2010/5/1
Vũ Hoài Băo
<tradamtudovietnam@gmail.com>
B'KAN TRẬN CHIẾN
KHÔNG
CÂN SỨC
Tango Ngô Văn
Tài
Thành kính dâng
lên hương hồn
các anh hùng, tử
sỹ của QLVNCH đă
hy sinh v́ lư
tưởng tự do của
quân và dân Nam
Việt - đồng
kính dâng anh
linh những chiến
hữu đă nằm xuống
trên núi rừng
Đơn Dương sau
tháng Tư đen
1975
|

Biệt
Kích
Tango
Ngô Văn
Tài,
chiến
đoàn 1
Lôi Hổ
tại Non
Nước –
Đà Nẳng
trước
1975
|
KBC: Tác
giả bài viết này
là chiến hữu
Ngô Văn Tài, một
nguời tỵ nạn
Cộng sản chạy
sang Cam Bốt tầm
trú với Cao Uỷ
Tỵ Nạn LHQ nhưng
nay đă phải chạy
sang Thái Lan
lánh nạn một lần
nữa để tránh sự
trả thù v́ anh
đă can đảm vạch
mặt chỉ tên điệp
viên CSVN nằm
vùng, giả dạng
tỵ nạn là Nguyễn
Công Cẩm. Ngô
Văn Tài tên thật
là Nguyễn Văn
Tần, truớc tháng
Tư 1975 là 1
quân nhân (thuộc
Chiến đoàn 1
Xung kích. Sau
30/4/1975 anh
không chịu buông
súng, bỏ vào
rừng Đơn Dương
cùng 1 số chiến
hữu tiếp tục
kháng chiến. Khi
sa cơ, bị bắt
giam ở trại Đại
B́nh chờ ngày bị
đưa ra Toà anh
vượt ngục lấy
tên giả chờ ngày
có cơ hội hoạt
động lại. Khi
tung tích bị lộ
anh Tài kịp thời
đào thoát sang
Cam Bốt xin tỵ
nạn chính trị.
Xin giới thiệu
với quư độc giả
trang KBC và các
chiến hữu những
hồi ức tưởng
niệm các đồng
đội của anh đă
hy sinh v́ lư
tuởng Tự do, Dân
chủ.

*
Thù nhà nợ nuớc
trả chưa xong
Ngày tháng thoi
đưa măi nặng
ḷng
Uất hận quê nhà
bao tiếng khóc
Căm thù giặc
Cộng phải lưu
vong
…
Cho chúng tôi
trăm ngàn cây
súng
Muôn ḷng như
một, mối thù
chung
Quyết trở về một
phen sống mái
Diệt loài Cộng
phỉ, lũ tàn hung
…
(Kính
dâng anh linh
những chiến hữu
đă nằm xuống
trên núi rừng
Đơn Dương)

Trong căn pḥng
cô tịch, sau khi
đọc hết quyển
“Những trận
chiến không tên
trong quân sử”
mà nguời bạn mới
quen tận tay
trao tặng, tôi
hai tay ôm chặt
quyển sách vào
long như ôm cả
quê hương miền
Nam thân yêu,
tưởng như anh
linh và h́nh
bóng của các
Tướng, Tá, Úy,
Sĩ năm xưa cũng
phảng phất quanh
đây. Tôi miên
man nghĩ đến
những người đă
v́ Tự do, Dân
chủ, Công bằng
yên vui của quê
huơng, đồng bào
đă “Vị quốc vong
thân” hay bị đày
đọa trong ngục
tù. Cộng sản từ
Nam chí Bắc …
những người đă
tự xử để bảo
toàn danh tiết,
hoặc những người
sau khi từ “địa
ngục trần gian”
trở về đă lại
mưu t́m chiến
hữu, lập kế
hoạch phục quốc
nhưng một lần
nữa sa cơ, gánh
chịu them bản án
12 năm tù khổ
sai ở Z30A Đồng
Nai … Và tôi
không khỏi nhớ
đến các chiến
hữu thân yêu của
tôi trong Tiểu
đoàn Lê Lợi,
Trung đoàn 8,
Binh đoàn 2 Chí
nguyện quân Đông
Dương. Những
ḍng chữ này xin
được thay cho
nén hương tuởng
nhớ đến anh linh
các anh …

*
Họ là những sĩ
quan, hạ sĩ quan
QLVNCH đầu năm
1976 đă trốn
khỏi nhà tù Don
Bosco ở Phát
Chi, Trạm Hành
thuộc quận Đơn
Dương , tỉnh
Tuyên Đức để
cùng với những
trai tráng,
người dân yêu
nước ở làng Lạc
Lâm, quận Đơn
Dương đứng lên
cầm súng vào
rừng lập chiến
khu chống lại sự
chiếm đóng của
Cộng sản Bắc
Việt. Họ là
những quân nhân
thuộc đủ mọi
binh chủng khác
nhau, từ Trinh
sát Tiểu khu An
Xuyên, Thuỷ quân
lục chiến, Nhảy
dù, Biệt động
quân, Chiến
tranh chính trị,
hay Bộ binh, Địa
phương quân,
Nghĩa quân … Họ
đă đụng độ nhiều
trận máu lửa với
bộ đội Trung
đoàn 22 VC (E
22) như trận
M’rang, Dom,
B’Kan, Đồi pháo
binh, hồ Con
ruà,La Boui và
Sông Pha. Trong
số những trận
giao chiến với E
22 VC th́ trận
đánh B’Kan là
đáng nhắc tới
hơn cả, dù trận
này không lớn,
tổn thất nhân
mạng hai bên
không nhiều như
các trận La Boui
và hồ Con ruà,
nhưng v́ trận
B’Kan biểu lộ
hết sự dă man,
vô nhân đạo,
không lương tri
của Việt Cộng
khi chúng lùa
thân nhân ruột
thịt của những
nguời chống lại
chúng ra làm bia
đỡ đạn, và sau
đó những người
chết không được
chôn cất tử tế.
B’Kan là một
làng Thượng nhỏ
cách quận lỵ Đơn
Dương chừng 6 –
7 km, và cách
quốc lộ 20 chừng
3 km, nằm sát
chân núi Chabou,
một nhánh của
dăy Trường Sơn,
phân giới của
quận Đơn Dương,
Đà Lạt và Sông
Pha, Phan Rang.
Cách làng B’Kan
chừng 1 cây số
có 1 hầm đá ăn
sâu vào trong
núi, nh́n bao
quát từ bên
ngoài th́ chỉ là
một số phiến đá
lớn nhỏ nằm
chồng chất ở
chân núi, ẩn
hiện trong đám
cây cối không
mấy rậm rạp,
không ai ngờ đó
lại là 1 căn hầm
đá có thể chứa
được khoảng 10
nguời. Đó cũng
là nhờ công của
anh em nguời
Thượng khám phá
ra, đưa chúng
tôi vào ẩn núp
và dùng nơi đây
như một trạm
liên lạc. Lối đi
trong hang lên
xuống ngoắt
ngoéo, có chỗ
hẹp phải ép sát
bụng, hai tay
bám vào đá lần
ḍ từng buớc
hoặc đi lom khom.
Trong hầm có chỗ
tối lờ mờ, càng
vào sâu càng tối.
Chỉ có một lối
duy nhất từ
ngoài cửa hầm
lên hầm chính,
rồi từ hầm chính
mới có lối lên
nóc hầm; trấn
giữ được
conđường này th́
Việt cộng không
thể nào tấn công
được. Thoạt đầu
chúng tôi phải
dùng đến địa bàn
và đèn pin đểdi
chuyển, sau quen
dần với khoảng
cách và cảnh vật
nên chúng tôi có
thể sờ ven vào
đá để di chuyển
tương đối dễ
dàng. Vào một
buổi sáng sớm
đầu tháng Năm
1977, chúng tôi
bật dậy v́ hàng
loạt đạn nổ liên
hồi trên nóc hầm,
chỗ mà Sùng (bí
danh Sony) đang
canh gác.
Ai cũng vội vă
vơ vũ khí và
nghe Sùng thông
báo th́ thào qua
hơi thở “VC tấn
công”. Chúng tôi
vội leo lên khỏi
hầm để vào vị
trí chiến đấu,
nhưng chưa ổn
định xong th́
bỗng có một
tiếng nổ lớn
kinh hoàng chưa
bao giờ nghe
ngay cửa hầm.
Tôi vội vă bịt
hai tai, máu
huyết trong
người nhộn nhạo
làm muốn ói.
..
Miểng đạn và đá
vỡ vụn bay rào
rào, và nhiều
tiếng nổ dồn dập
liên tục, gây áp
lực nặng nề làm
chúng tôi dường
như muốn bất
tỉnh sau mỗi
tiếng nổ (tôi
đoán có lẽ là
đạn B40 bắn vào).
Sau một loạt
tiếng nổ lớn là
hàng tràng súng
nhỏ bắn loạn xạ
trong hầm. Lúc
này th́ anh em
chúng tôi cũng
đă cố gắng lần
ṃ vào hết vị
trí chiến đấu v́
sợ nếu để VC lọt
vào và t́m được
lối leo lên
quăng lựu đạn
xuống hầm th́
chúng tôi chết
hết.
Khi chúng tôi đă
lên được trên
hầm th́ trong
của hầm chật hẹp,
B40 mất tác dụng
v́ xạ thủ không
thể nào chĩa
sung bắn lên,
bởi sức phụt hậu
dội vào đá sẽ
khiến xạ thủ bị
thương hoặc có
thể chết được.
Sùng (Sony) lúc
này không thấy
xuống, có lẽ anh
đă chết ngay
loạt đạn đầu
tiên trên nóc
hầm! Lúc đó có
nhiều tiếng vật
cứng va chạm vào
đá vang lên
trong bóng tối,
có lẽ là VC lần
ṃ t́m đường!
Chúng tôi quăng
lựu đạn xuống
cửa hầm, lửa nhá
lên cùng tiếng
nổ hoà lẫn những
tiếng kêu thảm
thiết của nguời
bị thuơng, sau
đó là im bặt.
Yên lặng được
vài phút hàng
loạt đạn của VC
bắn xối xả trong
hầm. Chúng bắn
liên tục hết đợt
này đến đợt khác,
có lẽ chúng bắn
như vậy để lôi
đồng đội chết
hoặc bị thuơng
ra. Chúng tôi
chịu không thể
nhoài nguời ra
để ném lựu đạn
theo v́ sợ trúng
đạn chúng đang
bắn lien thanh
như mưa rào. Hơn
nữa số vũ khí
của chúng tôi
quá hạn chế (tổng
cộng chỉ có mỗi
nguời vài quả
lựu đạn, cùng 3
khẩu M16 và 1
khầu Colt 45 do
Sùng giữ. Khẩu M
16 của tôi Sùng
xách lên nóc hầm
canh gác, có lẽ
đă bị VC tịch
thu sau cái chết
của anh).
Tiếp theo đó là
1 sự yên lặng
khủng khiếp!
Chúng tôi lắng
tai nghe ngóng
từng âm thanh,
căng mắt cố quan
sát kỹ cửa hầm
và lối dẫn lên
nóc hầm. Thật sự
muốn phá được
căn hầm này
không phải
chuyện dễ, chắc
chắn VC phải
dùng đến rất
nhiều thuốc nổ
và phải mất
nhiều ngày,
trong khi đó th́
lối đi ngoắt
ngoéo, trong hầm
lúc nào cũng tối
mờ mờ, có chỗ
tối đen như mực
nên VC không dám
liều lĩnh tấn
công nên chúng
tôi chỉ có thể
chết v́ đói nếu
bị vây hăm lâu
ngày. V́ thế VC
ngưng tấn công
bắt đầu bắc loa
kêu chúng tôi ra
hàng với giọng
điệu lừa phỉnh
“để được hưởng
khoan hồng, về
doàn tụ với gia
đ́nh …”. Nhưng
khi không thấy
có động tĩnh ǵ,
chúng bắt đầu
buôn gnhững lời
doạ dẫm kèm theo
tiếng chửi ruả …
Chửi xong, bỗng
lại có những
tiếng nổ lớn ở
nóc hầm kèm theo
nhiều loạt súng
nhỏ: VC t́m cách
tấn công từ trên
xuống! Kỳ (Kilo)
rón rén lần theo
đá đi lên lối
dẫn lên nóc
hầmđể ngăn chặn
nếu VC t́m cách
ṃ xuống. Anh ở
cách chúng tôi
không xa, ám
hiệu nhận nhau
vẫn là tiếng
huưt sáo nho
nhỏ. Lại có
tiếng nổ lớn và
hàng loạt AK kèm
theo, Kỳ bén
chĩa súng bắn
vài loạt ngắn về
phiá truớc cảnh
cáo bọn VC đừng
dại dột liều
lĩnh t́m cách
xuống. Có lẽ VC
cũng biết điều
ấy nên sau những
loạt đạn lại có
tiếng kêu đầu
hàng từ nóc hầm
vọng xuống, rồi
lại hàng loạt
lời lẽ thô tục
được tuôn ra.
Đến đây th́
chúng tôi bắt
đầu đấu vơ mồm
với bọn VC và
ḷng tự tin, can
đảm tăng dần lên
sau cuộc đấu vơ
mồm này.
Trời tối dần, Kỳ
(Kilo) lần ṃ
t́m chỗ gài lựu
đạn đề pḥng đêm
khuya bọn chuột
VC ṃ xuống,
xong anh báo cho
chúng tôi biết
chỗ có lựu đạn
gài. Tôi ṃ
xuống căn hầm
chính, chui
xuống khe đá lấy
đầy 3 bi đông
nuớc và mang
theo túi gạo lên
hầm. Sau khi bàn
bạc cho kế hoạch
dự trù cho đêm
nay, chúng tôi
mỗi nguời tự đọc
kinhcầu nguyện
Thiên Chuá che
chở ban cho bằng
an và cũng không
quên cầu cho
linh hồn nguời
bạn Sùng mà Chuá
đă gọi về buổi
sáng nay! Rồi
trong yên lặng
chúng tôi chia
phiên nhau gác
và lấy gạo ra ăn
để lấy sức cầm
cự!
*
Sang ngày thứ
hai th́ chúng
tôi kinh hoàng
lo lắng bởi v́
không c̣n nghe
những tiếng nổ
của B40 hay AK ,
lựu đạn từ cửa
hầm vọng vào nữa
mà thay vào đó
là tiếng của
nguời than chúng
tôi bên ngoài
đang vọng vào
kêu gọi chúng
tôi hăy ra đầu
hàng! VC bắt
từng gia đ́nh
một nhoài người
qua tảng đá nh́n
xuống cửa hầm
lên tiếng gọi
nguời thân. Lúc
đó tiếng nguời
cô ruột của tôi
vang lên , tiếng
cô trong nuớc
mắt gọi vọng từ
ngoài vào cửa
hầm. Ḷng tôi
quặn thắt đau
đớn, tôi chụp
khẩu súng M16
của Nghĩa (tự
Negro) chĩa vào
tảng đá ngay
truớc mặt nằm ở
duới bắn một
loạt ngắn, mục
đích là để
khuyến cáo gia
đ́nh đừng vào,
v́ nhất định nếu
gia đ́nh thân
nhân chúng tôi
v́ sức ép của VC
mà vào trong hầm
th́ sẽ thật là
một thảm họa
kinh hoàng chưa
từng có! Lúc ấy
bỗng có tiếng
nguời huyên náo
ở ngoài phản đối
VC dùng nguời
thân của chúng
tôi làm bia đỡ
đạn cho chúng!
Lại có tiếng
thách thức VC
“các anh vào mà
bắt, các anh đă
từng đánh thắng
đến 2 đế quốc
đầu sỏ, đă đánh
cho Mỹ cút Ngụy
nhào thế mà bây
giờ chỉ có vài
thằng phản động
mà các anh lại
phải dùng đến
nguời thân làm
bia đỡ đạn à?”
Ngay sau đó là
những tiếng gào
khóc phản đối v́
bọn VC đánh
nguời, đẩy nguời
vào chỗ chết!
Theo dơi diễn
biến bên ngoài,
chúng tôi thấy
thuơng xót cho
gia đ́nh quá!
Bất chấp hiểm
nguy họ đă dung
xác thân và
miệng lưỡi cố
kéo dài thời
gian để cho
nguời thân là
chúng tôi được
sống. Có lẽ trời
đă quá trưa.
Tiếng căi cọ,
tiếng kêu gọi
chúng tôi ra đầu
hang rời rạc và
thưa thớt dần,
sau đó lại là
một sự yên lặng
bao phủ. Chúng
tôi tự hỏi
“chuyện ǵ sẽ
xảy ra tiếp theo
nữa đây?” Chúng
tôi như những
con thú bị săn
đuổi và nay bị
vây ở buớc đường
cùng. Tuy nhiên
chúng tôi tự nhủ
“không thể chết!
chúng tôi phải
sống và không
c̣n con đường
nào khác ngoài
việc phải thoát
khỏi căn hầm này
trong đêm nay!
Trong cái chết
có cái sống, mặc
dù sự sống rất
mong manh nhưng
chúng tôi không
có quyền tự xử
v́ thân xác này
là của trời đất,
nhất là chúng
tôi không đủ can
đảm tự kết liễu
đời ḿnh v́ long
ai cũng vẫn khao
khát sống, vẫn
c̣n nhiều hy
vọng dù phải
nhận thực là hy
vọng cũng rất
mỏng manh! Đă 2
ngày qua chúng
tôi nguời nào
cũng cầu nguyện
xin Chuá ban cho
bằng an và giờ
đây, những giờ
phút sắp tới
chúng tôi nghĩ
có thể là giờ
phút cuối cùng
của đời người,
chúng tôi thầm
th́ dọn ḿnh xin
Chuá tha thứ cho
tất cả những lỗi
lầm đă phạm và
cầu xin được ơn
che chở! Rồi
chúng tôi dơi
mắt chăm chú
nh́n xuống cửa
hầm, tai vểnh
lên nghe ngóng,
Kỳ th́ rón rén
lần ṃ men theo
những phiến đá
đi gỡ những trái
lựu đạn đă gài
hôm qua. Trời
lúc này có lẽ đă
khuya lắm rồi,
chúng tôi cùng
nắm tay nhau như
một lời khuyến
khích cùng can
đảm lên, cầu
chúc cho nhau
được b́nh yên.
Kỳ (Kilo) xuống
cửa hầm truớc ,
Nghĩa trao cho
tôi khẩu M16
cùng mấy băng
đạn và lấy lại
khẩu Colt 45 (của
Sùng). Tôi không
nhận nhưng anh
nhất định đẩy
vào tay tôi. Nắm
chặt súng, trong
tư thế sẵn sàng
yểm trợ cho Kỳ,
tôi nghe tiếng
rơ tiếng tim đập
th́nh thịch
trong lồng ngực
ḿnh,(thậm chí
chúng tôi dường
như có thể nghe
được cả tiếng
nuốt nuớc miếng
của nhau)… Hơi
thở dồn dập,
trời không lạnh
mà sao run run,
tay lại uớt nhờn
mồ hôi … Có
tiếng huưt sáo
khe khẽ ở cửa
hầm vọng lên,
chúng tôi từng
buớc bám theo đá
lần ṃ đi xuống
cửa hầm … miệng
khô khốc, hơi
thở đứt quăng,
dán nguời vào đá
lần đi từng buớc
cố gắng không để
gây nên một
tiếng động … Khi
đă gặp nhau ở
cửa hầm, chúng
tôi yên lặng
quan sát kỹ phiá
trước mặt và hai
bên ngoài cửa
hầm … cố vận
dụng mọi giác
quan đến mức tối
đa . Ở bên ngoài,
cách không xa có
nhiều đốm lửa
được đốt lên
theo h́nh cánh
cung, cứ khoảng
chừng 50, 60 m
một đống lửa .
V́ thế cả một
vùng trời rực
sang màu lửa đỏ
trông rợn người
… nh́nquanh
không thấy bóng
nguời nhưng
chúng tôi đoán,
huớng đối diện
của hầm, trong
khoảng tối đen
ng̣m đó có một
toán VC đang
phục kích chờ
đợi bắt sống
chúng tôi! Hít
một hơi dá, đưa
tay làm dấu
thánh giá trên
ḿnh xong, thu
hết can đảm, nép
vào bên phải cửa
hầm, chúng tôi
lần lượt nối gót
theo Kỳ chạy lom
khom núp vào
những phiến đá
và các lùm cây
với ư định mở
đường máu chạy
lên núi. Và ngay
khi đó, hàng
loạt AK xen kẽ
M79 thi nhau nổ
từ nhiều huớng
đổ xuống chúng
tôi! Dội nguợc
trở lại, theo
phản ứng tự
nhiên, chúng tôi
nhào về phiá
không có đạn nổ,
vượt qua một con
lạch cạn rộng
chừng 1 thuớc.
Tôi trượt chân
té xuống con
lạch, nghe tiếng
đạn nổ như mưa,
tiếng hô xung
phong của VC, và
lẻ loi có tiếng
kêu Chuá ơi của
Nghĩa (Negro)!
Lúc đó có tiếng
súng của Kỳ bắn
từng loạt chặn
buớc tiến công
của VC, cùng
tiếng anh hô
“chạy đi, theo
tao”. Tôi rút
chốt trái lựu
đạnh, định vung
tay ném về huớng
bọn VC th́ một
tiếng nổ lớn
trên bờ, gần con
lạch chỗ tôi bị
té. Lấy hết sức
b́nh sinh tôi
ném quả lựu đạn
về hướng VC, mắt
chợt nh́n thấy
Nghĩa đang nằm
bất động cách
con lạch chừng
2m. Tôi vọt lên
khỏi lạch vừa
chạy vừa bắn về
đống lửa bên tay
trái cách tôi
không xa. Tôi
chạy về huớng
trước mặt vài
chục mét rồi
quẹo ngay sang
trái v́ sợ phục
kích, ném thêm
một trái lựu đạn
nữa nguợc về
phiá sau và băng
ḿnh vào các lùm
cây thưa thớt
lẫn trong màn
đêm để thoát
thân …
Mấy ngày sau
chúng tôi được
tin Thiếu uư
Đinh Chính Nghĩa
đă tử thuơng
thân thể không
toàn vẹn. Ngoài
những vết đạn lỗ
chỗ trên người,
đầu anh nát bét
v́ bị sức công
phá của trái lựu
đạn anh cầm trên
tay khi gục ngă!
Bọn CS địa
phuơng bắt gia
đ́nh chị Sương
nhận xác anh
Nghĩa về chôn,
Bất chấp chị
phản đối rằng
nếu đó là xác
anh Sương th́
phải có một cái
bướu bằng quả ổi
nằm ngay eo, bên
hông trái phiá
sau lưng, chúng
vẫn khăng khăng
bắt chị nhận đem
chôn!
(Tiếp
theo kỳ sau)
NHỮNG HIỂM HỌA TIỀM TÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN TẠI CAM BỐT
Tango Ngô Văn Tài
Tác giả Ngô Văn Tài
Từ sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu người Việt nam đă bỏ nước ra đi t́m tự do bằng đường thủy, đường bộ, và bằng tất cả mọi phương tiện mà họ có thể có được. Cái giá của tự do dân chủ mà người dân Việt mất nước phải đánh đổi là chính tài sản và tính mạng của họ và gia đ́nh. Tất nhiên để có được khoảng 3 triệu người Việt đến được bến bờ tự do, th́ cũng có xấp xỉ con số đó, gồm cả phụ nữ và trẻ em, đă phải vĩnh viễn nằm lại đâu đó trên hành tŕnh đi t́m tự do đó mà mối hiểm họa đến từ nhiều phía: sự truy sát của công an biên pḥng và hải tuần của cộng sản Việt nam, băo tố phong ba, hải tặc cướp giết.
Kể từ sau tháng 4 năm 1989, khi Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) không c̣n công nhận thuyền nhân Việt nam là những người tỵ nạn chính trị nữa, th́ chính phủ CSVN càng mạnh tay hơn trong các chiến dịch đàn áp các tổ chức tôn giáo, các chức sắc tôn giáo, những nhà bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ và cả các sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên khi họ đ̣i quyền được tự do tín ngưỡng, được tự do bày tỏ chính kiến và được quyền sở hữu đất đai mà tổ tiên họ để lại. Hệ quả của những cuộc đàn áp mạnh tay này là một làn sóng vượt biên bằng đường bộ của những nạn nhân là người Thượng cũng như người Kinh bất đồng chính kiến lại ra đời: Hàng ngàn người lại rời bỏ tổ quốc, vượt biên giới sang Cam bốt, đến văn pḥng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại đây để xin được quốc tế bảo vệ.

Bởi không thể ngăn chặn được tất cả những người dám đối diện với cái chết để đi t́m quyền được sống này, chính quyền cộng sản Việt nam đă phải xây dựng một hệ thống t́nh báo ngoại tuyến và cài cắm sang Cam bốt những nhân viên mật vụ máu lạnh để theo dơi, để gây ly gián và để thực hiện những những cuộc bắt cóc, truy sát đối với những người tỵ nạn là những nhà bất đồng chính kiến, những nhà đối lập chính trị dám tiếp tục lên án và tố cáo tội ác của chế độ bạo quyền cộng sản Việt nam. Những tên t́nh báo này và hệ thống chân rết của chúng trên đất nước Chùa tháp chính là mối hiểm họa tiềm tàng của những người Việt tỵ nạn cộng sản tại đây. Tuy nhiên do nghiệp vụ t́nh báo siêu việt cũng như sự lưu manh xảo quyệt vốn có của những tên cộng sản, mà những nạn nhân của chúng khó nhận diện được chúng là những tên t́nh báo cộng sản máu lạnh. Và cứ thế, hết thế hệ người tỵ nạn này đến thế hệ người tỵ nạn khác tiếp tục là những nạn nhân bi thảm của chúng, mà ngay cả một số người Việt đang định cư ở nước ngoài đang ủng hộ phong trào dân chủ quốc nội cũng từng bị lung lạc, lừa bịp bởi những tên t́nh báo cộng sản này, để rồi nhiều cá nhân, nhiều tổ chức đă quay lưng với các phong trào dân chủ này. Tuy nhiên, chúng tôi không có ư chỉ trích những cá nhân, những tổ chức của người Việt hải ngoại đă rơi vào kế ly gián của những tên t́nh báo cộng sản đang hoạt động tại Cam Bốt đă bỏ rơi những nạn nhân của chế độ cộng sản, hoặc quay lưng với công cuộc đấu tranh của họ, mà chúng tôi chỉ xin được tŕnh bày những điều mắt thấy tai nghe về những tên t́nh báo cộng sản khát máu này, bởi bản thân tôi cũng từng là một nạn nhân của nó, mà nếu không có quyền năng của Chúa th́ có lẽ tôi cũng đă trở thành mồi ngon cho cá sấu trong một trang trại cá sấu của Bộ Nội Vụ Cam Bốt và cơ quan t́nh báo CSVN nuôi tại Nam Vang để thủ tiêu những người Việt tỵ nạn là những nhà chính trị đối kháng như lời đe dọa của một trong những tên t́nh báo cộng sản đă len lỏi được vào cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng tôi. Với mong muốn thật nhỏ nhoi là cảnh báo cho những người Việt đang tỵ nạn tại Cam bốt cũng như những nhà bất đồng chính kiến, những nhà dân chủ trẻ trong nước biết những “vùng báo động đỏ hiểm nghèo” tại Cam bốt để có thể tránh né, nếu t́nh thế bắt buộc phải đào thoát sang đó lánh nạn cộng sản.
Tôi tên là Ngô Văn Tài, sinh năm 1948 tại Hải Dương, Bắc phần Việt nam. Năm 1954 tôi theo gia đ́nh di cư vào Nam để tránh họa cộng sản.
Năm 1970, tôi nhập ngũ, tùng sự tại toán Tây Sơn thuộc Chiến Đoàn 1 Lôi Hổ, đồn trú tại Non Nước, Đà Nẵng. Năm 1975 sau khi cộng quân Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam, cùng một số chiến hữu chúng tôi tham gia lực lượng Liên Bang Chí Nguyện Quân Đông Dương tiếp tục kháng cộng cứu quốc cho đến khi lực lượng bị tan ră, chúng tôi lại tiếp tục sát nhập với lực lượng FULRO tại khu vực M’ Răng để tiếp tục cuộc kháng cộng cứu nguy dân tộc. Đến năm 1978 sau những trận đánh không cân sức do thiếu cả nhân lực và vũ khí, lực lượng của chúng tôi và FULRO cũng hoàn toàn bị tan ră, phần lớn chiến hữu của chúng tôi đă hy sinh, một số rất nhỏ vượt thoát được đến rừng núi thuộc Đông-Bắc Cam Bốt lẫn trốn, số c̣n lại bị bắt, bị án chung thân hoặc tử h́nh. Tôi lại may mắn cùng một số chiến hữu cùng án chung thân vượt ngục thành công từ trại tù Đại B́nh vào cuối năm 1978 và sống ngoài ṿng pháp luật, sống lưu vong trên chính tổ quốc của ḿnh suốt gần 30 năm qua trong thân phận của những con người không gia đ́nh không tổ quốc. Đến tháng 8 năm 2006 khi một số chiến hữu của tôi bị lộ diện, bị bắt giam và qua những thông tin mà lực lượng an ninh của CSVN thu thập được sau các cuộc tra tấn nhục h́nh các chiến hữu của tôi, th́ nhân thân của tôi cũng bị bại lộ. Các lực lượng an ninh của bộ công an CSVN bắt đầu các chiến dịch truy quét làng quê của tôi tại Lạc Lâm, Đơn Dương, Tuyên Đức đồng thời cũng triền miên xách nhiễu mẹ già cùng những người họ hàng thân thuộc của tôi để mong tôi sẽ bị yếu ḷng mà ra đầu thú, đầu hàng cộng sản, nên tôi phải t́m đường sang Cam Bốt lánh nạn.

Tại Cam Bốt, tôi đă đến tŕnh diện với văn pḥng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) để xin được bảo vệ bởi tôi đang đối mặt với sự truy sát của các lực lượng an ninh của CSVN. Nhưng than ôi, thật là họa vô đơn chí! Vào thời gian này Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại Cam Bốt đang trong giai đoạn chuyển giao quyền phỏng vấn, xem xét và cấp quy chế tỵ nạn cho Bộ Nội Vụ Cam Bốt đảm trách, mà bộ nội vụ của chính phủ Cam bốt thực chất chỉ là một cơ quan an ninh ngoại vi của chính phủ cộng sản Việt nam, cho nên sau vài lần được các nhân viên người Khmer gốc Bắc Việt công tác tại Bộ Nội Vụ của Cam bốt phỏng vấn th́ tôi đă bị từ chối quy chế tỵ nạn chính trị với lư do là là tôi không có giấy chứng nhận đă từng bị tù đày hay bất cứ một loại giấy tờ tùy thân nào do CSVN cấp phát cả. Đến lúc này, tôi mới phát hiện ra là tôi đă tự chui vào cái bẫy giết người do Bộ Nội vụ Cam bốt cùng chính phủ CSVN áp lực lên Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) tại đây, giăng ra để bắt giết những người bất cộng đái thiên với cộng sản đang sống ngoài ṿng pháp luật như tôi. Quá tuyệt vọng v́ đang ở vào t́nh thế tấn thối lưỡng nan, tôi t́m đến một Hội Thánh Tin Lành của người Việt tỵ nạn tại Phnom Penh để xin tá túc và tôi đă nhận được sự giúp đỡ của Hội Thánh cũng như sự che chở đùm bọc của lănh đạo Hội Thánh và của các anh em tín hữu ở đây, cũng là người cùng cảnh ngộ. Chính tại nơi đây tôi có điều kiện gặp gỡ nhiều người tỵ nạn cộng sản khác và cũng chính từ nơi đây mà tôi cũng được mở mắt ra để biết thêm về cái thế giới tỵ nạn cộng sản tại Cam bốt sao mà nghiệt ngă và phức tạp đến thế! Chính cái thế giới tỵ nạn nhỏ bé này đă dẫn dắt tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, càng t́m hiểu về nó tôi càng bàng hoàng càng sững sốt, nhưng có lẽ điều mà tôi ngạc nhiên và sững sốt nhiều hơn cả là bên cạnh những gia đ́nh người tỵ nạn sống nheo nhóc, nhếch nhác, chen chúc trong những căn pḥng chật hẹp, u tối và bẩn thỉu với những kiếp đời tối tăm, không định hướng, không tương lai, với từng ngày sống áo chẳng đủ lành, cơm chẳng đủ no, th́ lại tồn tại một người tỵ nạn khác rất quyền uy, rất quư tộc, rất đế vương, sở hữu cả súng ngắn, súng dài, sở hữu cả xe hơi đời mới TOYOTA 4RUNNER và sở hữu cả một ṭa biệt thự nguy nga đồ sộ có tường cao hào sâu để bảo vệ: Đó là một người tỵ nạn mang tên Nguyễn Công Cẩm.
Nhưng rồi điều ngạc nhiên đó đă được sáng tỏ khi vào một ngày cuối tháng Ba năm 2007, khoảng 3 ngày sau khi tôi nhận được quyết định từ chối tư cách tỵ nạn của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Của Liên Hiệp Quốc tại Cam bốt, th́ Nguyễn Công Cẩm đến t́m gặp tôi tại Hội thánh nơi tôi đang tạm trú, anh ta gọi tôi ra một nơi vắng, không xa Hội Thánh mấy, để bắt đầu câu chuyện. Cẩm đă giới thiệu với tôi rằng ngoài quân hàm trung tá mà anh ta đang mang của ngành an ninh thuộc hoàng gia Cam Bốt, th́ bản thân anh ta là sỹ quan t́nh báo thuộc tổng cục an ninh của Bộ Công An Việt nam, rằng cơ quan an ninh của Việt nam đă theo dơi và biết rất rơ những hoạt động chống cộng của tôi từ lâu.

Họ cũng biết rất rơ là tôi đă sang Cam Bốt xin tỵ nạn và đă bị từ chối tư cách tỵ nạn, rằng sinh mạng của tôi đang nằm trong tay của cơ quan an ninh Việt nam mà đại diện cho cơ quan này tại đây chính là Nguyễn Công Cẩm; rằng anh ta có thể bắt tôi để giải giao về Việt nam bất cứ lúc nào anh ta muốn. Tuy nhiên “để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của đảng và nhà nước, chỉ đánh người chạy đi, chứ không đánh người chạy lại”, cơ quan an ninh của Việt nam muốn mở cho tôi một con đường sống, đó là tôi phải hợp tác với cơ quan an ninh Việt Nam, làm ăng-ten cho anh ta, theo dơi mọi hoạt động của hội thánh nơi tôi đang ở, theo dơi mọi hoạt động của mục sư quản nhiệm, của ban chấp sự Hội thánh và của cả những người tỵ nạn Việt nam thường tới lui Hội Thánh, cũng như những mối quan hệ của Mục sư với bất cứ ai… tôi đều phải ghi nhận và báo cáo hàng tuần cho anh ta… Với thời gian làm việc cho anh ta là ba năm, sau đó bản thân anh ta và cơ quan của anh ta sẽ can thiệp với cơ quan pháp luật của Việt nam để họ chỉ xử án tôi 1 năm tù, và sau 1 năm tù ở th́ tôi sẽ được trả tự do… Nếu tôi chấp nhận việc móc nối của anh ta, th́ anh ta sẽ sắp xếp cho tôi được gặp cấp trên của anh ta. Để khủng bố tinh thần của tôi, ḥng khiến tôi phải chấp nhận sự móc nối này, Nguyễn Công Cẩm đă không ngần ngại nói cho tôi biết rằng, trong thời gian vừa qua, có nhiều người Việt tỵ nạn tại Cam bốt đă từng bị bắt cóc dẫn độ về Việt nam chịu án, chắc với tuổi đời và sự từng trải như tôi th́ tôi phải hiểu ai là tác giả của những vụ bắt cóc đó…
Không cần suy nghĩ ǵ thêm, tôi đă thẳng thắn trả lời với Nguyễn Công Cẩm rằng chống cộng để thủ tiêu chế độ cộng sản trên quê hương Việt nam là mục tiêu duy nhất của đời tôi và nhiều chiến hữu của tôi đă bỏ ḿnh v́ mục tiêu đó, nên tôi thà chết chứ không bao giờ phản bội lư tưởng của ḿnh, không bao giờ phản bội lại những chiến hữu của ḿnh. Vô cùng bất ngờ và tức giận trước câu trả lời của tôi, nhưng Nguyễn Công Cẩm cố giữ b́nh tĩnh, dặn ḍ tôi rằng anh ta nghiêm cấm tôi không được tiết lộ với ai rằng anh ta là sỹ quan an ninh của Việt nam cũng như tuyệt đối không được tiết lộ với ai về việc móc nối bất thành đó… rồi anh ta ra về. Tôi biết rằng, từ đây, Nguyễn Công Cẩm sẵn sàng thủ tiêu tôi vào bất cứ lúc nào để bịt đầu mối, nên liên tiếp những chuổi ngày sau đó tôi luôn sống trong tâm trạng âu lo triền miên. Dù vậy v́ muốn bảo vệ an toàn tính mạng cho những người Việt tỵ nạn khác, tôi đă không ngần ngại tiết lộ cho họ biết Nguyễn Công Cẩm là ai để họ có biện pháp pḥng tránh cho bản than. Thật đáng tiếc thay, một số nhà dân chủ trẻ khi đến Cam Bốt lánh nạn, dù đă nhận được lời cảnh báo của tôi rồi, nhưng do ḷng hiếu thắng và khinh xuất của tuổi trẻ mà họ phải lâm nạn như trường hợp của nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ. Một số nhà dân chủ trẻ khác, trong một cuộc “đại yến” chia tay với “anh Cẩm”, để lên đường đi định cư ở Hoa kỳ, thậm chí c̣n mách lại với Nguyễn Công Cẩm rằng: “Chú Tài và mục sư Lũy nói với em rằng anh Cẩm là sỹ quan an ninh của cộng sản, nhưng em không tin đâu, em chỉ ước mong tất cả mọi người cộng sản đều tốt như anh vậy để dânViệt ḿnh đỡ khổ, mà bản thân em cũng khỏi phải đi tỵ nạn như thế này”. Than ôi! Trung ngôn nghịch nhĩ! Trung ngôn nghịch nhĩ! Vi nhân nan! Vi nhân nan! Làm người sao khó quá! Chỉ v́ ḷng yêu thương, chỉ v́ muốn che chở bảo vệ cho những chiến sỹ dân chủ trẻ mà tôi đă chuốc vạ vào thân! Không lâu sau khi nhà dân chủ trẻ này tiết lộ điều này với Nguyễn Công Cẩm th́ anh ta đă đến nơi tôi đang trú ngụ gặp tôi, đưa cho tôi một gói cà phê bột và nói rằng thấy tôi không có việc làm, không có thu nhập, chắc là đời sống vật chất khó khăn lắm, nên Cẩm muốn giúp tôi có nguồn thu nhập bằng cách đưa tôi vào rừng đào cây kiểng cho anh ta, bù lại anh ta sẽ nuôi cơm tôi và trả công cho tôi thật bội hậu.

Nguyễn Công Cẩm là người sinh tại huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Tất cả mọi người ở Cam Bốt đều biết anh ta với tên CẨM và gọi theo tên NGUYỄN CÔNG CẨM, kể cả vợ con của anh ta. Nhưng trong giấy tờ do UNHCR cấp th́ anh ta mang tên NGUYỄN CẨM CÔNG và sinh tại Sài G̣n. Ngoài ra trong quân đội Hoàng gia Cam Bốt th́ Nguyễn Công Cẩm lại mang tên LY HENG.
Tôi hiểu được rằng ngày tôi phải trả giá cho ḷng căm thù cộng sản của tôi đang đến rất gần nên tôi đă phải giả vờ ốm nặng không thể đi lao động được, để tŕ hoăn và t́m kế thoát thân.
Và thừa lúc cuộc xung đột biên giới Thái-Miên nổ ra cả bộ nội vụ Cam Bốt lẫn Nguyễn Công Cẩm bị lôi vào những công tác liên quan đến cuộc xung đột này, tôi đă bí mật rời khỏi Cam Bốt, đến một nước láng giềng, vào ṭa đại sứ của một quốc gia phương Tây xin tỵ nạn. Với sự giúp đở của các chiến hữu cũ của tôi trong lực lượng Lôi Hổ, với sự can thiệp kịp thời của các tổ chức quốc tế nhân quyền, và đặc biệt là với sự giúp đở của tiến sỹ Nguyễn Đ́nh Thắng, giám đốc điều hành của tổ chức cứu người vượt biển Boatpeople SOS, hồ sơ tái định cư ở đệ tam quốc gia để đoàn tụ với gia đ́nh tôi đă hoàn tất và tôi đă đến được bến bờ tự do tại San Jose California vào ngày 4 tháng 02 năm 2010 vừa qua.
Với sự b́nh an cùng với gia đ́nh trên một dất nước tự do sau đúng 35 năm sống trong lao lư tù đày, và trốn lánh nay đây mai đó trong cảnh phải sống lưu vong trên chính tổ quốc của ḿnh, rồi lại phải lưu vong đến xứ Chùa Tháp rồi lại đến xứ Chùa Vàng sống lưu đày trong kiếp tủi nhục của một con người vô tổ quốc trong suốt 35 năm trời, nay tôi xin được ghi lại hành tŕnh đi tỵ nạn của tôi, cũng như những nghiệt ngă, những uẩn khúc trong cuộc đời tỵ nạn và những hiểm họa tiềm tàng mà người Việt tỵ nạn tại Cam Bốt đă và đang phải đối mặt từng ngày. Với ước mong những thông tin của tôi sẽ góp một phần nhỏ, như một thông báo về một “địa chỉ đỏ” vô cùng hiểm nghèo trong thế giới người Việt tỵ nạn cộng sản tại Cam Bốt mà mọi người phải biết, cần phải tránh để giảm thiểu đến mức thấp nhất những rủi ro mà trước đây thầy Thích Trí Lực, nhà đối kháng chính trị Hồ Long Đức và nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ đă phải gánh chịu, bởi nếu lại cứ chủ quan, khinh xuất, hoặc nếu không nhận diện được ai là bạn, ai là thù trong cộng đồng tỵ nạn th́ hiểm họa đến với bản thân sẽ thật khó lường!
Mùa Quốc Hận 2010
Tango Ngô Văn Tài


|
|