có lẽ là VC lần ṃ t́m đường! Chúng tôi quăng lựu đạn xuống cửa hầm, lửa nhá lên cùng tiếng nổ hoà lẫn những tiếng kêu thảm thiết của nguời bị thuơng, sau đó là im bặt. Yên lặng được vài phút hàng loạt đạn của VC bắn xối xả trong hầm. Chúng bắn liên tục hết đợt này đến đợt khác, có lẽ chúng bắn như vậy để lôi đồng đội chết hoặc bị thuơng ra. Chúng tôi chịu không thể nhoài nguời ra để ném lựu đạn theo v́ sợ trúng đạn chúng đang bắn lien thanh như mưa rào. Hơn nữa số vũ khí của chúng tôi quá hạn chế (tổng cộng chỉ có mỗi nguời vài quả lựu đạn, cùng 3 khẩu M16 và 1 khầu Colt 45 do Sùng giữ. Khẩu M 16 của tôi Sùng xách lên nóc hầm canh gác, có lẽ đă bị VC tịch thu sau cái chết của anh).

Tiếp theo đó là 1 sự yên lặng khủng khiếp! Chúng tôi lắng tai nghe ngóng từng âm thanh, căng mắt cố quan sát kỹ cửa hầm và lối dẫn lên nóc hầm. Thật sự muốn phá được căn hầm này không phải chuyện dễ, chắc chắn VC phải dùng đến rất nhiều thuốc nổ và phải mất nhiều ngày, trong khi đó th́ lối đi ngoắt ngoéo, trong hầm lúc nào cũng tối mờ mờ, có chỗ tối đen như mực nên VC không dám liều lĩnh tấn công nên chúng tôi chỉ có thể chết v́ đói nếu bị vây hăm lâu ngày. V́ thế VC ngưng tấn công bắt đầu bắc loa kêu chúng tôi ra hàng với giọng điệu lừa phỉnh “để được hưởng khoan hồng, về doàn tụ với gia đ́nh …”. Nhưng khi không thấy có động tĩnh ǵ, chúng bắt đầu buôn gnhững lời doạ dẫm kèm theo tiếng chửi ruả …

Chửi xong, bỗng lại có những tiếng nổ lớn ở nóc hầm kèm theo nhiều loạt súng nhỏ: VC t́m cách tấn công từ trên xuống! Kỳ (Kilo) rón rén lần theo đá đi lên lối dẫn lên nóc hầmđể ngăn chặn nếu VC t́m cách ṃ xuống. Anh ở cách chúng tôi không xa, ám hiệu nhận nhau vẫn là tiếng huưt sáo nho nhỏ. Lại có tiếng nổ lớn và hàng loạt AK kèm theo, Kỳ bén chĩa súng bắn vài loạt ngắn về phiá truớc cảnh cáo bọn VC đừng dại dột liều lĩnh t́m cách xuống. Có lẽ VC cũng biết điều ấy nên sau những loạt đạn lại có tiếng kêu đầu hàng từ nóc hầm vọng xuống, rồi lại hàng loạt lời lẽ thô tục được tuôn ra. Đến đây th́ chúng tôi bắt đầu đấu vơ mồm với bọn VC và ḷng tự tin, can đảm tăng dần lên sau cuộc đấu vơ mồm này.

Trời tối dần, Kỳ (Kilo) lần ṃ t́m chỗ gài lựu đạn đề pḥng đêm khuya bọn chuột VC ṃ xuống, xong anh báo cho chúng tôi biết chỗ có lựu đạn gài. Tôi ṃ xuống căn hầm chính, chui xuống khe đá lấy đầy 3 bi đông nuớc và mang theo túi gạo lên hầm. Sau khi bàn bạc cho kế hoạch dự trù cho đêm nay, chúng tôi mỗi nguời tự đọc kinhcầu nguyện Thiên Chuá che chở ban cho bằng an và cũng không quên cầu cho linh hồn nguời bạn Sùng mà Chuá đă gọi về buổi sáng nay! Rồi trong yên lặng chúng tôi chia phiên nhau gác và lấy gạo ra ăn để lấy sức cầm cự!

*

Sang ngày thứ hai th́ chúng tôi kinh hoàng lo lắng bởi v́ không c̣n nghe những tiếng nổ của B40 hay AK , lựu đạn từ cửa hầm vọng vào nữa mà thay vào đó là tiếng của nguời than chúng tôi bên ngoài đang vọng vào kêu gọi chúng tôi hăy ra đầu hàng! VC bắt từng gia đ́nh một nhoài người qua tảng đá nh́n xuống cửa hầm lên tiếng gọi nguời thân. Lúc đó tiếng nguời cô ruột của tôi vang lên , tiếng cô trong nuớc mắt gọi vọng từ ngoài vào cửa hầm. Ḷng tôi quặn thắt đau đớn, tôi chụp khẩu súng M16 của Nghĩa (tự Negro) chĩa vào tảng đá ngay truớc mặt nằm ở duới bắn một loạt ngắn, mục đích là để khuyến cáo gia đ́nh đừng vào, v́ nhất định nếu gia đ́nh thân nhân chúng tôi v́ sức ép của VC mà vào trong hầm th́ sẽ thật là một thảm họa kinh hoàng chưa từng có! Lúc ấy bỗng có tiếng nguời huyên náo ở ngoài phản đối VC dùng nguời thân của chúng tôi làm bia đỡ đạn cho chúng! Lại có tiếng thách thức VC “các anh vào mà bắt, các anh đă từng đánh thắng đến 2 đế quốc đầu sỏ, đă đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào thế mà bây giờ chỉ có vài thằng phản động mà các anh lại phải dùng đến nguời thân làm bia đỡ đạn à?” Ngay sau đó là những tiếng gào khóc phản đối v́ bọn VC đánh nguời, đẩy nguời vào chỗ chết! Theo dơi diễn biến bên ngoài, chúng tôi thấy thuơng xót cho gia đ́nh quá! Bất chấp hiểm nguy họ đă dung xác thân và miệng lưỡi cố kéo dài thời gian để cho nguời thân là chúng tôi được sống. Có lẽ trời đă quá trưa. Tiếng căi cọ, tiếng kêu gọi chúng tôi ra đầu hang rời rạc và thưa thớt dần, sau đó lại là một sự yên lặng bao phủ. Chúng tôi tự hỏi “chuyện ǵ sẽ xảy ra tiếp theo nữa đây?” Chúng tôi như những con thú bị săn đuổi và nay bị vây ở buớc đường cùng. Tuy nhiên chúng tôi tự nhủ “không thể chết! chúng tôi phải sống và không c̣n con đường nào khác ngoài việc phải thoát khỏi căn hầm này trong đêm nay! Trong cái chết có cái sống, mặc dù sự sống rất mong manh nhưng chúng tôi không có quyền tự xử v́ thân xác này là của trời đất, nhất là chúng tôi không đủ can đảm tự kết liễu đời ḿnh v́ long ai cũng vẫn khao khát sống, vẫn c̣n nhiều hy vọng dù phải nhận thực là hy vọng cũng rất mỏng manh! Đă 2 ngày qua chúng tôi nguời nào cũng cầu nguyện xin Chuá ban cho bằng an và giờ đây, những giờ phút sắp tới chúng tôi nghĩ có thể là giờ phút cuối cùng của đời người, chúng tôi thầm th́ dọn ḿnh xin Chuá tha thứ cho tất cả những lỗi lầm đă phạm và cầu xin được ơn che chở! Rồi chúng tôi dơi mắt chăm chú nh́n xuống cửa hầm, tai vểnh lên nghe ngóng, Kỳ th́ rón rén lần ṃ men theo những phiến đá đi gỡ những trái lựu đạn đă gài hôm qua. Trời lúc này có lẽ đă khuya lắm rồi, chúng tôi cùng nắm tay nhau như một lời khuyến khích cùng can đảm lên, cầu chúc cho nhau được b́nh yên. Kỳ (Kilo) xuống cửa hầm truớc , Nghĩa trao cho tôi khẩu M16 cùng mấy băng đạn và lấy lại khẩu Colt 45 (của Sùng). Tôi không nhận nhưng anh nhất định đẩy vào tay tôi. Nắm chặt súng, trong tư thế sẵn sàng yểm trợ cho Kỳ, tôi nghe tiếng rơ tiếng tim đập th́nh thịch trong lồng ngực ḿnh,(thậm chí chúng tôi dường như có thể nghe được cả tiếng nuốt nuớc miếng của nhau)… Hơi thở dồn dập, trời không lạnh mà sao run run, tay lại uớt nhờn mồ hôi … Có tiếng huưt sáo khe khẽ ở cửa hầm vọng lên, chúng tôi từng buớc bám theo đá lần ṃ đi xuống cửa hầm … miệng khô khốc, hơi thở đứt quăng, dán nguời vào đá lần đi từng buớc cố gắng không để gây nên một tiếng động … Khi đă gặp nhau ở cửa hầm, chúng tôi yên lặng quan sát kỹ phiá trước mặt và hai bên ngoài cửa hầm … cố vận dụng mọi giác quan đến mức tối đa . Ở bên ngoài, cách không xa có nhiều đốm lửa được đốt lên theo h́nh cánh cung, cứ khoảng chừng 50, 60 m một đống lửa . V́ thế cả một vùng trời rực sang màu lửa đỏ trông rợn người … nh́nquanh không thấy bóng nguời nhưng chúng tôi đoán, huớng đối diện của hầm, trong khoảng tối đen ng̣m đó có một toán VC đang phục kích chờ đợi bắt sống chúng tôi! Hít một hơi dá, đưa tay làm dấu thánh giá trên ḿnh xong, thu hết can đảm, nép vào bên phải cửa hầm, chúng tôi lần lượt nối gót theo Kỳ chạy lom khom núp vào những phiến đá và các lùm cây với ư định mở đường máu chạy lên núi. Và ngay khi đó, hàng loạt AK xen kẽ M79 thi nhau nổ từ nhiều huớng đổ xuống chúng tôi! Dội nguợc trở lại, theo phản ứng tự nhiên, chúng tôi nhào về phiá không có đạn nổ, vượt qua một con lạch cạn rộng chừng 1 thuớc. Tôi trượt chân té xuống con lạch, nghe tiếng đạn nổ như mưa, tiếng hô xung phong của VC, và lẻ loi có tiếng kêu Chuá ơi của Nghĩa (Negro)! Lúc đó có tiếng súng của Kỳ bắn từng loạt chặn buớc tiến công của VC, cùng tiếng anh hô “chạy đi, theo tao”. Tôi rút chốt trái lựu đạnh, định vung tay ném về huớng bọn VC th́ một tiếng nổ lớn trên bờ, gần con lạch chỗ tôi bị té. Lấy hết sức b́nh sinh tôi ném quả lựu đạn về hướng VC, mắt chợt nh́n thấy Nghĩa đang nằm bất động cách con lạch chừng 2m. Tôi vọt lên khỏi lạch vừa chạy vừa bắn về đống lửa bên tay trái cách tôi không xa. Tôi chạy về huớng trước mặt vài chục mét rồi quẹo ngay sang trái v́ sợ phục kích, ném thêm một trái lựu đạn nữa nguợc về phiá sau và băng ḿnh vào các lùm cây thưa thớt lẫn trong màn đêm để thoát thân …

Mấy ngày sau chúng tôi được tin Thiếu uư Đinh Chính Nghĩa đă tử thuơng thân thể không toàn vẹn. Ngoài những vết đạn lỗ chỗ trên người, đầu anh nát bét v́ bị sức công phá của trái lựu đạn anh cầm trên tay khi gục ngă! Bọn CS địa phuơng bắt gia đ́nh chị Sương nhận xác anh Nghĩa về chôn, Bất chấp chị phản đối rằng nếu đó là xác anh Sương th́ phải có một cái bướu bằng quả ổi nằm ngay eo, bên hông trái phiá sau lưng, chúng vẫn khăng khăng bắt chị nhận đem chôn!

(Tiếp theo kỳ sau)  

 

 

NHỮNG HIỂM HỌA TIỀM TÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN TẠI CAM BỐT

 
 Tango Ngô Văn Tài

 

alt
Tác giả Ngô Văn Tài
 

Từ sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu người Việt nam đă bỏ nước ra đi t́m tự do bằng đường thủy, đường bộ, và bằng tất cả mọi phương tiện mà họ có thể có được. Cái giá của tự do dân chủ mà người dân Việt mất nước phải đánh đổi là chính tài sản và tính mạng của họ và gia đ́nh. Tất nhiên để có được khoảng 3 triệu người Việt đến được bến bờ tự do, th́ cũng có xấp xỉ con số đó, gồm cả phụ nữ và trẻ em, đă phải vĩnh viễn nằm lại đâu đó trên hành tŕnh đi t́m tự do đó mà mối hiểm họa đến từ nhiều phía: sự truy sát của công an biên pḥng và hải tuần của cộng sản Việt nam, băo tố phong ba, hải tặc cướp giết.

Kể từ sau tháng 4 năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) không c̣n công nhận thuyền nhân Việt nam là những người tỵ nạn chính trị nữa, th́ chính phủ CSVN càng mạnh tay hơn trong các chiến dịch đàn áp các tổ chức tôn giáo, các chức sắc tôn giáo, những nhà bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ và cả các sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên khi họ đ̣i quyền được tự do tín ngưỡng, được tự do bày tỏ chính kiến và được quyền sở hữu đất đai mà tổ tiên họ để lại. Hệ quả của những cuộc đàn áp mạnh tay này là một làn sóng vượt biên bằng đường bộ của những nạn nhân là người Thượng cũng như người Kinh bất đồng chính kiến lại ra đời: Hàng ngàn người lại rời bỏ tổ quốc, vượt biên giới sang Cam bốt, đến văn pḥng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại đây để xin được quốc tế bảo vệ.

 
alt
 

Bởi không thể ngăn chặn được tất cả những người dám đối diện với cái chết để đi t́m quyền được sống này, chính quyền cộng sản Việt nam đă phải xây dựng một hệ thống t́nh báo ngoại tuyến và cài cắm sang Cam bốt những nhân viên mật vụ máu lạnh để theo dơi, để gây ly gián và để thực hiện những những cuộc bắt cóc, truy sát đối với những người tỵ nạn là những nhà bất đồng chính kiến, những nhà đối lập chính trị dám tiếp tục lên án và tố cáo tội ác của chế độ bạo quyền cộng sản Việt nam. Những tên t́nh báo này và hệ thống chân rết của chúng trên đất nước Chùa tháp chính là mối hiểm họa tiềm tàng của những người Việt tỵ nạn cộng sản tại đây. Tuy nhiên do nghiệp vụ t́nh báo siêu việt cũng như sự lưu manh xảo quyệt vốn có của những tên cộng sản, mà những nạn nhân của chúng khó nhận diện được chúng là những tên t́nh báo cộng sản máu lạnh. Và cứ thế, hết thế hệ người tỵ nạn này đến thế hệ người tỵ nạn khác tiếp tục là những nạn nhân bi thảm của chúng, mà ngay cả một số người Việt đang định cư ở nước ngoài đang ủng hộ phong trào dân chủ quốc nội cũng từng bị lung lạc, lừa bịp bởi những tên t́nh báo cộng sản này, để rồi nhiều cá nhân, nhiều tổ chức đă quay lưng với các phong trào dân chủ này. Tuy nhiên, chúng tôi không có ư chỉ trích những cá nhân, những tổ chức của người Việt hải ngoại đă rơi vào kế ly gián của những tên t́nh báo cộng sản đang hoạt động tại Cam Bốt đă bỏ rơi những nạn nhân của chế độ cộng sản, hoặc quay lưng với công cuộc đấu tranh của họ, mà chúng tôi chỉ xin được tŕnh bày những điều mắt thấy tai nghe về những tên t́nh báo cộng sản khát máu này, bởi bản thân tôi cũng từng là một nạn nhân của nó, mà nếu không có quyền năng của Chúa th́ có lẽ tôi cũng đă trở thành mồi ngon cho cá sấu trong một trang trại cá sấu của Bộ Nội Vụ Cam Bốt và cơ quan t́nh báo CSVN nuôi tại Nam Vang để thủ tiêu những người Việt tỵ nạn là những nhà chính trị đối kháng như lời đe dọa của một trong những tên t́nh báo cộng sản đă len lỏi được vào cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng tôi. Với mong muốn thật nhỏ nhoi là cảnh báo cho những người Việt đang tỵ nạn tại Cam bốt cũng như những nhà bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ trẻ trong nước biết những “vùng báo động đỏ hiểm nghèo” tại Cam bốt để có thể tránh né, nếu t́nh thế bắt buộc phải đào thoát sang đó lánh nạn cộng sản.

Tôi tên là Ngô Văn Tài, sinh năm 1948 tại Hải Dương, Bắc phần Việt nam. Năm 1954 tôi theo gia đ́nh di cư vào Nam để tránh họa cộng sản.

Năm 1970, tôi nhập ngũ, tùng sự tại toán Tây Sơn thuộc Chiến Đoàn 1 Lôi Hổ, đồn trú tại Non Nước, Đà Nẵng. Năm 1975 sau khi cộng quân Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam, cùng một số chiến hữu chúng tôi tham gia lực lượng Liên Bang Chí Nguyện Quân Đông Dương tiếp tục kháng cộng cứu quốc cho đến khi lực lượng bị tan ră, chúng tôi lại tiếp tục sát nhập với lực lượng FULRO tại khu vực M’ Răng để tiếp tục cuộc kháng cộng cứu nguy dân tộc. Đến năm 1978 sau những trận đánh không cân sức do thiếu cả nhân lực và vũ khí, lực lượng của chúng tôi và FULRO cũng hoàn toàn bị tan ră, phần lớn chiến hữu của chúng tôi đă hy sinh, một số rất nhỏ vượt thoát được đến rừng núi thuộc Đông-Bắc Cam Bốt lẫn trốn, số c̣n lại bị bắt, bị án chung thân hoặc tử h́nh. Tôi lại may mắn cùng một số chiến hữu cùng án chung thân vượt ngục thành công từ trại tù Đại B́nh vào cuối năm 1978 và sống ngoài ṿng pháp luật, sống lưu vong trên chính tổ quốc của ḿnh suốt gần 30 năm qua trong thân phận của những con người không gia đ́nh không tổ quốc. Đến tháng 8 năm 2006 khi một số chiến hữu của tôi bị lộ diện, bị bắt giam và qua những thông tin mà lực lượng an ninh của CSVN thu thập được sau các cuộc tra tấn nhục h́nh các chiến hữu của tôi, th́ nhân thân của tôi cũng bị bại lộ. Các lực lượng an ninh của bộ công an CSVN bắt đầu các chiến dịch truy quét làng quê của tôi tại Lạc Lâm, Đơn Dương, Tuyên Đức đồng thời cũng triền miên xách nhiễu mẹ già cùng những người họ hàng thân thuộc của tôi để mong tôi sẽ bị yếu ḷng mà ra đầu thú, đầu hàng cộng sản, nên tôi phải t́m đường sang Cam Bốt lánh nạn.

 
alt
 

Tại Cam Bốt, tôi đă đến tŕnh diện với văn pḥng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) để xin được bảo vệ bởi tôi đang đối mặt với sự truy sát của các lực lượng an ninh của CSVN. Nhưng than ôi, thật là họa vô đơn chí! Vào thời gian này Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại Cam Bốt đang trong giai đoạn chuyển giao quyền phỏng vấn, xem xét và cấp quy chế tỵ nạn cho Bộ Nội Vụ Cam Bốt đảm trách, mà bộ nội vụ của chính phủ Cam bốt thực chất chỉ là một cơ quan an ninh ngoại vi của chính phủ cộng sản Việt nam, cho nên sau vài lần được các nhân viên người Khmer gốc Bắc Việt công tác tại Bộ Nội Vụ của Cam bốt phỏng vấn th́ tôi đă bị từ chối quy chế tỵ nạn chính trị với lư do là là tôi không có giấy chứng nhận đă từng bị tù đày hay bất cứ một loại giấy tờ tùy thân nào do CSVN cấp phát cả. Đến lúc này, tôi mới phát hiện ra là tôi đă tự chui vào cái bẫy giết người do Bộ Nội vụ Cam bốt cùng chính phủ CSVN áp lực lên Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại đây, giăng ra để bắt giết những người bất cộng đái thiên với cộng sản đang sống ngoài ṿng pháp luật như tôi. Quá tuyệt vọng v́ đang ở vào t́nh thế tấn thối lưỡng nan, tôi t́m đến một Hội Thánh Tin Lành của người Việt tỵ nạn tại Phnom Penh để xin tá túc và tôi đă nhận được sự giúp đỡ của Hội Thánh cũng như sự che chở đùm bọc của lănh đạo Hội Thánh và của các anh em tín hữu ở đây, cũng là người cùng cảnh ngộ. Chính tại nơi đây tôi có điều kiện gặp gỡ nhiều người tỵ nạn cộng sản khác và cũng chính từ nơi đây mà tôi cũng được mở mắt ra để biết thêm về cái thế giới tỵ nạn cộng sản tại Cam bốt sao mà nghiệt ngă và phức tạp đến thế! Chính cái thế giới tỵ nạn nhỏ bé này đă dẫn dắt tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, càng t́m hiểu về nó tôi càng bàng hoàng càng sững sốt, nhưng có lẽ điều mà tôi ngạc nhiên và sững sốt nhiều hơn cả là bên cạnh những gia đ́nh người tỵ nạn sống nheo nhóc, nhếch nhác, chen chúc trong những căn pḥng chật hẹp, u tối và bẩn thỉu với những kiếp đời tối tăm, không định hướng, không tương lai, với từng ngày sống áo chẳng đủ lành, cơm chẳng đủ no, th́ lại tồn tại một người tỵ nạn khác rất quyền uy, rất quư tộc, rất đế vương, sở hữu cả súng ngắn, súng dài, sở hữu cả xe hơi đời mới TOYOTA 4RUNNER và sở hữu cả một ṭa biệt thự nguy nga đồ sộ có tường cao hào sâu để bảo vệ: Đó là một người tỵ nạn mang tên Nguyễn Công Cẩm.

Nhưng rồi điều ngạc nhiên đó đă được sáng tỏ khi vào một ngày cuối tháng Ba năm 2007, khoảng 3 ngày sau khi tôi nhận được quyết định từ chối tư cách tỵ nạn của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Của Liên Hiệp Quốc tại Cam bốt, th́ Nguyễn Công Cẩm đến t́m gặp tôi tại Hội thánh nơi tôi đang tạm trú, anh ta gọi tôi ra một nơi vắng, không xa Hội Thánh mấy, để bắt đầu câu chuyện. Cẩm đă giới thiệu với tôi rằng ngoài quân hàm trung tá mà anh ta đang mang của ngành an ninh thuộc hoàng gia Cam Bốt, th́ bản thân anh ta là sỹ quan t́nh báo thuộc tổng cục an ninh của Bộ Công An Việt nam, rằng cơ quan an ninh của Việt nam đă theo dơi và biết rất rơ những hoạt động chống cộng của tôi từ lâu.

 
alt
 

Họ cũng biết rất rơ là tôi đă sang Cam Bốt xin tỵ nạn và đă bị từ chối tư cách tỵ nạn, rằng sinh mạng của tôi đang nằm trong tay của cơ quan an ninh Việt nam mà đại diện cho cơ quan này tại đây chính là Nguyễn Công Cẩm; rằng anh ta có thể bắt tôi để giải giao về Việt nam bất cứ lúc nào anh ta muốn. Tuy nhiên “để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của đảng và nhà nước, chỉ đánh người chạy đi, chứ không đánh người chạy lại”, cơ quan an ninh của Việt nam muốn mở cho tôi một con đường sống, đó là tôi phải hợp tác với cơ quan an ninh Việt Nam, làm ăng-ten cho anh ta, theo dơi mọi hoạt động của hội thánh nơi tôi đang ở, theo dơi mọi hoạt động của mục sư quản nhiệm, của ban chấp sự Hội thánh và của cả những người tỵ nạn Việt nam thường tới lui Hội Thánh, cũng như những mối quan hệ của Mục sư với bất cứ ai… tôi đều phải ghi nhận và báo cáo hàng tuần cho anh ta… Với thời gian làm việc cho anh ta là ba năm, sau đó bản thân anh ta và cơ quan của anh ta sẽ can thiệp với cơ quan pháp luật của Việt nam để họ chỉ xử án tôi 1 năm tù, và sau 1 năm tù ở th́ tôi sẽ được trả tự do… Nếu tôi chấp nhận việc móc nối của anh ta, th́ anh ta sẽ sắp xếp cho tôi được gặp cấp trên của anh ta. Để khủng bố tinh thần của tôi, ḥng khiến tôi phải chấp nhận sự móc nối này, Nguyễn Công Cẩm đă không ngần ngại nói cho tôi biết rằng, trong thời gian vừa qua, có nhiều người Việt tỵ nạn tại Cam bốt đă từng bị bắt cóc dẫn độ về Việt nam chịu án, chắc với tuổi đời và sự từng trải như tôi th́ tôi phải hiểu ai là tác giả của những vụ bắt cóc đó…

Không cần suy nghĩ ǵ thêm, tôi đă thẳng thắn trả lời với Nguyễn Công Cẩm rằng chống cộng để thủ tiêu chế độ cộng sản trên quê hương Việt nam là mục tiêu duy nhất của đời tôi và nhiều chiến hữu của tôi đă bỏ ḿnh v́ mục tiêu đó, nên tôi thà chết chứ không bao giờ phản bội lư tưởng của ḿnh, không bao giờ phản bội lại những chiến hữu của ḿnh. Vô cùng bất ngờ và tức giận trước câu trả lời của tôi, nhưng Nguyễn Công Cẩm cố giữ b́nh tĩnh, dặn ḍ tôi rằng anh ta nghiêm cấm tôi không được tiết lộ với ai rằng anh ta là sỹ quan an ninh của Việt nam cũng như tuyệt đối không được tiết lộ với ai về việc móc nối bất thành đó… rồi anh ta ra về. Tôi biết rằng, từ đây, Nguyễn Công Cẩm sẵn sàng thủ tiêu tôi vào bất cứ lúc nào để bịt đầu mối, nên liên tiếp những chuổi ngày sau đó tôi luôn sống trong tâm trạng âu lo triền miên. Dù vậy v́ muốn bảo vệ an toàn tính mạng cho những người Việt tỵ nạn khác, tôi đă không ngần ngại tiết lộ cho họ biết Nguyễn Công Cẩm là ai để họ có biện pháp pḥng tránh cho bản than. Thật đáng tiếc thay, một số nhà dân chủ trẻ khi đến Cam Bốt lánh nạn, dù đă nhận được lời cảnh báo của tôi rồi, nhưng do ḷng hiếu thắng và khinh xuất của tuổi trẻ mà họ phải lâm nạn như trường hợp của nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ. Một số nhà dân chủ trẻ khác, trong một cuộc “đại yến” chia tay với “anh Cẩm”, để lên đường đi định cư ở Hoa kỳ, thậm chí c̣n mách lại với Nguyễn Công Cẩm rằng: “Chú Tài và mục sư Lũy nói với em rằng anh Cẩm là sỹ quan an ninh của cộng sản, nhưng em không tin đâu, em chỉ ước mong tất cả mọi người cộng sản đều tốt như anh vậy để dânViệt ḿnh đỡ khổ, mà bản thân em cũng khỏi phải đi tỵ nạn như thế này”. Than ôi! Trung ngôn nghịch nhĩ! Trung ngôn nghịch nhĩ! Vi nhân nan! Vi nhân nan! Làm người sao khó quá! Chỉ v́ ḷng yêu thương, chỉ v́ muốn che chở bảo vệ cho những chiến sỹ dân chủ trẻ mà tôi đă chuốc vạ vào thân! Không lâu sau khi nhà dân chủ trẻ này tiết lộ điều này với Nguyễn Công Cẩm th́ anh ta đă đến nơi tôi đang trú ngụ gặp tôi, đưa cho tôi một gói cà phê bột và nói rằng thấy tôi không có việc làm, không có thu nhập, chắc là đời sống vật chất khó khăn lắm, nên Cẩm muốn giúp tôi có nguồn thu nhập bằng cách đưa tôi vào rừng đào cây kiểng cho anh ta, bù lại anh ta sẽ nuôi cơm tôi và trả công cho tôi thật bội hậu.


 
alt
 


Nguyễn Công Cẩm là người sinh tại huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Tất cả mọi người ở Cam Bốt đều biết anh ta với tên CẨM và gọi theo tên NGUYỄN CÔNG CẨM, kể cả vợ con của anh ta. Nhưng trong giấy tờ do UNHCR cấp th́ anh ta mang tên NGUYỄN CẨM CÔNG và sinh tại Sài G̣n. Ngoài ra trong quân đội Hoàng gia Cam Bốt th́ Nguyễn Công Cẩm lại mang tên LY HENG.

Tôi hiểu được rằng ngày tôi phải trả giá cho ḷng căm thù cộng sản của tôi đang đến rất gần nên tôi đă phải giả vờ ốm nặng không thể đi lao động được, để tŕ hoăn và t́m kế thoát thân.

Và thừa lúc cuộc xung đột biên giới Thái-Miên nổ ra cả bộ nội vụ Cam Bốt lẫn Nguyễn Công Cẩm bị lôi vào những công tác liên quan đến cuộc xung đột này, tôi đă bí mật rời khỏi Cam Bốt, đến một nước láng giềng, vào ṭa đại sứ của một quốc gia phương Tây xin tỵ nạn. Với sự giúp đở của các chiến hữu cũ của tôi trong lực lượng Lôi Hổ, với sự can thiệp kịp thời của các tổ chức quốc tế nhân quyền, và đặc biệt là với sự giúp đở của tiến sỹ Nguyễn Đ́nh Thắng, giám đốc điều hành của tổ chức cứu người vượt biển Boatpeople SOS, hồ sơ tái định cư ở đệ tam quốc gia để đoàn tụ với gia đ́nh tôi đă hoàn tất và tôi đă đến được bến bờ tự do tại San Jose California vào ngày 4 tháng 02 năm 2010 vừa qua.

Với sự b́nh an cùng với gia đ́nh trên một dất nước tự do sau đúng 35 năm sống trong lao lư tù đày, và trốn lánh nay đây mai đó trong cảnh phải sống lưu vong trên chính tổ quốc của ḿnh, rồi lại phải lưu vong đến xứ Chùa Tháp rồi lại đến xứ Chùa Vàng sống lưu đày trong kiếp tủi nhục của một con người vô tổ quốc trong suốt 35 năm trời, nay tôi xin được ghi lại hành tŕnh đi tỵ nạn của tôi, cũng như những nghiệt ngă, những uẩn khúc trong cuộc đời tỵ nạn và những hiểm họa tiềm tàng mà người Việt tỵ nạn tại Cam Bốt đă và đang phải đối mặt từng ngày. Với ước mong những thông tin của tôi sẽ góp một phần nhỏ, như một thông báo về một “địa chỉ đỏ” vô cùng hiểm nghèo trong thế giới người Việt tỵ nạn cộng sản tại Cam Bốt mà mọi người phải biết, cần phải tránh để giảm thiểu đến mức thấp nhất những rủi ro mà trước đây thầy Thích Trí Lực, nhà đối kháng chính trị Hồ Long Đức và nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ đă phải gánh chịu, bởi nếu lại cứ chủ quan, khinh xuất, hoặc nếu không nhận diện được ai là bạn, ai là thù trong cộng đồng tỵ nạn th́ hiểm họa đến với bản thân sẽ thật khó lường!

Mùa Quốc Hận 2010
Tango Ngô Văn Tài


alt

alt
 

 

 

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage