|
Trần Hưng Đạo: Anh Hùng Dân Tộc, Thiên Tài
Quân Sự Thế Giới
Nhân ngày tường niệm lần thứ 709 của Đức
Thánh Trần Hưng Đạo, xin ghi lại những gịng tưởng nhớ về
công ơn to lớn của Ngài đối với tổ quốc Việt Nam, và cũng là
một trong 10 danh tướng của thế giới. Nơi Ngài bao nhiêu là
bài học cho hậu thế trong công cuộc giữ nước và xâu dựng đất
nước.
HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN
QUỐC TUẤN
Đệ nhất anh hùng Dân Tộc,
Một trong Mười vị nguyên soái tài ba nhất thế giới
Trần Nhân Quyền
Vào những năm 1200, đế quốc Mông Cổ bao trùm
từ Á sang Âu. Quân Mông Cổ ba lần đem đại quân xâm lấn Đại
Việt (quốc hiệu Việt Nam thời bấy giờ) vào những năm 1258,
1285, và 1288 nhưng đều bị quân Đại Việt đánh bại. Những
chiến thắng hiển hách đó là do đại công của Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn. Năm 1984, các nhà bác học và quân sự thế
giới họp tại Luân Đôn, Anh Quốc đă đánh giá Trần Hưng Đạo là
một trong 10 nhà quân sự tài ba nhất thế giới.
|

Tượng Đức Trần Hưng Đạo ở
bến Bạch Đằng - Sài Gon |
Người đời qua bao thế hệ sùng kính Ngài phong
Thánh- Đức Thánh Trần. Nhân dân không gọi trực tiếp tên của
ngài mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức Thánh
Trần, và đền thờ của ngài có trên khắp miền đất nước, Việt
Nam Cộng Hoà trước đây tỏ ḷng tôn kính đă in h́nh Đức Thánh
Trần lên tờ giấy bạc $500. Hằng năm dân chúng khắp nơi
ngưỡng mộ làm lễ tưởng niệm vào ngày Ngài mất, ngày 20 tháng
8 âm lịch tức vào vào khoảng ngày 8 tháng 10 dương lịch hàng
năm.
Ngành Hải Quân và Hàng Hải VNCH tôn Ngài làm Thánh Tổ. Năm
nay , người Việt hải ngoại nhiều nơi làm lễ tưởng niệm Thánh
Tổ Trần Hưng Đạo – Xin ghi lại thân thế và thành tích của
Ngài để tỏ ḷng tôn kính vị anh hùng dân tộc.
Thân thế Đức Trần Hưng
Đạo:
Tên thật của Đức Trần Hưng Đạo là Trần Quốc
Tuấn, năm sinh của Ngài không rơ (có tài liệu cho rằng là
năm 1228, nhưng cũng có tài liệu cho là năm 1230, hay 1231).
Ngài sinh ra tại làng Kiếp Bạc, xă Hưng Đạo, huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương; nguyên quán của Ngài là làng Tức Mặc, huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Thân phụ của ngài là An Sinh Vương
Trần Liễu, anh ruột của vua Trần Thái Tông huư là Trần Cảnh,
vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần (1225-1258). Mẹ ngài
là Thiện Đạo Quốc Mẫu húy Nguyệt. Tháng 2, năm 1251 ngài kết
hôn với Công Chúa Nguyên Thành tức Nguyên Từ quốc mẫu sinh
được 4 trai và một gái, ngoài ra c̣n có người con gái nuôi,
- Hưng Vũ Vương
Trần Quốc Nghiễn
: vơ tướng.
- Minh Hiến Vương
Trần Quốc Uất:
vơ tướng.
- Hưng Nhượng Vương
Trần Quốc Tảng:
vơ tướng, cha vợ của
Trần Anh Tông
- Hưng Trí Vương
Trần Quốc Hiện:
vơ tướng, nhà khai khẩn đất đai.
-
Khâm Từ hoàng hậu:
vợ vua
Trần Nhân Tông
-
Anh Nguyên quận chúa:
con nuôi của Trần Hưng Đạo, vợ của danh tướng
Phạm Ngũ Lăo
Năm lên 4-5 tuổi, Trần Quốc Tuấn theo cha là
An Sinh Vương Trần Liễu (lúc đó là Khâm Minh Thái Vương) bị
đày đến Ái Châu, nơi giam cầm trọng tội. Trưởng công chúa là
Thụy Bà thương anh cả ḿnh vô tội bị đầy, bèn năn nỉ anh kế
là vua Trần Thái Tông nhận Trần Quốc Tuấn làm con đem về
Thăng Long nuôi dạy. Để tránh sự soi mói của triều đ́nh,
Trần Quốc Tuấn được công chúa Thụy Bà gửi tại chùa Phật
Quang làng
Khúc Thủy,
xă
Cự Khê,
huyện
Thanh Oai,
tỉnh
Hà Tây nhờ
trụ tŕ chùa này dạy dỗ cho tới năm ông lên 10 tuổi.
|

Miếu Thờ Đức Trần Hưng Đạo - Sài Gon |
Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn có dung mạo khôi
ngô, thông minh hơn người, học thông hiểu rộng, văn vơ song
toàn. An Sinh Vương
Trần Liễu
trước đây vốn có hiềm khích với em tức vua
Trần Thái Tông-Trần
Cảnh. V́ thế Trần Liễu mang ḷng hậm hực, t́m khắp những
người tài nghệ để dạy cho con trai Trần Quốc Tuấn mong sau
này con ḿnh phải làm vua thiên hạ. Lúc sắp mất, An Sinh
Vương Trần Liễu cầm tay con Trần Quốc Tuấn trăng trối rằng:
"Con không v́ cha mà lấy được thiên hạ, th́ cha chết dưới
suối vàng cũng không nhắm mắt được". Sự hiềm khích giữa hai
anh em Trần Liễu và Trần Cảnh là do An Sinh Vương Trần Liễu
lấy người chị ruột của vợ Trần Cảnh tức công chúa
Lư Chiêu Hoàng.
Sau này, công chúa Lư Chiêu Hoàng không có con nên năm 1237,
Trần Thủ Độ
bắt vợ của Trần Liễu lúc ấy có thai ba tháng về làm vợ Trần
Cảnh (chị thay cho em). Chính v́ lẽ đó mà Trần Liễu oán giận
Trần Cảnh. Trần Quốc Tuấn ghi điều đó trong ḷng, nhưng
không cho là phải trả hận.
Ở Đức Trần hưng Đạo có một nhân cách lớn với
một trái tim hừng hực yêu tổ quốc, yêu muôn dân, yêu giống
ṇi văn hiến Đại Việt. Nhân Cách ấy, con tim vĩ đại ấy đă
tạo nên một khí phách vượt lên những toan tính cá nhân,
những tị hiềm gia đ́nh, phe nhóm tung hoành trước binh đao
để làm nên những chiến công hiển hách bảo vệ giang sơn của
tổ quốc, bảo bọc đồng bào. Trước quân thù nhân cách và trái
tim của Ngài là ngọn đuốc soi sáng tuệ minh, ḷng dũng cảm
và sự minh mẫn cao vút trời xanh thiêu rụi bọn giặc xăm lược
Bắc Phương...Tây Kết, Hàm Từ, Chương Dương, Bạch Đằng là địa
danh quân Bắc Phương khiếp sợ cùng với tên tuổi của người.
Tài dụng người và dụng binh của Trần Hưng Đạo:
Trần Quốc Tuấn là người có tài dụng người,
dụng binh thao lược, ông tiến cử người tài giỏi giúp nước,
như Dă Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông đă có công đánh
dẹp
Ô Mă Nhi,
Toa Đô. Các
người nổi tiếng khác như
Phạm Ngũ Lăo,
Trần Th́ Kiến,
Trương Hán Siêu,
Phạm Lăm,
Trịnh Dũ,
Ngô Sĩ Thường,
Nguyễn Thế Trực
vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng về văn chương và
chính sự, bởi v́ ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một ḷng
giữ ǵn người trung nghĩa nên đă giữ được những nhân tài
chung quanh ông. Ví dụ như khi vua Trần Thánh Tông vờ bảo
với Trần Quốc Tuấn rằng: "Thế giặc như vậy, ta phải hàng
thôi". Trần Quốc Tuấn trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi
hăy hàng giặc". Tiếng vang đến giặc Phương Bắc, chúng thường
gọi Trần Quốc Tuấn là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi
bằng tên
|

Lăng Đức Trần Hưng Đạo tại Nam Định |
Nhân dân Việt Nam vô cùng kính trọng ông và
tôn ông là vị anh hùng dân tộc có công trạng lớn vào hàng
bậc nhất đối với tổ quốc và là tấm gương uy vũ sáng ngời cho
nhiều thế hệ mai sau. Do công lao hai lần lănh đạo quân sĩ
chống lại họa xâm lăng của giặc Nguyên-Mông
Cổ. Thời đó dưới vó ngựa
của quân Mông Cổ, các nước Hồi Giáo hiếu chiến ở
Trung Á, đến
nước
Nga ngày nay
cũng không thể nào bảo vệ được nền độc lập của ḿnh. Lănh
thổ của
Đế quốc Mông Cổ
lúc đó chiều ngang kéo dài từ
Triều Tiên
(Đại Hàn) đến Moskova-Nga Sô, Muhi -
Hungary,
Tehran -
Iran,
Damascus-Syria;
Và chiều dọc từ
Bắc Á xuống
tới cả biên giới
Ấn Độ,
Miến Điện.
Trong cơn lốc chinh phục của Đế Quốc Mông Cổ, chỉ có
Thái Lan
thoát khỏi họa diệt vong nhờ sách lược cầu ḥa,
Nhật Bản may
mắn nhờ một trận băo biển làm thiệt hại bớt tàu của quân
Mông Cổ nên không xâm lược, c̣n Đại Việt nhờ khả năng lănh
đạo của Hưng Đạo Đại Vương mà giữ được bờ cơi, thật là một
anh hùng hiếm hoi của lịch sử dân tộc Việt.
Ngoài tài dụng người, dụng binh, Ngài là một
chiến lược gia từng soạn các binh thư như
Binh Gia Diệu Lư Yếu Lược
(c̣n gọi là Binh Thư Yếu Lược) và
Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư
để dạy các tể tướng quân sĩ bằng bài
Hịch Tướng Sĩ.
Ngài c̣n soạn sách để khích lệ tướng sĩ dưới quyền, dẫn dụ
chuyện
Kỷ Tín liều
ḿnh cứu thoát
Hán Cao Tổ,
Do Vu đưa
lưng chịu chém để cứu Sở Tử mà dạy đạo trung cho tướng sĩ.
Ngài thông minh đĩnh ngộ, văn vơ song toàn;
chí biết dẹp thù nhà, thân biết đoàn kết anh em ḍng họ cùng
lo toan việc nước. Ngài nghiên cứu binh thư, biết dùng người
hiền tài, coi binh sĩ như tay chân. Ở nơi ngài thể hiện các
đức tính: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Tín. Cả hai lần chống quân
Nguyên, ngài đă lập nhiều công lớn. Sau khi kháng chiến
chống Nguyên của Mông Cổ lần thứ 3 thành công, ngài về ẩn
thân ở trang viên của ḿnh tại Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua
Trần vẫn thường xuyên đến vấn kế sách của ngài.
|

H́nh Đức Thánh Trần Hưng Đạo in
trên giấy bạc $500 Thời Việt Nam Cộng Hoà
|
Ngài mất vào ngày 20 tháng 8 năm 1300 (Canh
Tư) hưởng thọ khoảng 70 tuổi, được phong tặng tước Thái Sư
Thượng Phụ Thượng Quốc Công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. Thi
hài được hỏa táng theo ư nguyện của ngài, tro thu vào một
b́nh đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa rừng An Sinh miền
Đông Bắc, không xây lăng mộ. Người dân đương thời ngưỡng mộ
tôn ngài là Đức Thánh sau này gọi là Đức Thánh Trần Hưng Đạo
và xây đền thờ ngài tại Vạn Kiếp, Chí Linh.
Sự ngưỡng mộ trong dân gian đưa Ngài thành
huyền thoại, sau khi mất rồi, các châu huyện ở
Lạng Giang
hễ có bệnh dịch, nhiều người cầu đảo Ngài. C̣n có lời đồn
rằng, mỗi khi đất nước lâm nguy có giặc ngoại xâm, đến lễ ở
đền Ngài, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu th́ thế nào cũng
thắng lớn.
Các trận chiến chống quân Nguyên của Mông Cổ
(Nguyên-Mông)
|

Thế lực của Đế Quốc Mông Cổ vào
thế kỷ thứ 12-những vùng đỏ là cơn lốc bành
trướng của Mông Cổ. Thế mà khi đến Việt Nam bị
Trần Hưng Đạo đánh bại....
|
Quân Nguyên-Mông xâm lăng lần thứ nhất 1258:
Bị vua Trần Thái Tông đánh bại:
|
 |
Vào tháng Giêng năm 1258, một đạo quân Mông
Cổ khoảng 2.5 vạn do tướng Ngột Lương Hợp Thái chỉ huy tràn
vào Đại Việt từ ngă Vân Nam, trong đạo quân này có pḥ mă
Hoài Đô của vua Mông Cổ. Về phía Đại Việt vua Trần Thái Tông
trực tiếp chỉ huy trận đánh chuẩn bị nghênh chiến ở B́nh Lệ
Nguyên,nay là huyện
B́nh Xuyên
tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 17-01-1258 quân Mông Cổ chia làm ba mặt
tấn công như vũ bảo, thấy thế giặc mạnh nên quân Nam phải
rút bỏ Thăng Long về ém quân tại Phù Lỗ. Ngày hôm sau,
18-01-1258, quân Mông Cổ tiến đánh Phù Lỗ, Trần Thái Tông
nghe lời khuyên của tướng Lê Phụ Trận rút lui khỏi Phù Lỗ
rồi quyết định rút khỏi kinh thành Thăng Long với kế hoạch
vườn không, nhà trống, cạn lương thực. Thế là sau hai trận
đánh chớp nhoáng, quân Mông Cổ chiếm được kinh thành, khi
chiếm được thành nhưng lương thực trống rổng, quân Mông cướp
của dân ở ngoại thành và thỉnh thoảng bị quân ta chận đánh.
Nửa đêm ngày 28 tháng 1 năm 1258, lúc đó lương thực quân
Mông đă cạn, từ nơi trú quân ở
Hoàng Giang,
vua Trần Thái Tông cùng thái tử
Trần Hoảng
vượt ngược sông, bất thần đánh thẳng vào quân địch. Quân
Mông Cổ cho rằng lực lượng quân Trần đă kiệt quệ sau trận
thua đầu nên rất chủ quan và bị tập kích bất ngờ không kịp
trở tay bị thảm bại. Sau khi bị phá tan tại
Đông Bộ Đầu,
quân Mông Cổ không giữ nổi Thăng Long nữa. Họ đồng loạt tháo
chạy thẳng về
Vân Nam,
Trung Hoa.
Khi thất trận, quân Mông Cổ rút chạy theo
theo tả ngạn sông Thao quá nhanh, ngoài dự tính của vua Trần
Thái Tông, khiến vua Trần không kịp bố trí lực lượng diệt
địch. Tuy nhiên khi đến Quy Hóa (vùng
Lào Cai,
Yên Bái),
quân Mông bị chủ trại là
Hà Bổng –
một thổ quan
người Tày -
tập kích quyết liệt gây tổn thương cho quân Mông Cổ không ít.
Trận đầu quân xâm lượt của Mông Cổ đến một xứ bé nhỏ Đại
Việt bị thất bại tháo chạy về Vân Nam vào cuối tháng 1 năm
1258.
Quân Nguyên Mông Cổ xâm lăng lần thứ 2-1285:
Bị Trần Hưng Đạo đánh bại:
|
 |
Sau khi thất bại đầu năm 1258, Đế Quốc Mông
Cổ lâm vào nội chiến (1259 -1264) và chiến tranh với nhà Tống
(1267-1279) bên Tàu. Mặc dù rất muốn rửa hận quân Nam nhưng
chưa thể thực hiện ngay được. Cho đến nǎm 1279 nhà Tống đại
bại, toàn bộ Trung Hoa rơi vào ách thống trị của nhà Nguyên,
Mông Cổ. Vua Nguyên là Hốt Tất Liệt chuẩn bị đem quân sang
rửa hận nước ta. Sau khi không thể khuất phục được vua quan
nhà Trần bằng những sứ bộ ngoại giao, cuối nǎm 1284, đạo
quân Nguyên-Mông do Thoát Hoan làm Đại Nguyên Soái, A Bát
Xích làm Hành Tỉnh Tả Thừa, Áo Lỗ Xích làm B́nh Chương Chính
Sự, Ô Mă Nhi, Phàn Tiếp làm Tham Tri Chính Sự, đem hơn 30
vạn quân sang đánh nước ta, giả danh đưa Trần Ích Tắc về
nước, lập làm An Nam Quốc Vương. Lại sai Vạn Hộ Trương Văn
Hổ theo đường bể chở hơn 17 vạn thạch lương sang tiếp tế cho
quân sĩ, cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ hai bắt
đầu.
Lần này, ngoài cánh quân lớn của Thoát Hoan đánh vào mặt
Lạng Sơn, Vua Nguyên c̣n sai Nạp Tốc Lạt Đinh đem một cánh
quân từ Vân Nam đánh vào Tuyên Quang, và ra lệnh cho Toa Đô
đem đạo quân c̣n đóng ở Bắc Champa, đánh vào mặt Nam của Đại
Việt.
Sau một vài trận đánh chặn giặc ở mặt trận Lạng Sơn và Tuyên
Quang vào tháng 2/1285, quân ta lại rút lui và một lần nữa
bỏ trống kinh thành Thǎng Long, kéo về mạn Thiên Trường và
Trường Yên nay thuộc tỉnh Ninh B́nh. Và để tránh cái thế kẹt
vào gọng ḱm của giặc, đại quân và Triều Đ́nh chờ cho cánh
quân của Toa Đô tiến đến Trường Yên (Ninh B́nh) th́ rút vào
Thanh Hoá. Trong khi một bộ phận lớn quân chủ lực rút, th́
khắp nơi, quân địa phương và dân binh các lộ, phối hợp với
các cánh quân nhỏ của Triều Đ́nh để lại đă không ngừng tập
kích, tấn công vào quân địch ở vùng bị chiếm đóng. Kế hoạch
''vườn không nhà trống" được toàn dân thực hiện. Giặc đóng
quân phân tán, thiếu lương thực, có nguy cơ bị tiêu diệt.
Mùa hè đến, lại giáng lên đầu chúng những tai hoạ mới. Sử
Nguyên-Mông ghi chép: "Bệnh dịch hoành hành... Nước lụt dâng
to, ngập ướt doanh trại... ". Thời cơ phản công của quân ta
đă tới, tháng 5/1285, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại
quân tiến ra Bắc.
Kế hoạch diệt địch như sau: Chiêu Minh Vương
Trần Quang Khải và một số tướng lĩnh được giao nhiệm vụ diệt
địch trên pḥng tuyến sông Hồng, c̣n Hưng Đạo Vương, đem
quân ṿng qua vùng Hải Đông, tiến lên Vạn Kiếp, chặn đường
tháo chạy của địch. Cục diện chiến tranh xảy ra đúng như dự
liệu: cuối tháng 5-1285, Trần Quang Khải cùng với
Trần Nhật Duật,
Trần Quốc Toản
đă đánh tan giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, rồi tiến
lên đánh chiếm Thǎng Long. Thoát Hoan hoảng hốt, rút khỏi
Thǎng Long, chạy về Vạn Kiếp. Đến đây, bọn giặc lọt vào trận
địa mai phục của Trần Hưng Đạo, chúng bị thương vong rất
nhiều. Đám tàn quân hoảng loạn cố mở đường máu thoát chạy.
Nhưng đến biên giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh.
Thoát Hoan phải chui vào ống đồng rồi bắt quân lính khiêng
chạy về nước. Viên đại tướng Lư Hằng nhiệm vụ chận hậu, bị
tên độc trúng đầu gối, về đến Tư Minh th́ chết.
Trong khi cánh quân Thoát Hoan chạy về phía Lạng Sơn th́
cánh quân Nạp Tốc Lạt Đinh t́m đường tẩu thoát về Vân Nam,
cũng bị quân dân ta tập kích đánh cho tơi bời. Không biết
Thoát Hoan đă bỏ chạy, Toa Đô kéo ra Bắc, theo sông Hồng
định về Thǎng Long, nhưng đến Tây Kết th́ bị quân ta chặn
đánh. Toa Đô bị chém. Thế là cuộc chiến tranh xâm lược của
Nguyên Mông lần thứ hai hoàn toàn thảm bại.
Quân Nguyên-Mông xâm lược lần thứ 3-1288: Lại
bị Trần Hưng Đạo đánh bại
Lần thứ ba, quân Nguyên Mông xâm lăng Đại
Việt từ tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288.
|
 |
Sau lần đại bại danh tướng Thoát Hoan của
quân Nguyên Mông phải chui vào ống đồng để cho quân lính
khiêng xác tháo chạy thoát chết, nhưng Hốt Tất Liệt vẫn
chưa bỏ mộng xâm lăng nước Đại Việt. Vào tháng 3 năm 1286,
quân Nguyên lại phái bại tướng Thoát Hoan làm tổng tư lệnh
cùng các tướng chỉ huy cao cấp khác gồm Áo Lỗ Xích, Ô Mă Nhi,
Phàn Tiếp (tướng
Hán đầu hàng Nguyên), Diệc Hắc Mê Thất,A Lư, Quỹ Thuận v.v...
Sau đó, tháng 11 năm 1286, tăng thêm tướng A Bát Xích,A Lư,
Tŕnh Bằng Phi
(tướng Hán đầu hàng Nguyên), Ái Lỗ,
Trương Ngọc,
Lưu Khuê,
Tích Đô Nhi,
Trương Văn Hổ,
Phí Củng Th́n,
Đào Đại Minh
(những tướng
cướp biển
Tàu Ô làm tướng nhà Nguyên). Phần lớn các tướng lần này đều
đă từng xâm lăng Đại Việt năm 1284. Đại Việt Sử Kư Toàn thư
ghi số quân Nguyên là 50 vạn. Về thủy quân, quân Nguyên có
300 thuyền chiến mới đóng cùng 120 thuyền chiến của Hải Nam
đều đặt dưới sự chỉ huy của Ô Mă Nhi. 70 thuyền vận tải chở
17 vạn thạch lương do Trương Văn Hổ chỉ huy đi cùng Ô Mă Nhi.
Về phía Đại Việt ra lệnh tổng động viên. Lần
này chỉ huy tối cao là vua
Trần Nhân Tông.
Tướng chỉ huy toàn cục là Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn.
Tổng số quân Đại Việt khoảng trên 20 vạn. Vua
Trần Nhân Tông
đại xá thiên hạ, chỉ trừ những người từng đầu hàng quân
Nguyên đều không được đại xá. Nhiều tù nhân được phép t́nh
nguyện ṭng quân ra mặt trận để chuộc tội, báo ân.
Ngày 3 tháng 9 năm 1286, Thoát Hoan khởi binh
từ đất Ngạc tiến về phía Nam, mượn tiếng đưa "An Nam quốc
vương"
Trần Ích Tắc
(tên bù nh́n bán nước) về nước. Quân Nguyên chia làm 3 cánh:
Cánh thứ nhất theo đường
Vân Nam tiến
xuống
sông Thao và
sông Lô như
2 lần trước. Cánh thứ hai là quân chủ lực đi đường châu
Khâm, châu Liêm do Thoát Hoan cùng Tŕnh Bằng Phi, Áo Lỗ
Xích, dẫn theo Trần Ích Tắc tiến vào biên giới đông bắc.
Cánh thứ 3 là thủy quân do
Ô Mă Nhi,
Phàn Tiếp chỉ huy 500 chiến thuyền cùng đoàn vận lương do
Trương Văn Hổ phụ trách kéo theo sau.
Phía Đại Việt, Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn
thống lĩnh các vương hầu chia quân chống giữ các nơi.
Trần Nhật Duật,
Nguyễn Khoái
mang 3 vạn quân giữ Lạng Sơn; Lê Phụ Trần và
Trần Quốc Toản
mang 3 vạn quân vào giữ Thanh Hoá-Nghệ An;
Trần Khánh Dư
giữ Vân Đồn; Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đóng binh ở Quảng
Yên. Mặt khác, Hưng Đạo Vương sai quân biên giới giáp Tư
Minh, chia ra đóng các đồn Sa, Từ, Trúc để chống bộ binh
địch xâm nhập; lại sai một tướng khác ra giữ B́nh Than.
Ngay từ lúc đầu, thế quân Mông Cổ đông và
mạnh quân ta tạm rút lui và Thoát Hoan đă đánh vào thành
Thang Long. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn rút về kinh thành,
sai người rước vua Trần lui xuống hạ lưu sông Hồng rồi theo
cửa Giao Thủy đi ra biển ṿng lên Tháp Sơn (Đồ Sơn) nhưng bị
cánh quân của Ô Mă Nhi đuổi quá gấp nhằm thực hiện lời thề
của hắn khi được lênh đuổi bắt vua Trần rằng: “Ngươi chạy
lên trời ta theo lên trời, ngươi chạy xuống đất ta theo
xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn
xuống nước ta theo xuống nước", cho nên Thái Thượng Hoàng
Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông phải xuống thuyền vào
Thanh Hóa. Ô Mă Nhi mang vài chục thuyền và ít lương đuổi
gấp theo, nhưng nghe tin có Lê Phụ Trần và
Trần Quốc Toản
cầm một đạo thuỷ quân lớn đang pḥng ngự ở Thanh Hoá, liệu
thế không đánh nổi đành quay trở lại. Qua Long Hưng, Ô Mă
Nhi tức giận sai phá lăng
Trần Thái Tông.
Ngày 2/2/1288 giao tranh giữa Hưng Đạo Vương
và Thoát Hoan tại kinh thành Thăng Long đẩm máu, quyết liệt.
Tuy nhiên các tài liệu sử học về cuộc chiến kinh thành Thăng
Long ngày 2/2/1288 không đồng nhất.
Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Việt Sử Tiêu Án
và
Việt Nam Sử Lược
chỉ ghi lại Thoát Hoan vây đánh nhưng không hạ được thành;
Đại Việt Sử kư Toàn Thư
không chép trận Thăng Long. Một số sách sử Việt Nam sau này
cho rằng quân Trần bỏ thành rút lui. Quân Nguyên lọt được
vào kinh thành, nhưng sau đó đụng độ kịch liệt với quân
Trần. Sau vài lần giao chiến, cuối cùng quân Nguyên phải rút
lui, trước khi rút đă đốt phá cung điện và phố xá.
Trong khi đó Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp vốn được
giao chỉ huy thủy quân mở đường cho đoàn thuyền chở lương
thực của Trương Văn Hổ, Phí Củng Th́n theo sau. Sau khi đánh
lui được quân Trần Gia, Ô Mă Nhi cho rằng thế quân Đại Việt
yếu không đáng lo, bèn tiến sâu vào nội địa để bắt tay với
Thoát Hoan truy đuổi vua Trần. Tướng
Trần Khánh Dư
được giao trấn giữ đường biển nhưng để quân Nguyên đi qua,
bị thái thượng hoàng Trần Thánh Tông sai sứ hỏi tội. Khánh
Dư xin khất vài ngày để chuộc tội.
Đầu năm 1288, đoàn thuyền lương của Trương
Văn Hổ kéo đến Vân Đồn, bị quân Trần Khánh Dư tập kích.
Không có quân chủ lực bảo vệ, quân của Trương Vân Hổ mau
chóng bị tiêu diệt. Văn Hổ cố gắng kéo vào đất liền nhưng
đến Lục Thuỷ th́ thuyền quân Trần Khánh Dư đổ ra đánh càng
đông. Trương Vân Hổ đại bại, đổ hết thóc xuống biển v́ không
muốn lọt vào tay quân Trần, rồi bỏ chạy về Quỳnh Châu.
Thuyền lương của Phí Củng Th́n kéo theo sau, mới đến Huệ
Châu bị gặp băo, trôi giạt tới Quỳnh Châu. Đoàn thuyền lương
do Từ Khánh chỉ huy th́ đi lạc tới Chiêm Thành rồi quay trở
lại Quảng Đông. Như vậy, các thuyền lương của quân Nguyên bị
mất sạch không c̣n một hạt thóc.
Đây chính điểm mấu chốt mà quân Đại Việt đánh
bại quân Nguyên-Mông lần thứ ba, lương thực bị mất sạch,
Thoát Hoan sai Ô Mă Nhi đi t́m thuyền quân lương lại bị phục
kích nhưng chẳng t́m ra lương thực, Thoát Hoan rơi vào t́nh
trạng lúng túng binh lính thiếu ăn, trong lúc đó quân Đại
Việt bắt đầu phản công mạnh mẽ và kiểm soát vùng Hải Dương
và Hải Pḥng ngầm ư đẩy Thoát Hoan vào nguy cơ bị cắt đường
rút về Vạn Kiếp. Trước t́nh h́nh như vậy, Thoát Hoan phải
nhanh chóng rút quân khỏi Thăng Long quay về Vạn Kiếp.
Tại Vạn Kiếp, quân Nguyên cố thủ trong các
thành gỗ nhưng thường xuyên bị quân Đại Việt tập kích vào
ban đêm. T́nh h́nh thiếu lương thực càng ngày càng trầm
trọng. Thoát Hoan quyết định rút quân khỏi Đại Việt. Lúc đó
là vào khoảng cuối tháng 3 năm 1288, tức là chỉ 3 tháng sau
khi tiến quân vào Đại Việt. Quân Nguyên chia làm 2 tuyến rút
quân, một tuyến của thủy quân do Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp chỉ
huy. Một tuyến của bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy.
Kế hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự
liệu của
Trần Hưng Đạo.
Ông đă bố trí chặn giặc ở vùng biên giới và chuẩn bị cho một
trận quyết chiến lớn trên sông Bạch Đằng. Từ đấu tháng 3,
quân sĩ và nhân dân đă đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về đẽo nhọn,
đóng xuống ḷng sông, làm thành những băi cọc lớn. Thuỷ quân
và bộ binh ta đă phục sẵn trong các nhánh sông và các khu
rừng rậm ven sông Bạch Đằng, chờ ngày tiêu diệt địch trên
đường rút lui.
Để bảo vệ cho thủy quân rút lui, Thoát Hoan
sai Tŕnh Bằng Phi đi hộ tống đoàn thuyền, nhưng bị chặn
đánh liên tục phải quay về Vạn Kiếp cùng với quân bộ. Đoàn
thuyền của Ô Mă Nhi không có bộ binh bảo vệ đă bị chặn đánh
liên tục, măi tới ngày 8 tháng 4 năm 1288 mới tiến tới Trúc
Động để vào sông Giá. Tuy nhiên, quân Đại Việt đă ngăn được
quân Nguyên vào sông Giá, khiến Ô Mă Nhi phải tiến vào sông
Bạch Đằng. Tại đây, quân Đại Việt bố trí một trận địa cọc
ngầm. Một lực lượng lớn bộ binh Đại Việt lại trú tại Tràng
Kênh chờ đánh vào sườn phải quân Nguyên khi họ vào sông Bạch
Đằng, c̣n một lực lượng lớn nữa trú tại khu rừng tả ngạn
sông sẽ đánh vào sườn trái đối phương. Thủy quân Đại Việt
th́ ẩn náu trên các sông khác thông với sông Bạch Đằng.
Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288, thủy quân
Nguyên tiến vào sông Bạch Đằng, thấy thủy quân Đại Việt liền
đuổi đánh, song đụng phải các cọc ngầm và bị mắc kẹt. Quân
Đại Việt từ khắp các hướng đổ ra tấn công. Đích thân vua
Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo chỉ huy trận chiến. Quân Đại
Việt đă bắn hằng vạn mũi tên vào quân Nguyên. Thủy triều rút
xuống làm cho số thuyền bị cọc nhọn cắm kẹt càng tăng. Đến
chiều, đại bộ thủy quân của Nguyên-Mông bị tiêu diệt. Tướng
Trần là Đỗ Hành bắt được Ô Mă Nhi và Tích Lệ Cơ. Phàn Tiếp
bị thương, nhảy xuống nước, bị quân Trần dùng câu liêm móc
lên, bắt sống. Quân Nguyên bị chết rất nhiều, hơn 400 chiến
thuyền lọt vào tay quân Đại Việt. Gần như toàn bộ thuỷ quân
Nguyên bị tiêu diệt.
C̣n cánh bộ binh rút lui th́ sao? Ngày
8/4/1288, quân của Thoát Hoan từ Vạn Kiếp rút về Lạng Sơn.
Ngày 11 tháng 4, đội quân Nguyên tiến tới cửa Nội Bàng (thị
trấn Chũ, xă B́nh Nội của
Bắc Giang
ngày nay) và lọt vào trận địa phục kích của quân Đại Việt.
Quân Nguyên cố sức chống cự; Tướng Lưu Thế Anh của quân
Nguyên phải liều chết mở đường máu cho đại quân thoát khỏi
cửa Nội Bàng. Qua được Nội Bàng, Thoát Hoan nhận được tin
báo rằng phía trước có 30 vạn quân Đại Việt trải dọc suốt
100 dặm mai phục, đành đổi hướng rút quân qua Đơn Kỷ về Lộc
Châu. Tuy nhiên qua đường này, quân Nguyên vẫn bị quân Đại
Việt tập kích. Sử sách nhà Nguyên ghi lại: "Lúc đó quân ta
đă thiếu ăn lại mệt v́ chiến đấu, tướng tá nh́n nhau thất
sắc" nhưng vẫn phải "cố xông vào mà đánh" và "buộc vết
thương lại mà đánh". Măi đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, quân
Nguyên mới thoát khỏi biên giới về đến Tư Minh.
Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt đă chôn vùi
vĩnh viễn mộng xâm lược của Hốt Tất Liệt. Hai lần tháo chạy
của Thoát Hoan đă làm cho nguyên soái lừng lẫy Mông Cổ chẳng
bao giờ dám trở lại phương Nam! Giang sơn, xă tắc từ đây
b́nh yên xây dựng đất nước một thời cực thịnh của dân tộc
Việt Nam.
|