|
Từ Ấp Chiến
Lược đến biến cố Tết Mậu Thân,
những hệ luỵ lịch sử trong chiến tranh
Việt Nam
Nguyễn Đức Cung

“… đằng sau biến cố này là
một số hệ lụy mang tính lịch sử vẫn chưa thấy giới nghiên cứu sử
học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện diện và nổi cộm lên
…”
Phạm Đỉnh:
Nguyễn Đức Cung là một nhà sử học và một nhà hoạt động chính
trị quen thuộc. Tốt nghiệp Đai Học Sư Phạm Ban Sử Địa tại
Đai Hoc Huế năm 1956 và Cao Hoc Sử năm 1974. Bí Thư Tỉnh Bộ
Đai Việt Cách Mạng tỉnh Quảng Nam 1965-1975. Dân Biểu Tỉnh
Quảng Nam dưới chế độ VNCH từ 1971 đến 1975.
Sau 1975 ông bị giam cầm 13 năm từ 1975 đến 1988 dưới chế độ
cộng sản.
Ngay sau khi tới Mỹ ông hoạt động trở lại trong đảng Đại
Việt Cách Mạng cùng với ông Hà Thúc Kư, giữ các chức vụ Tổng
ủy viên thường vụ (1995-1999), tổng ủy viên tuyên nghiên
huấn (1999-2007). Hiện là chủ tich Hội Đồng Nghiên Cứu Sách
Lược Trung Ương đảng Đạị Việt Cách Mạng.
Các tác phẩm đă xuất bản của ông gồm:
Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (nguyên tác chữ Hán của
Quốc Sử Quán triều Nguyễn), bản dịch Việt ngữ chung với các
ông Trần Vĩnh Anh, Lê Ngọc Bích và Nguyễn Lư Tưởng, Khai Trí
xuất bản 1974;
Lịch Sử Vùng Cao qua
Vũ Man Tạp Lục Thư, Nxb.
Nhật Lệ, 1998; Trong Cơi Vô Thường (thơ) , Nxb. Nhật
Lệ, 1999; Điền Lộc Quận Công Nguyễn Thân ( biên khảo sử học),
Nxb. Nhật Lệ, 2002; Cánh Cửa Mở Vào Vương Quốc Đàng Trong: Quảng B́nh, chín
trăm năm nh́n lai, 1075-1975, tập I, Nxb. Nhật Lệ, 2006.
Trong chiến tranh Việt Nam,
biến cố Tết Mậu Thân (1968) mà sách vở của chế độ cộng sản Hà
Nội gọi tên là cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa (TCK-TKN)
đă được các sử gia ngoại quốc xem là một bước ngoặt lớn trong
chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Hầu hết các quan điểm khác
biệt của các phe lâm chiến như chính phủ Hoa Kỳ, chế độ Bắc Việt,
chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, giới truyền thông Hoa Kỳ và một số
các quốc gia khác, giới nghiên cứu sử học Hoa Kỳ, một số các
nhân vật có dính líu ít nhiều vào biến cố đó, ở phe này hay phe
khác đă được bày tỏ qua sách vở, tư liệu với nhiều mục đích khác
nhau như tuyên truyền, biện minh, lên án, kết tội, bào chữa, tái
xác nhận v.v... Biến cố Mậu Thân cũng đă để lại nhiều ấn tượng,
kỷ niệm tang thương, đau ḷng trong rất nhiều đồng bào Việt Nam
tại Huế - Thừa Thiên nói riêng và đồng bào Miền Nam nói chung
với cái chết của biết bao người thân trong gia đ́nh, bạn hữu và
các nhân vật hành chánh, chánh trị, các tu sĩ tôn giáo ngoại
quốc cũng như trong nước, kể cả các giáo sư đại học người nước
ngoài đến phục vụ tại Viện Đại Học Huế. Tuy nhiên, đằng sau biến
cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử vẫn chưa thấy giới
nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện diện và nổi
cộm lên thông qua biến cố này.
Bốn mươi năm qua, thời gian cũng đủ để cho một thành phố, như
Huế chẳng hạn, được hồi sinh nhưng đây cũng là dịp nh́n lại biến
cố đó để t́m hiểu những bài học lịch sử mà cho đến nay vẫn c̣n
chứa nhiều bí ẩn chưa biết được, đúng như nhận định của nhà
nghiên cứu sử học Hồ Khang: "Tết Mậu Thân vẫn là chủ đề gây
nhiều tranh căi. Từ một mức độ nào đó, có người sẽ nghĩ là họ đă
có cái nh́n toàn diện về Tết Mậu Thân, nhưng ở một góc độ khác,
nhiều người sẽ vẫn không thể hiểu và giải thích được sự kiện này."
[1]
Tuy nhiên việc t́m hiểu biến cố tết Mậu Thân sẽ không được rơ
ràng nếu chúng ta không lược qua giai đoạn lịch sử trước đó, kể
từ thời Đệ nhất Cộng ḥa, bởi v́ di sản chính trị của giai đoạn
đó nếu chỉ c̣n là những đổ nát, vỡ vụn th́ ít nhất nó cũng cho
chúng ta biết phần nào mức độ thất bại của chúng ta và đồng minh
qua sự kiện lịch sử quan trọng này tức là biến cố Tết Mậu Thân
(1968).
1. Di sản tinh thần đổ nát của một chế độ chính trị
Cuộc chiến tranh ư thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam,
một cuộc chiến mà ngay đến cái tên gọi của nó vẫn c̣n là một vấn
đề tranh căi [2], sau Nghị quyết 15 năm 1959 của CSBV và đạo
luật 10/59 của chế độ VNCH đă được đánh dấu bởi những biến cố
lịch sử quan trọng cần phải được nh́n đến trước khi đi sâu vào
nghiên cứu lại sự kiện Tết Mậu Thân.
Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ngày 20 tháng 7 năm
1954, chính phủ của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă phải lo định cư
cho gần một triệu người dân miền Bắc và miền Trung (bên kia vĩ
tuyến 17) có cuộc sống an cư lạc nghiệp tại miền Nam, rồi lấy
lại chủ quyền từ tay người Pháp, ổn định t́nh h́nh chính trị,
xây dựng nền Cộng Ḥa trên vùng đất đầy dấu tích của chế độ
thuộc địa và thực dân, nhất là tiến hành quốc sách chống Cộng
nhằm tiêu diệt hết hạ tầng cơ sở của Cộng Sản cố gài lại tại
Miền Nam sau khi Việt Minh đă rút hết khoảng 80.000 cán binh CS
ra miền Bắc theo các điều khoản quy định của bản hiệp định này.
Những thành quả mà chính phủ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thu
hoạch được trong chín năm cầm quyền (1954-1963) cần phải được
nghiên cứu lại trong tinh thần đánh giá công b́nh, đúng đắn dưới
ánh sáng của lịch sử.
1.1. Vấn đề ư thức hệ chính trị.
Trong cuộc chiến giữa hai miền nam và bắc Việt Nam, điểm quan
trọng trong sự tranh chấp Quốc-Cộng đó là vai tṛ của một hệ
thống tư tưởng mà chế độ Đệ nhất Cộng ḥa đă sử dụng làm lợi khí
đấu tranh để xây dựng các cơ chế dân chủ và xă hội. Chủ thuyết
của miền nam lúc bấy giờ là chủ thuyết Nhân Vị vốn được coi là
nền tảng tư tưởng hoạt động của Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng
do ông Ngô Đ́nh Nhu thành lập tại Sài g̣n năm 1950.
Về phương diện tư tưởng, ông Ngô Đ́nh Nhu đă có ư thức về sự cần
thiết của một chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước. Ông
đưa ra chủ thuyết Nhân Vị (Personalism) khơi nguồn từ một số
triết thuyết của Tây Phương như nhóm Esprit của Emmanuel Mounier,
một số tông thư của các Giáo Hoàng Lêô XIII hay Giáo Hoàng Piô
XI, đă được ông hoàn chỉnh lại để phù hợp với t́nh h́nh của một
quốc gia Á châu, nhằm đối đầu với chủ nghĩa Cộng Sản ở miền Bắc.
Ngày 8-1-1963, trong cuộc nói chuyện với một cử tọa gồm các nhà
trí thức, các giáo sư đại học, giáo sư trung học và cán bộ tại
Trung Tâm Thị Nghè, ông Ngô Đ́nh Nhu giải thích rằng: "...ḿnh
đánh nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh ḿnh với một Ư
Thức Hệ, mà chúng ta không có một Ư Thức Hệ cứng rắn, rơ ràng,
trong tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà đánh Cộng
Sản th́ chúng ta sẽ bị ư thức hệ Cộng Sản lan tràn lung lạc."
[3]
Cũng trong bài nói chuyện đó, ông Ngô Đ́nh Nhu nhấn mạnh: " Muốn
phục vụ con người trong xă hội th́ con người đó phải tiến, xă
hội đó phải tiến. Nhưng xă hội chỉ tiến được với những con người
có ư thức nhiệm vụ. Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nh́n
nhận rằng cần phải có một ư thức hệ tiến bộ. Ư Thức Hệ chúng tôi
chủ trương là Ư Thức Hệ Nhân Vị. Về Tư Tưởng Nhân Vị có nhiều
thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tín ngưỡng hữu h́nh, một tín
ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào vô thức...
Ư thức hệ Nhân Vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng răi và không
cần phải đi sâu vào các đạo giáo. Tất cả các đạo giáo, tất cả
các triết lư khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ư thức
hệ đó." [4]
Sau đây là một đoạn triển khai thêm do linh mục Bửu Dưỡng viết,
trích từ bản tóm tắt bài thuyết tŕnh của ông về chủ nghĩa Nhân
Vị: "Nhân là người. Vị là thứ bậc. Nhân-Vị là tính cách con
người sống đầy đủ con người theo thứ bậc của ḿnh, đối nội cũng
như đối ngoại. Theo nghĩa đó, hai chữ Nhân-Vị đầy đủ hơn chữ
Personne Humaine của Pháp ngữ, v́ hai chữ Personne Humaine nhấn
mạnh đến ư nghĩa của chữ nhân mà ít chú trọng tới
vị.
Cần phải hiểu theo một ư nghĩa đầy đủ của cả hai chữ.
Nhân
là sống đầy đủ con người.
Vị là sống theo đúng thứ bậc
của ḿnh trong những tương quan với người khác và vạn vật. Như
vậy th́ quan niệm về nhân-vị tùy thuộc quan niệm về con người và
quan niệm các tương quan." [5]
Nh́n thấy cái sắc bén của chủ nghĩa Nhân Vị của nền Đệ nhất Cộng
Ḥa, một sử gia ngoại quốc, Robert Scigliano đưa ra nhận xét : "Chủ
nghĩa Nhân Vị nhấn mạnh đến sự điều ḥa những ước vọng vật chất
cũng như tinh thần của cá nhân với các nhu cầu xă hội của cộng
đồng và các nhu cầu chính trị của quốc gia. Nó nhằm t́m kiếm một
con đường trung dung giữa chủ nghĩa cá nhân tư bản và chủ nghĩa
tập thể mác-xít." [6]
Một nữ kư giả Hoa Kỳ, bà Suzanne Labin, vốn có rất nhiều mối
liên hệ với các viên chức của chế độ Miền Nam dưới thời Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm, trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness
account, có trích lại bài viết về chủ nghĩa Nhân Vị của bà
Ngô Đ́nh Nhu (đăng trên báo The Wanderer ngày 4.6.1964)
lúc bấy giờ đang sống lưu vong ở hải ngoại sau biến cố đảo chính
1-11-1963.
Trong một bài báo nhan đề “Cần Lao Nhân Vị”, linh mục Nguyễn
Phương, nguyên giáo sư sử học tại Viện Đại Học Huế trước năm
1975, đă viết: "Đối với những người tị nạn đă trưởng thành, cần
lao nhân vị là những tiếng quen biết. Cũng có lẽ v́ quen biết
quá nên không mấy ai lưu tâm đến ư nghĩa của nó. Sự thật, mấy
tiếng đó xếp lại bên nhau có thể tạo nên một phương châm thiết
thực nhất và cao cả nhất cho đời sống cá nhân và xă hội. Cần lao
nhân vị gọn gàng là một triết lư của đạo làm người. Cần lao
không có nghĩa là làm việc suông, v́ chữ cần nói lên rằng người
làm việc đang tâm hướng về một mục tiêu nào đó. Và mục tiêu này
được tức khắc bày tỏ bằng hai tiếng nhân vị. Cần lao là để phát
huy và để bảo tồn nhân vị, chứ không phải để phục vụ tư lợi hay
để làm mọi cho giai cấp đấu tranh. Nói cách khác, cần lao nhân
vị là đặt giá trị con người trên việc làm, và con người lấy việc
làm để củng cố chỗ đứng của ḿnh giữa trời và đất."
Tác giả Nguyễn Phương nêu ra thông điệp của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II có tên Laborem Exercens (con người làm việc)
trong đó Đức Giáo Hoàng đặt vấn đề lao động trên một nền tảng
chưa chủ thuyết kinh tế hiện có nào đă đặt, nh́n con người qua
việc làm, bất cứ việc làm này thuộc phạm vi vật chất hay tinh
thần. Xin thử trích một vài đoạn từ thông điệp
Laborem
Exercens: "Khi chúng tôi nói đến sự tương phản giữa lao động
và tư bản, không phải chúng tôi nói đến một quan niệm trừu tượng
hay một mănh lực phi vị (impersonal) đang chuyển hành trong cuộc
sản xuất kinh tế. Đàng sau cả hai quan niệm đó (lao động và tư
bản) vốn có con người sống động, con người như thấy được trong
thực tế của cuộc đời."
V́ đó, theo tác giả Nguyễn Phương, vấn đề lao động trở thành vấn
đề cần lao, nó không c̣n là nô lệ của lợi tức như trong chủ
thuyết tư bản, hay nô lệ của đảng phái, như trong chế độ Cộng
Sản, mà nó là của con người làm việc, của xă hội loài người.
Thông điệp đề cập đến một lối xă hội hóa gọi là xă hội hóa thỏa
đáng (satisfactory socialization) khác hẳn với lối xă hội hóa
với nhà nước hay đảng làm chủ nhân ông của Cộng sản. Xă hội hóa
thỏa đáng là đem một số các phương tiện sản xuất làm của chung
nhưng dưới sự điều động của cần lao và tư bản. Như thế sẽ thực
hiện được chủ thuyết bảo toàn giá trị con người, mà thông điệp
gọi là thuyết nhân vị (personalism).
Với chính sách đặc thù của Cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, Cần Lao
Nhân Vị là "một chính sách được tŕnh bày với màu sắc của địa
phương. Con người không được quan niệm như là tối thượng, mà là
một loại đầu đội Trời chân đạp đất. Ở trong tam tài Thiên Địa
Nhân, con người không thể nào hơn Ông Trời, nhưng lại không thể
nào thua vật chất. Đất, và tất cả những ǵ thuộc về đất, là để
phục vụ con người. Đàng khác, con người không thể hoàn tất phận
sự của ḿnh nếu không sử dụng vật chất. Cần lao, sự chăm chú làm
việc, cốt là để thể hiện giá trị con người, cốt là để tô bồi chỗ
đứng của con người. - NHÂN VỊ - khoảng giữa trời cao và đất rộng.
Trong xă hội CẦN LAO NHÂN VỊ, cố nhiên không có cảnh con người
làm nô lệ con người, huống hồ là làm nô lệ phương tiện sản xuất.
Nơi đây, chỉ có đồng lao cộng tác để thành tựu cuộc cách mạng
NHÂN VỊ, nó ăn cả về chiều cao, chiều rộng và chiều sâu. Về
chiều sâu, con người cần lao luyện tập cho có thành tâm thiện ư.
Phải tu thân đă mới mong tề gia và b́nh thiên hạ. Việc cách mạng
phải ăn cả về chiều rộng, v́ con người cần phải tri kỷ, tri nhân,
cho nên phải sống trong cộng đồng và phải cùng nhau đồng tiến.
Chiều cao của cuộc cách mạng nhân vị là nhờ cần lao mà vươn lên,
vươn đến Chân, Thiện, Mỹ để thông cảm với Đấng Trên Đầu Trên Cổ,
với Thượng Đế. Trong chính sách cần lao nhân vị, con người sẽ
làm viên măn điều mà "bổn phận và lương tri" bảo phải làm trong
bất cứ trường hợp nào (nên nhớ lại lời Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm trả lời cho Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge chiều ngày 1 tháng 11
năm 1963, khi cụ Diệm hỏi đại sứ này về thái độ của Washington
với cuộc chính biến)." [7]
Để thấy những liên hệ nhân quả của chủ thuyết nhân vị đối với
biến cố Tết Mậu Thân về sau, thiết tưởng nên đọc thêm một số các
tư liệu sau đây nói về chính sách, kế hoạch quốc gia của VNCH
lúc bấy giờ:
"Thuyết Nhân Vị Á Đông do ông (Ngô Đ́nh Nhu) đề xướng được ông
giản lược bằng phương tŕnh sau đây:
TAM TÚC + TAM GIÁC = TAM
NHÂN
Và ông giải thích vắn tắt:
A. TAM TÚC là:
1.- Tự túc về Tư Tưởng là tự ḿnh suy luận, cân nhắc mà
lựa chọn một chính nghĩa để phụng sự và một khi đă chọn rồi th́
không c̣n lay chuyển nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạng chính
trị, xă hội, quân sự mà ta đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến
Lược. Sau đó ta tự phát huy chính nghĩa trong tâm hồn, tự học
tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần ai thôi thúc. Tự
túc về tinh thần, về tư tưởng, th́ tất nhiên trong mọi trường
hợp khó khăn ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở Thủ Đô Sài
G̣n chăng nữa, th́ ta cũng không bị hoang mang hay bị lung lạc.
Tự túc về tư tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa. Muốn
được vậy th́ phải:
2.-
Tự túc về Tổ chức và Tiếp Liệu, là tự ta t́m ṭi,
phát huy sáng kiến để có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không
ỷ lại vào sự giúp đỡ của người khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta
một số vốn căn bản, dựa vào đó ta t́m cách biến cải thêm để hành
động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện giờ ta thiếu
kẽm gai để làm Áp Chiến Lược, th́ ta cố gắng t́m vật liệu khả dĩ
làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng bào Thượng đă
làm trên cao nguyên); hoặc dùng địa h́nh địa vật để lồng hệ
thống bố pḥng ACL vào trong đó, đỡ cần đào hào hay rào kẽm gai.
Muốn thực hiện Tự túc về Tổ chức th́ cần phải:
3.- Tự túc về Kỹ thuật, là phát huy khả năng chiến đấu,
và khai thác, phát triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến
tột mức 100 phần trăm.
Ba bộ phận của Tam túc có liên hệ mật thiết với nhau: muốn Tự
túc về Tổ chức mà không Tự túc về Kỹ thuật th́ Tổ chức không
thành; thiếu Tự túc Tư Tưởng th́ tất nhiên sẽ không có Tự túc Tổ
Chức và Tự túc Kỹ Thuật. Từ quan niệm Tam Túc đó phát sinh ra
quan niệm Tam Giác.
B. TAM GIÁC là:
1.- Cảnh giác về Sức Khỏe (thể xác) nghĩa là không được
đau ốm. Do đó ta phải tránh tất cả những việc làm phương hại cho
thân xác ta như đau ốm, tứ đổ tường. Bảo đảm sức khỏe th́ mới
bảo đảm được khả năng làm tṛn nhiệm vụ.
2.- Cảnh giác về Đạo Đức và Tác Phong Đạo Đức, v́ tác
phong và đạo đức là điều kiện cốt yếu của cán bộ, thiếu tác
phong đạo đức sẽ chi phối tư tưởng, sẽ biến khả năng làm việc
thiện ra việc ác, chưa kể việc thất nhân tâm.
3.- Cảnh giác về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng
tác khả năng chiến đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.
Vậy, không có sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc
sáng tạo và thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc
sáng tạo th́ dù có sức khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng
bồi bổ vào sự thiếu thốn nhân vật lực, là t́nh trạng của một
nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo, nhưng không có đạo
đức, th́ sức khỏe ấy, óc sáng tạo ấy, sẽ phục vụ cho phi nghĩa,
không phải cho chính nghĩa..." [8]
Thật sự các nhà lănh đạo của nền Đệ nhất Cộng ḥa đă thấy được
sự cần thiết của một thứ vũ khí tư tưởng trong cuộc chiến tranh
ư thức hệ đối diện với Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tiếc
thay đang khi họ mang hoài băo để huấn luyện và trang bị cho cán
bộ và nhân dân Miền Nam thứ vũ khí cần thiết này, th́ Hoa Kỳ,
người bạn đồng minh của chúng ta, đă không chia sẻ cùng một tâm
thức như vậy.
1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.
Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến
chính sách Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà
lănh đạo của nền Đệ nhất Cộng ḥa đă có một cái nh́n xuyên suốt
trong chính sách an dân của ḿnh.
Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm kư nghị định số 928-NV
thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong
Nội các, do ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, v́
số người Công Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên
có một tổ chức cứu trợ tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do
Giám mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc
để vào miền Nam là 875, 478 người và họ được đưa đến Sài G̣n,
Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi định cư các nơi khác tùy ư họ
lựa chọn.
Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ
nhất Cộng Ḥa và một khi đă bị giải thể hay bị chính quyền kế
tiếp coi như là một thứ con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời
Đệ nhị Cộng Ḥa) tất nhiên sự kiện đó đă góp thêm rất nhiều yếu
tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân, mà rơ ràng nhất là hệ
thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và
nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến
lược là sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đă
một thời khốn đốn không hoạt động được ǵ hữu hiệu. Thật ra việc
gom dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quư báu của tiền nhân
trong lúc đất nước có chiến tranh. Người có sáng kiến tiên khởi
về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tĩnh Man Tiễu Phủ Sứ Nguyễn
Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngăi. Năm 1863, Nguyễn Tấn đă áp
dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá Vách, Quảng
Ngăi. Một sử liệu của Triều Nguyễn,
Đại Nam Thực Lục, đă
ghi lại như sau:
"Mới đặt chức Tiễu phủ sứ ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngăi. Phàm
các việc quan hệ đến sự pḥng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải,
lấy lương, gọi lính sát hạch, th́ cùng bàn với chánh phó lănh
binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư. Lấy người hạt ấy là
Nguyễn Tấn lănh chức ấy. Tấn trước đây thự án sát Thái Nguyên,
khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung
hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong.
Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn
cho thăng hàm thị độc sung lănh chức ấy, cấp cho ấn quan pḥng
bằng ngà. Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân
cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du,
phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi th́, tham
chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cơi ven một hay
hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngơ cho bền vững. Nếu có lấn
vào ruộng đất của ai th́ trừ thếu cho. C̣n 1, 2 nhà nghèo, ở
riêng một nơi hẻo lánh, th́ khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ
nhà dời về trong khu; c̣n đất ở th́ không cứ là đất công hay đất
tư đều cho làm nhà để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy,
liệu nơi nào hơi đông người th́ bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu
háo (ít dân), th́ phái quân đến pḥng giữ, ngăn chận, dần dần
tiếp tục làm, để thư sức dân." [9]
|
|
|
thành phố đổ nát |
Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế
độ Cộng Ḥa đă được khai sinh cùng với các quốc sách được ban
hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược nhằm giải quyết cho công
cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào nam và
sau đó để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản
tái hoạt động ở các vùng nông thôn miền nam.
Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam
(1954-1994), tác giả Lâm Thanh Liêm đă viết về Khu trù mật
như sau: "Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính
quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống trong những
thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ
không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm
lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân
sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng
thời cô lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không
thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500
dân, có hạ tằng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố:
* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và
tiệm buôn bán).
* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xă hội (một bảo
sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung
học cấp I, một pḥng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).
Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn
lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất
đai trù phú, gần các trục giao thông).
* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng
có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong
tương lai, các thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lănh vực
dịch vụ khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ lên hệ với
ngành nông nghiệp địa phương.
* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh
sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện
nhiều công tŕnh phục vụ nhân dân, ít đ̣i hỏi nhiều đầu tư hơn
h́nh thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy
nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)
Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm
lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong
Khu Trù Mật, chính quyền địa phương c̣n trang bị vũ khí cần
thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn",
ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.
Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm
có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một
thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù
Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm
tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đ́nh định
cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu
do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một
chuồng gà. Mỗi gia đ́nh có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một
mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh." [10]
Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết
Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật v́
ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu
trù mật được xây dựng ở những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo
một con đường chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều
cho việc chuyển quân của Cộng Sản. [11]
Trong tác phẩm Ngo Dinh Diem en 1963: Une autre paix manquée,
tác giả Nguyễn Văn Châu, cựu Trung tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến
Tranh Tâm Lư, Bộ Quốc Pḥng cho rằng sự chỉ trích chính quyền về
Khu trù mật chỉ nhắm vào những chuyện xấu về nhân sự, và dư luận
đối lập đi xa hơn nữa cho rằng chính quyền ép buộc dân bỏ làng
mạc nhà cửa. [12]
Đối với bài học lịch sử cũ về Ấp chiến lược, thiết tưởng cần đọc
Suzanne Labin, một nhà văn kiêm phân tích gia vốn nhiều lần tới
thăm Miền Nam Việt Nam trong thời gian Đệ nhất Cộng ḥa, từng
được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tiếp kiến nhiều lần, đă có những
buổi thuyết tŕnh chính trị tại Sài G̣n và nói chuyện tại một số
tỉnh. Trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness account (bản
tiếng Pháp nhan đề Vietnam, révélation d'un témoin),
Suzanne Labin từng viết: "Khi nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn ấp
chiến lược đă được thành lập xong và đang vận hành, với dự trù
khoảng bốn ngàn ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân
sống rải rác dọc theo các con kênh, được yêu cầu dời chuyển để
qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung theo kiểu Âu châu. Mỗi
làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai hoặc hàng rào tre
vót nhọn đằng sau có tăng cường hệ thống hào rộng gài ḿn để
chận đứng Việt Cộng ṃ vào ban đêm. Trong ấp, mỗi gia đ́nh đều
được khuyến khích đào một hầm trú ẩn ngay trước nhà họ. Tại sao
vậy? Khi Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ
nên chạy tứ tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi bắn
cả vào người nhà ḿnh. Từ khi có hầm trú, người già và trẻ con
cứ việc núp dưới hầm để xạ trường quang đảng cho lực lượng chiến
đấu hành sử.
"Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và
tùy theo khả năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt. Lực
lượng tự vệ và thanh niên cộng ḥa là những đơn vị chiến đấu;
những dân làng khỏe mạnh khác th́ tham gia công tác pḥng vệ,
thanh thiếu niên th́ vót chông. Người có nhiệm vụ chiến đấu được
cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên ḿnh ngay cả khi ở nhà. Nhiều
làng mạc được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên thanh.
Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến
lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công.
Nhiệm vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù, vô hiệu hóa
chúng ngoài các vành đai của ấp, cố ngăn chúng không lủi mất vào
rừng trong khi lực lượng chính quy kéo tới. Bấy giờ, Việt Cộng
thấy quá khó khăn khi xâm nhập một vùng dân cư có pḥng thủ và
ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại." [13]
Bà Suzanne Labin c̣n nhắc lại câu nói có tính cách cô đọng của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rằng: "...để nghiền nát quân thù giữa
CÁI BÚA của sức mạnh cơ động và H̉N ĐE của các ấp chiến lược."
[14] Bà cho rằng ấp chiến lược chính là tâm điểm của một cuộc
cách mạng chính trị và xă hội : đó là lư do tồn tại của Ấp chiến
lược v́ đă đưa lại một nền tảng vững chắc cho sự tiến bộ về kinh
tế. [15]
Chính sách Ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 với sự cố
vấn của Sir Robert Thompson, chuyên viên về chiến thuật phản nổi
dậy người Anh cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis
Duncanson được kể là một kế hoạch táo bạo nhất của Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm.
Nhận định tổng quát về kết quả của chính sách Ấp chiến lược, tác
giả Nguyễn Văn Châu đă khẳng định: "Quốc sách Ấp chiến lược sau
hai năm đă thành công trong việc ngăn chặn làm cho Việt Cộng
không c̣n sống bám rút ḅn nhân dân. Vấn đề an ninh làng ấp được
vững vàng hơn, quân đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng
hành quân chủ động gây cho du kích cộng sản nhiều thất bại đáng
kể, khiến cho các lực lượng du kích rơi vào thế bị động và mất
thăng bằng sau khi đă mất hạ tầng cơ sở. Tinh thần quân đội quốc
gia lên cao, dân chúng được bảo vệ an ninh và du kích Việt Cộng
càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam
Cộng Ḥa." [16]
Trong một bài báo mới đây nhan đề ''40 năm ngày đảo chính chế độ
Ngô Đ́nh Diệm: Cái nh́n từ Hà Nội", tác giả Bùi Tín, cựu Đại tá
quân đội CSBV, Phó chủ nhiệm tờ báo
Nhân Dân Chủ Nhật đă
phải xác nhận ưu thế của quốc sách ấp chiến lược gây cho lực
lượng xâm lăng của Cộng Sản nhiều khó khăn và thất bại trước đây,
đă thẳng thắn bày tỏ rằng: "Cùng với thời gian và sự t́m hiểu
những tư liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ công bằng
cho nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân
vật chính trị đặc sắc, có ḷng yêu nước sâu sắc, có tính cương
trực thanh liêm, nếp sống đạm bạc giản dị." [17]
Một khi chính sách Ấp chiến lược đă bị nhóm tướng lănh làm đảo
chánh giải thể, an ninh nông thôn bị bỏ ngỏ trăm phần trăm th́
việc lực lượng vơ trang VC xâm nhập thành phố một cách rất dễ
dàng như sẽ thấy qua vụ Tết Mậu Thân thiết tưởng cũng là điều dễ
hiểu. Nhóm quân phiệt cầm quyền chỉ cần có chỗ dựa là Hoa Kỳ mà
không cần chỗ dựa cốt yếu là nhân dân. Bởi thế cho nên khi Hoa
Kỳ bàn giao một nửa đất nước Việt Nam vào tay Cộng Sản, bọn họ
chỉ có việc im lặng thi hành và một vài lời phản đối chỉ là cử
điệu chiếu lệ, giả dối mà thôi.
1.3. Công tác t́nh báo
Nhắc lại các hoạt động t́nh báo thời Đệ nhất Cộng Ḥa để thấy
rằng qua biến cố Tết Mậu Thân như chúng ta sẽ bàn đến trong phần
sau, dư luận đă lên án việc Hoa Kỳ và chính quyền của Đệ Nhị
Cộng Ḥa đă không coi trọng vấn đề t́nh báo trước các hoạt động
của CS. Chính nhờ công tác t́nh báo được thực hiện rốt ráo dưới
thời Đệ nhất Cộng Ḥa đă bảo đảm cho sự vững mạnh của chế độ
trong một thời gian dài.
Cơ quan t́nh báo trung ương cần nói tới dưới thời Đệ Nhất Cộng
Ḥa là Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xă Hội của bác sĩ Trần Kim Tuyến,
trực thuộc Phủ Tổng Thống tức là CIA/VN do sự gợi ư của Hoa Kỳ.
Tác giả Vĩnh Phúc trong cuốn Những huyền thoại & sự thật về
chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă viết nhiều về Sở Nghiên Cứu Chính
Trị Xă Hội, cho biết có sự bất đồng giữa người Mỹ và hai ông
Nhu-Tuyến về hoạt động của sở này, thí dụ "phía VNCH muốn thả
người ra ngoài Bắc để phá hoại, rải truyền đơn tuyên truyền về
chính trị... trái lại Mỹ chỉ muốn tung người ra, cho nằm yên,
len lỏi vào các hàng ngũ quần chúng, chính quyền và nếu có thể
th́ cả tổ chức Đảng, để t́m hiểu. Tuyệt đối không được có hành
động phá hoại. Chỉ cần nằm cho thật yên, ghi nhận, và nếu được
th́ t́m cách leo càng cao, lặn càng sâu, càng tốt. Để đến khi
nào hữu sự, cần thiết, th́ mới ra tay hành động. Nhưng vẫn không
phải là các công tác phá hoại. Người Mỹ đă huấn luyện nhân viên
Việt Nam cách sử dụng các loại máy truyền tin, cách đưa tin,
cách chôn giấu tài liệu, vũ khí, cách sử dụng hóa chất trong
ngành t́nh báo..." [18]
Ông Trần Kim Tuyến điều khiển, là một người tương đối trong sạch,
có đạo đức, nhiệt tâm làm việc. Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xă Hội
do ông điều khiển, có trên 500 nhân viên, mặc dù bị vài người
trong bộ máy lănh đạo chính quyền ghét nhưng cũng đă làm được
nhiều việc trong lănh vực an ninh, t́nh báo.
Sau ngày chế độ Đệ nhất Cộng Ḥa sụp đổ, báo chí nói nhiều về tổ
chức "mật vụ Ngô Đ́nh Cẩn" tại Miền Trung nhưng hoàn toàn không
biết một chút ǵ về tổ chức này, nên đă viết với giọng điệu vu
khống, xuyên tạc đầy ác ư.
Trong tác phẩm
Ḍng họ Ngô Đ́nh, ước mơ chưa đạt tác giả
Nguyễn Văn Minh cho biết vào nửa năm đầu năm 1957, ông Ngô Đ́nh
Cẩn đă đề nghị lên Tổng Thống Diệm xin cho ông thực hiện một
chính sách được ông gọi là "Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người
Kháng Chiến Cũ", "Để giúp thành phần này dễ dàng thấu hiểu và
chấp nhận chính sách, ông cho áp dụng kỹ thuật khai thác và chế
độ giam giữ đặc biệt đối với những người bị bắt. Danh từ CHIÊU
MỜI sau được đổi là CẢI TẠO theo đề nghị của các cán bộ Cựu
Kháng Chiến." [19]
Sau khi đề nghị được chấp thuận, ông Ngô Đ́nh Cẩn giao cho Dương
Văn Hiếu thành lập Đoàn Công Tác Đặc Biệt gồm có 10 nhân viên
với chủ trương cùng ăn chung, ở chung, chơi chung, ngủ chung với
tù nhân Cộng Sản. Đoàn được tổ chức thành 4 ban: nghiên cứu,
tuyên huấn, cải tạo, quản trị. Sau đây là ghi nhận của Dư Văn
Chất, một cán bộ t́nh báo của CS trong cuốn
Người Chân Chính:
"Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là một "siêu tổ chức"
với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so sánh được.
Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với các phương thức
hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và tàn bạo. Trong cái nhà tù
không song sắt, Công an Mật vụ cùng với kháng chiến Việt Cộng,
ăn chung, ngủ chung, chơi chung và công tác chung. Chuyện khó
tin mà có thật, và chỉ có được trong thời điểm lịch sử nhất định.
Bắt đầu từ cuộc đấu tranh chính trị đ̣i hiệp thương tổng tuyển
cử cho tới tiếng súng đồng khởi hạ màn kết thúc. Thành tích
chống Cộng của Mật vụ Ngô Đ́nh Cẩn - Dương Văn Hiếu thật diệu kỳ.
Chúng đánh phá thẳng vào các cơ quan đầu năo của các Đảng bộ
miền Trung như Liên khu Ủy khu Năm, tỉnh ủy Thừa Thiên, thành ủy
Huế rồi Đà Nẵng. Tiến xuống phía Nam, chúng tấn công cơ sở đặc
khu Sài G̣n Chợ Lớn, Thủ Biên, Cần Thơ. Nổi bật nhất là mật vụ
miền Trung đánh bắt gọn các lưới t́nh báo chiến lược của ta trải
suốt từ Bến Hải tới Sài G̣n trong ṿng chỉ có một năm." [20]
Theo tác giả Nguyễn Văn Minh, do phương pháp khai thác độc đáo,
chế độ nhà tù đặc biệt chưa từng có, chính sách “Cải Tạo Và Sử
Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” đă thâu đạt được kết quả gây
ngạc nhiên cho mọi người. Năm 1985, tôi có ở chung trại tù Nam
Hà (tỉnh Hà Nam Ninh) với ông Lê Phước Thưởng, một cán bộ phái
khiển của VC về đầu thú chính quyền quốc gia thời ông Ngô Đ́nh
Cẩn. Trong câu chuyện, ông Lê Phước Thưởng luôn luôn tỏ ra kính
phục ông Ngô Đ́nh Cẩn, và đúng như tác giả Nguyễn Văn Minh viết,
ông Thưởng sẵn sàng đánh lộn với những ai nói xấu ông Cẩn hoặc
Đoàn Công Tác Đặc Biệt. [21]
Một cơ quan khác cũng chuyên lo về vấn đề an ninh, t́nh báo
trong quân đội, đó là Nha An Ninh Quân Đội đặt tại Thủ đô Sài
G̣n, và tại mỗi tỉnh đều có một Ty An Ninh Quân Đội phụ trách
công tác này tại địa phương. Theo Tú Gàn trong bài báo “Sớm đầu
tối đánh”, trong thời gian Đỗ Mậu làm Giám Đốc An Ninh Quân Đội,
v́ biết khả năng kém cỏi của Đỗ Mậu nên "ông Ngô Đ́nh Nhu đă
giao cơ quan này cho bộ ba Tống Đ́nh Bắc (nguyên Trưởng Ty Đặc
Cảnh Miền Bắc), Tống Tấn Sĩ và Nguyễn Văn Minh phụ trách mọi
công việc, v́ Đỗ Mậu chẳng biết ǵ. Đỗ Mậu chỉ có nhiệm vụ theo
dơi và báo cáo. Thỉnh thoảng Đỗ Mậu cũng được giao cho một số
công tác đặc biệt, nhưng Đỗ Mậu thường làm hỏng hoặc làm không
đến nơi đến chốn." [22]
Nói chung, các hoạt động t́nh báo dưới thời Cố Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă tỏ ra hữu hiệu, không như t́nh báo dưới thời của
Tướng Nguyễn Văn Thiệu, v́ nhân viên về sau kém khả năng, làm
việc chiếu lệ, không có tinh thần nghề nghiệp và ḷng nhiệt
thành như thời gian Đệ nhất Cộng Ḥa.
Về tác phong của vị lănh đạo của người đă khai sáng ra chế độ
Cộng Ḥa, sử gia John M. Newman trong cuốn Tổng Thống John F.
Kennedy và cuộc chiến Việt Nam đă ghi: "Khoảng đầu năm 1957
ông Diệm, bây giờ là quốc trưởng, đă dùng quyền hành của ḿnh để
chế ngự các giáo phái bất phục tùng và nghiền nát các chi bộ
Việt Minh ở đồng bằng sông Cửu Long; những thành tích này khiến
tổng thống Eisenhower ca tụng ông ta là CON NGƯỜI THẦN KỲ của Á
Châu." [23]
Minh Hùng, tác giả Đời một tổng thống, in tại Sài G̣n năm
1971, đă có ghi lại lời phát biểu của cụ Phan Bội Châu về việc
ông Diệm rũ áo từ quan năm 1933 như sau: "Ông Ngô Đ́nh Diệm, con
người có tâm huyết, biết thương giống ṇi, biết nhục vong quốc,
nên ông dám chống lại cường quyền, lui về ẩn tích, đợi thời
tuyết sỉ. Đó mới là đáng bậc CHÍ SĨ, VĨ NHÂN, tất sau này cuộc
Phục Hưng chỉ có hạng người ông Diệm mới làm nổi... Ta muốn tặng
ông Diệm một bài thơ để tỏ ḷng kính trọng bậc thiếu niên hiền
triết... Ông Diệm bây giờ mới là ông lớn thật sự.” [24]
Trong cuốn hồi kư Honorable Men/My life in the CIA,
William E. Colby đă từng làm trưởng nhiệm CIA tại Sài G̣n từ
tháng 6 năm 1960 đến 1962, đứng đầu ngành CIA từ năm 1973 đến
1975, đă viết về Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và chính sách của ông
như sau: “...Sau khi tŕnh bày cho giám đốc McCone nghe, tôi
cùng ông tới ṭa Bạch Ốc trong chiếc Limousine của ông và tôi đă
thú nhận với ông ta rằng cái chết của hai ông (Diệm Nhu) làm cho
riêng cá nhân tôi rất đau ḷng; tôi đă từng quen biết họ và kính
trọng cả hai người; tôi là một trong số rất ít người Mỹ đă có
cảm t́nh đó, đặc biệt là về phần ông Nhu...” [25]
Trong tác phẩm Ngô Đ́nh Diệm lời khen tiếng chê, Minh Vơ
đă đọc vào chương 5 “Ấp chiến lược tại Việt Nam” ở sách của
Colby, cho biết Colby đă nói nhiều về tính cương nghị và cái uy
của ông Diệm biểu lộ trong những cuộc khủng hoảng chính trị và
gọi ông Diệm là nhà ĐỘC TÀI NHÂN TỪ: “Thực vậy, ông Diệm điều
hành công việc như một ông quan cai trị. MỘT NHÀ ĐỘC TÀI CÓ
THIỆN TÂM (hay nhân từ, theo soạn giả), dùng quyền lực ép dân
phải bắt tay vào công cuộc phát triển (cộng đồng), v́ lợi ích
của chính họ, bất chấp họ nghĩ ǵ về điều đó, độc đoán, thiếu
dân chủ. Ông ta dùng - nhưng lại than phiền về - hệ thống thư
lại do Pháp đào tạo vào công việc đó, v́ ông tin rằng nó sẽ có
thể được cải tiến dần dần và sẽ được thay thế bằng lớp người sắp
tốt nghiệp từ những trường huấn luyện về hành chánh, quản trị
của Mỹ.”
Ở một đoạn khác Colby viết: “Rơ ràng đây là giai đoạn đầu của
“chiến tranh nhân dân”, (Cộng sản đang) động viên và tổ chức các
lực lượng để dùng vào cuộc chiến. Và rơ ràng ở điểm này sự thách
thức có tính chính trị và khuynh đảo, chứ không phải là thứ cần
đến các bộ tư lệnh sư đoàn hay quân đoàn để đối phó. Mặt khác
cuộc thách thức chính trị, tuy vậy, cũng chẳng phải là loại mà
giới thượng lưu trí thức có thiện ư nhưng không có thực lực (cơ
sở chính trị) ngồi trong khách sạn Caravelle để ra tuyên ngôn,
kêu gọi lập “chính phủ lương thiện, công chính”, “một quân đội
anh dũng được phấn chấn bởi một tinh thần duy nhất”, và một nền
kinh tế “phồn vinh”, miễn là chính phủ thay đổi đường lối. Và
như vậy, theo ư tôi, những khuyến cáo có tính mệnh lệnh của ṭa
Đại Sứ Mỹ ép ông Diệm phải bổ nhiệm những người chống ông vào
trong chính phủ, và cổ vơ một cuộc điều tra của quốc hội theo
kiểu Mỹ xem ra rất không xác đáng. Theo thiển ư của tôi, cuộc đọ
sức thực sự lúc ấy là ở thôn xă. Những vấn đề căn bản hơn nằm ở
đó.” [26]
Nhận xét của Colby được ghi nhận như sau khi ông tới thăm các
vùng thôn quê Việt Nam: “Đường xá được mở lại. Số trường học
tăng nhanh ở thôn quê. Chương tŕnh ngũ niên xịt thuốc diệt muỗi
được khởi sự để thanh toán bệnh sốt rét rừng. Sức sản xuất lúa
gạo bắt đầu tăng... Những tiến bộ về kinh tế, xă hội lúc đó đă
xuống đến nông thôn... Đặc biệt kế hoạch “Khu trù mật” năm 1959,
là kế hoạch được ông Diệm nâng niu nhất, bắt đầu với nhiều hứa
hẹn. Những “đô thị” nông nghiệp được xây dựng trên phần đất
truất hữu của địa chủ theo chương tŕnh cải cách điền địa và
được chia thành những khu trung tâm dân cư và vùng ruộng lúa...”
[27]
Nhưng chỉ một vài ngày sau biến cố 1-11-1963, Dương Văn Minh và
nhóm tướng lănh cầm đầu cuộc đảo chính đă cho lệnh phá bỏ 16.000
Ấp chiến lược, thả lỏng ṿng rào kềm chế cho Việt Cộng mặc sức
tung hoành ở nông thôn Miền Nam, bỏ tổ chức nghĩa quân, dân vệ,
khiến Hoa Kỳ có cơ hội đổ quân ồ ạt vào Việt Nam, và chưa đầy 5
năm sau đă tạo một môi trường hết sức thuận lợi cho VC tiến hành
cái gọi là cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa với những hệ
lụy rất trầm trọng. Tướng Tôn Thất Đính c̣n tuyên bố: "Ấp chiến
lược đem lại ấm no nhưng không đem lại hạnh phúc".
Với cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu,
những nhà lănh đạo xuất sắc và tâm huyết của Việt Nam Cộng Ḥa,
Hoa Kỳ đă đạp đổ một mẫu người thần tượng lănh đạo của Miền Nam
Việt Nam, những đối thủ đă từng gây lo sợ cho chính quyền miền
Bắc của Hồ Chí Minh, và đặt lên một nhóm tướng lănh mà chính
Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson mệnh danh là lũ côn đồ ác ôn đáng
nguyền rủa (a goddam bunch of thugs), số phận của Miền
Nam như vậy là đă được tính toán từ trước. Và biến cố Mậu Thân
xảy ra cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên đối với ai có
những chú tâm theo dơi thời cuộc lúc bấy giờ. Khi được tin ông
Diệm bị lật đổ và bị giết, Hồ Chí Minh đă nói với kư giả Wilfred
G. Burchett: "Tôi không ngờ rằng tụi Mỹ ngu đến thế". Ellen J.
Hammer trong cuốn A Death in November cho biết: "Đài phát
thanh Hà Nội đă trích dẫn báo Nhân Dân nói rằng do sự lật
đổ Ngô Đ́nh Diệm và em ông là Ngô Đ́nh Nhu tụi đế quốc Mỹ đă tự
ḿnh hủy diệt những cơ sở chính trị mà họ đă mất biết bao năm để
xây dựng." [28]
2. Biến cố Tết Mậu Thân, một bước ngoặt trong chiến tranh
Việt Nam
Trong cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc Việt Nam, tác phong
của người lănh đạo đất nước, vấn đề ư thức hệ, vị trí nông thôn
và thành thị, công tác t́nh báo, vai tṛ của nhân dân, các lực
lượng đồng minh là những yếu tố quan trọng quyết định thành công
hay thất bại và có những hệ lụy mang tính lịch sử. Ở miền nam
Việt Nam, các yếu tố vừa kể dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa c̣n để
lại nhiều ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đối với nền Đệ
Nhị Cộng Ḥa phản ảnh qua biến cố Tết Mậu Thân được gọi dưới
danh xưng có tính cách quân sự là cuộc Tổng Công Kích - Tổng
Khởi Nghĩa.
2.1. Các mục tiêu chiến lược của Cộng Sản Miền Bắc trong
cuộc TCK-TKN.
Trong quá tŕnh điều động cuộc chiến tranh “giải phóng” miền Nam
của Cộng Sản Hà Nội, cần chú trọng đến ba thời điểm quyết định
chiến tranh năm 1959, gia tăng chiến tranh năm 1963 và cuộc tấn
công Tết Mậu Thân năm 1968 của phe chủ chiến tại Miền Bắc.
Trước tiên, cần phải thấy rằng trong nội bộ của giới cầm quyền
CSVN đă xuất hiện một sự tranh chấp về quan điểm chính trị giữa
phe “ôn ḥa” và phe “chủ chiến”. Trong bài viết “Bộ Chính trị
chiến tranh: Đường lối chính trị và ngoại giao của Bắc Việt
trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968”, vốn dựa theo một chương
trong luận án tiến sĩ của tác giả, Liên Hằng T. Nguyễn là Phó
giáo sư (Assistant Professor) khoa Sử, Trường Đại học Kentucky,
Hoa Kỳ, được dịch giả Vy Huyền chuyển ngữ như sau: “Khi cuộc
chiến thứ hai ở Đông Dương vừa bắt đầu, trong nội bộ Đảng nổi
lên những phe phái chống đối nhau, có thể tạm chia thành hai phe
đối lập, nhưng không đồng nhất, như sau: Phe thứ nhất gồm những
người muốn tập trung xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xă hội
và phe thứ hai gồm những người muốn tiến hành chiến tranh cách
mạng ở miền Nam. Ở bộ phận cao nhất trong đảng, sự chia rẽ này
vô cùng hỗn tạp, trong đó những đảng viên cấp trung kiên định
hơn với lập trường của ḿnh. Mặc dù các “phe phái” lỏng lẻo này
nhất trí với mục đích cơ bản là thống nhất đất nước, họ bất đồng
trong quan điểm về sự cân bằng thích đáng giữa đấu tranh quân sự,
chính trị và ngoại giao để đi đến chiến thắng cuối cùng. Phe “ôn
ḥa” hay c̣n gọi là phe những người chủ trương xây dựng miền Bắc
muốn ưu tiên xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc, với mục tiêu
đánh bại miền Nam bằng kinh tế và ngoại giao; phe “chủ chiến”
hay c̣n gọi là phe ủng hộ chiến tranh ở miền Nam tin tưởng rằng
vũ lực là cách duy nhất để giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước. Vào những năm 1960, các cuộc tranh căi không chỉ nằm trong
giới hạn ở Việt Nam mà c̣n lan rộng hơn, liên quan cả đến mối
bất ḥa trong mối quan hệ Nga-Trung. Phe ôn ḥa muốn áp dụng
chính sách cùng tồn tại trong ḥa b́nh của Moscow, trong khi đó
phe chủ chiến muốn thúc đẩy chủ trương dùng vũ lực của Bắc Kinh.
Cuộc tấn công TMC là dấu hiệu chấm dứt những cuộc tranh căi gay
gắt gần một thập niên trong nội bộ ĐLĐVN.” [29]
Điểm quan trọng mà tác giả Liên Hằng T. Nguyễn không quên nhắc
tới, đó là: “Đến năm 1963, nhờ vào t́nh h́nh biến động ở Sài G̣n
và Bắc Kinh, phe chủ chiến có cơ hội đẩy mạnh chiến tranh. Với
mối rạn nứt ngày càng lớn trong thế giới cộng sản, phe chủ chiến
nhân cơ hội đó tăng cường chiến tranh tại miền Nam đang ngày một
nóng bỏng.” [30]
Biến động ở Sài G̣n năm 1963 chính là việc binh biến lật đổ Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm, việc Dương Văn Minh và nhóm tướng lănh phá
bỏ 16.000 ấp chiến lược và cơ chế nghĩa quân, dân vệ tại nông
thôn miền Nam, việc một số cán bộ t́nh báo Cộng Sản bị chính
quyền Đệ Nhất Cộng Ḥa bắt giam từ trước hoặc xâm nhập trong
hàng ngũ Phật Giáo qua biến cố 1963 được trả lại tự do và trở
vào bưng hoạt động trở lại.
Phe chủ chiến là những người hưởng được kết quả trong việc
chuyển đổi quyền lực xuất phát từ những biến cố lịch sử ở miền
Bắc là cuộc Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) và Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP).
Cuối tháng 9 năm 1956, trong phiên họp toàn thể lần thứ 10 của
Ủy Ban Trung Ương ĐLĐVN, do những thất bại trong CCRĐ, Trường
Chinh phải từ chức Tổng Bí Thư. Quyền lực chuyển sang Lê Duẩn.
Trong Đại Hội lần thứ ba Đảng Lao Động Việt Nam tổ chức vào
tháng chín năm 1960, 576 đại biểu đă chọn Lê Duẩn làm Tổng bí
thư và là người đứng đầu Bộ chính trị.
Vấn đề đặt ra là tại sao Vơ Nguyên Giáp, người mà hào quang Điện
Biên Phủ c̣n chói sáng ở miền Bắc trong ḷng bộ đội và nhân dân
lại không được cử vào chức vụ đó mà đại hội lại chọn Lê Duẩn?
Trong hồi kư Hoa Xuyên Tuyết, Bùi Tín cho rằng “Ưu thế
của ông Lê Duẩn là v́ ’một tiêu chuẩn tất nhiên hồi ấy, ở tù lâu
năm, một bằng cấp cần thiết để được giao quyền cao chức trọng,
v́ từ đó được coi là được thử thách nhiều hơn, đáng tin cậy hơn.”
[31]
Hoàng Tùng, trong bài viết năm 2002 trên
Tạp chí Cộng Sản,
cũng nói Lê Duẩn là người “hoạt động cách mạng ở cả ba miền Bắc,
Trung, Nam lâu dài nhất, thời gian ở tù lâu nhất” và có “quan hệ
rộng với các đồng chí thuộc cả hai thế hệ trong những năm hoạt
động bí mật.” [32]
Trong hồi kư Đêm giữa ban ngày, nhà văn Vũ Thư Hiên có
viết: "Theo nhận xét của những người cộng sản thuộc thế hệ đầu
tiên th́ cả Hồ Chí Minh lẫn Trường Chinh đều lo ngại ông tướng
đă có quá nhiều vinh quang sẽ trở nên không dễ bảo sau cuộc đảo
lộn ngôi thứ. Mà cả Hồ Chí Minh lẫn Trường Chinh đều muốn giữ
lại vị trí trước kia của họ về thực chất, cho dù danh nghĩa
không c̣n. Cần phải chọn một người có vị trí và uy tín kém hơn
Vơ Nguyên Giáp. Do biết ơn người cất nhắc ḿnh, người đó sẽ vừa
ngoan ngoăn vừa trung thành. Lê Duẩn thích hợp hơn cả với vai
tṛ đó." [33 ]
Lê Đức Thọ được trao chức vụ Trưởng Ban Tổ Chức Đảng, là người
có nhiệm vụ bảo đảm bộ máy đảng. Bên cạnh đó người ta cũng có
thể kể đến Phạm Hùng, tướng Nguyễn Chí Thanh (Tổng Cục Chính Trị),
Tố Hữu (Trưởng ban Khoa giáo và Tuyên huấn Trung ương) vốn là
người cầm đầu chiến dịch thanh trừng nhóm Nhân Văn Giai Phẩm,
vẫn c̣n khả năng theo dơi và đưa ra các biện pháp chế tài đối
với giới trí thức văn nghệ sĩ.
Trong một đoạn văn khác, tác giả Liên Hằng T. Nguyễn cho biết:
“Tháng 1 năm 1959, trước phiên họp toàn thể lần thứ 15, số phận
của cuộc kháng chiến miền Nam và tương lai của việc xây dựng
miền Bắc đều rất bấp bênh. Theo các học giả, quyết định tiến
hành chiến tranh của Hà Nội, ẩn mă trong Nghị quyết 15, là một
biện pháp nhằm cứu văn cuộc kháng chiến ở miền nam.” [34]
Chúng ta nhớ thời điểm lúc bấy giờ là khi ở miền Nam chính quyền
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành đạo luật 10/59 đặt Cộng
Sản ra ngoài ṿng pháp luật, t́nh h́nh chống Cộng, tố Cộng lên
cao đến cực điểm toàn miền Nam và ngành tuyên truyền của miền
Bắc đă phải rêu rao tố giác rằng chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă
“lê máy chém” đi khắp nơi. Các khu trù mật, ấp chiến lược đă
chứng tỏ khả năng lợi hại của chúng. Du kích Cộng Sản như cá nằm
ngoài nước không c̣n hoạt động được nữa để chờ đợi bị thanh toán
hay về đầu thú với chính quyền quốc gia. Nghị quyết 15 được đưa
ra nhằm tái tục cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam thông qua Hội
nghị Trung ương 15 tổ chức vào tháng giêng năm 1959, nhưng chỉ
được chính thức công bố một tuần sau việc chính phủ tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm ban hành Luật 10/59 vào tháng Năm [35].
Trong một bài viết gần đây nhận định về Lê Duẩn, giáo sư Pierre
Asselin, thuộc Đại học Chaminade, Honolulu, “báo cáo của ông Lê
Duẩn và các đồng chí miền Nam ‘nắm bắt cảm giác thất vọng của
những người chiến đấu và ủng hộ cuộc cách mạng ở miền Nam. Họ
cũng thể hiện sự gấp rút trong ḷng những người kháng chiến miền
Nam muốn có phản ứng trước sự ủng hộ ngày càng tăng của Mỹ dành
cho chính quyền Sài G̣n.” [36]
Một điểm nói lên nhiều hệ lụy nhất giữa sự sụp đổ của chế độ
chính trị nền Đệ Nhất Cộng Ḥa với quyết tâm sử dụng con đường
bạo lực để thống nhất đất nước của Cộng Sản Hà Nội được tác giả
Liên Hằng T. Nguyễn tŕnh bày như sau:
“Năm 1963 chứng kiến sự chấm dứt lập trường dao động của Hà Nội
giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, thái độ trung
lập với mối chia rẽ Nga-Trung, giữa cuộc chiến ở miền Nam và
việc xây dựng miền Bắc. Tháng 11 năm đó, sau hai cuộc ám sát anh
em họ Ngô và John F. Kennedy, Hà Nội đứng giữa hai chọn lựa:
thương thuyết với chính quyền mới ở miền Nam và củng cố những
thắng lợi vũ trang của quân nổi dậy ở nông thôn hoặc dốc toàn
lực quân sự để giành chiến thắng cấp tốc trước khi Hoa Kỳ có thể
can thiệp. Trong phiên họp toàn thể lần thứ 9 của Ủy Ban Trung
Ương bắt đầu ngày 22 tháng 11 năm 1963, Hà Nội chọn phương án
gia tăng chiến tranh. Nói cách khác, phe chủ chiến đạt được ủng
hộ tuyệt đối năm 1963, điều mà họ từng mong muốn trong năm 1959:
huy động cả miền Bắc tập trung vào cuộc chiến, gia tăng số lượng
gửi quân và khí giới về hướng Nam của vĩ tuyến 17. Cũng trong
phiên họp này đă xuất hiện những ư kiến chiến lược được coi là
phôi thai cho cuộc tấn công TMT sau này. Áp dụng một số điểm
trong học thuyết quân sự của Mao với những thay đổi cho phù hợp
với nhu cầu của Việt Nam, Hà Nội tuyên bố rằng cuộc chiến ở miền
Nam đ̣i hỏi một “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy” mà không nhất
thiết phải theo đúng ba bước mà chiến lược của Mao đề ra. Trên
thực tế, tại phiên họp thứ 9 này, Hà Nội đă từ bỏ ư định giành
chiến thắng ở miền Nam bằng chiến lược kéo dài chiến tranh; thay
vào đó họ [quyết định] xây dựng một lực lượng quân sự lớn nhằm
mục đích giành thắng lợi nhanh chóng.” [37]
Nhận định của giáo sư Liên Hằng T. Nguyễn liên quan đến lănh đạo
của Miền Nam trong cuộc chiến tranh cân năo đối đầu với lănh đạo
Miền Bắc khi mà sự đồng cân đồng lạng đă không c̣n nữa, th́ ước
vọng thôn tính Miền Nam của giới lănh đạo Miền Bắc đă trở thành
một quyết tâm và là điều phải thực hiện cho kỳ được.
2.2. Các lư do thực hiện và công cuộc chuẩn bị chiến dịch
TCK-TKN
Nỗ lực chuẩn bị trước tiên của phe chủ chiến là thanh lư nội bộ
nhắm vào việc loại trừ các nhóm thuộc phe chủ ḥa. Một số các
nhân vật miền Nam như Bùi Công Trừng, Phó Chủ tịch Viện Khoa học
và Công nghệ Quốc gia kêu gọi tăng cường hợp tác kinh tế với các
nước trong khối XHCN, việc Ung Văn Khiêm, nguyên Bộ Trưởng Ngoại
Giao và các thành viên khác phản đối kịch liệt việc đi theo
Trung Quốc 35 cho thấy một số bất lợi cho phe chủ chiến. Hoàng
Minh Chính bị dán cho nhăn hiệu “chủ nghĩa xét lại” và bị bắt
sau đó. Tài liệu của Liên Hằng T.Nguyễn cho biết:
|
|
|
thành phố tang tóc |
“Chiến dịch loại trừ những phần tử cánh hữu trong năm 1964 dẫn
đến việc cho ra ŕa và quản thúc những cán bộ được đào tạo tại
Moscow và người bị coi là thân Liên Xô trong nội bộ ĐLĐVN, bao
gồm cả những cán bộ cấp cao, du học sinh, trí thức và các nhà
báo. Ngay sau phiên họp, những thành viên thẳng thắn dám lên
tiếng của phe ôn ḥa ở UBTƯ đều bị mất ghế. Những du học sinh ở
Liên Xô và các nước Đông Âu được gọi về để tham gia những lớp
học “chỉnh huấn” Tố Hữu, lúc này là Trưởng ban Khoa giáo và
Tuyên huấn Trung ương, tiếp tục đàn áp giới trí thức bằng việc
bắt đầu một chiến dịch mới chống lại những ảnh hưởng của “chủ
nghĩa xét lại” trong văn chương Việt Nam. Nói tóm lại, những
người có bất kỳ quan hệ nào với các phái đoàn ngoại giao ở Hà
Nội hay đồng thuận với việc chung sống ḥa b́nh đều bị phe chủ
chiến canh chừng và theo dơi. Ngay cả trong tổ chức quân đội
cũng không tránh khỏi những phiền phức liên quan đến chủ nghĩa
xét lại. Sau việc tướng Nguyễn Văn Doăn, Tổng biên tập báo QĐND,
trốn sang Liên Xô, Tổng cục Chính trị mở cuộc điều tra về tờ báo
này. Theo Bùi Tín, lúc đó đang làm việc cho tờ QĐND, “công an
ch́m đi xe ô tô với cửa bịt bùng” đến ṭa soạn nhiều lần và thẩm
tra ít nhất năm thành viên của ṭa soạn. Những viên chức này
không chỉ bị mất việc và mất uy thế, họ c̣n bị quan sát chặt chẽ
bởi bộ máy an ninh của Hà Nội. Cuộc điều tra những thành viên
của ṭa soạn báo QĐND và việc đàn áp những “người theo chủ nghĩa
xét lại” chỉ là bước đầu cho những xung đột nội bộ của Đảng sau
này, được tiến hành trên cái nền của cuộc kháng chiến ở miền
Nam.” [38]
Trong cuốn sách Công lư đ̣i hỏi, tác giả Nguyễn Minh Cần
cho biết: "Đến tháng 7 năm 1967, bắt đầu đợt bắt bớ quy mô lớn:
thiếu tướng Đặng Kim Giang, viện trưởng Hoàng Minh Chính, phó bí
thư Trần Minh Việt bị bắt trước tiên. Đến tháng 10 năm đó, tới
lượt vụ trưởng Vũ Đ́nh Huỳnh, nhà sử học Nguyễn Kiến Giang và
nhiều người khác. Đến tháng 12 năm đó, nhà văn Vũ Thư Hiên, con
trai Vũ Đ́nh Huỳnh, bị đón đường "bắt cóc" đưa ngay vào xà lim.
Một vài ủy viên Trung ương đảng tuy không bị bắt, nhưng bị giam
lỏng tại gia với chế độ kiểm soát nghiêm ngặt, đó là ủy viên
Trung ương đảng, phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước,
nhà kinh tế Bùi Công Trừng, ủy viên Trung ương đảng, thứ trưởng
Bộ văn hóa thiếu tướng Lê Liêm, ủy viên Trung ương đảng, thứ
trưởng Bộ quốc pḥng, chủ tịch Ủy ban Thống nhất Nguyễn Văn Vịnh,
v.v..." [39]
Trong một loạt bài viết về vai tṛ của Lê Duẩn, đài BBC nhận
định về các đồng minh của ông Lê Duẩn như sau: "Sự trợ giúp mà
ông Lê Duẩn nhận được từ ông Lê Đức Thọ trong suốt tiến tŕnh
thâu tóm quyền lực là vô cùng quan trọng. Tham gia cách mạng từ
những năm 1920, ông Lê Đức Thọ trải qua nhiều năm trong tù. Khi
được thả năm 1945, ông được gửi vào miền Nam và làm phó cho ông
Duẩn trong suốt giai đoạn xung đột giữa Việt Minh và Pháp. Quan
hệ giữa hai người này sẽ có một ảnh hưởng sâu sắc trong đảng.
Khi ông Lê Duẩn trở thành Tổng Bí thư, ông Lê Đức Thọ được cửa
làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, một vị trí mà theo William
Duiker, được nhanh chóng "biến thành bộ máy hiệu quả để điều tra
và kiểm soát các đảng viên."
Pierre Asselin nói thêm rằng ông Lê Duẩn "không thể củng cố uy
quyền một cách hiệu quả như đă làm nếu không có sự ủng hộ của
ông Lê Đức Thọ; sự trung thành và trợ giúp của người này tỏ ra
cần thiết để thanh lọc ban lănh đạo ở Hà Nội." Một người đóng
vai tṛ lớn trong cuộc chiến Việt Nam là đại tướng Nguyễn Chí
Thanh. Cho đến giữa thập niên 1960, miền Bắc chỉ có hai đại
tướng bốn sao là ông Vơ Nguyên Giáp (Bộ trưởng quốc pḥng kiêm
Tổng tư lệnh) và ông Nguyễn Chí Thanh (Chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị)."
Một số chuyên gia nước ngoài như Douglas Pike đă ghi nhận sự
cạnh tranh và khác biệt trong tư tưởng quân sự giữa hai vị tướng
này. Trong một bài viết năm 1966, tướng Giáp nói cuộc xung đột ở
miền Nam là một cuộc chiến kéo dài và rằng chiến lược quân sự có
thể mất nhiều năm để đạt thắng lợi. Ông nói ông không tin
vào"các trận đánh sử dụng đơn vị chính quy lớn v́ điều này có
lợi cho chiến lược của kẻ thù." Tướng Thanh ngay lập tức có phản
ứng. Trong bài viết đăng ở tạp chí Học Tập, tướng Thanh cho rằng
chiến lược tấn công ở miền Nam là con đường đúng dẫn đến thắng
lợi và nói thêm rằng lập luận của những người chỉ trích là "không
logich". Một trong những lư do đưa ông Lê Duẩn và ông Nguyễn Chí
Thanh trở thành đồng minh gần gũi là v́ ngay từ đầu, hai người
cùng quan điểm rằng con đường dẫn đến thắng lợi ở miền Nam phụ
thuộc vào quân sự.
Gần đây hơn, trong bài viết năm 2002 về vai tṛ của những người
gốc miền Nam trong cuộc chiến mang tựa đề "Why the South Won the
American War in Vietnam," Robert Brigham ghi nhận tướng Giáp "từ
lâu đă chỉ trích tư tưởng quân sự của tướng Thanh, và ông công
khai bày tỏ nghi ngờ về hiệu quả của chiến lược tấn công của
tướng Thanh... Ông Vơ Nguyên Giáp ngày càng trở nên thận trọng
và thực tiễn trong cuộc chiến chống Mỹ. Một số người nói điều
này rốt cuộc khiến ông đánh mất uy quyền chính trị."
Ông Lê Duẩn hiểu rằng việc giảm uy thế của tướng Giáp có thể tạo
ra chỉ trích và chống đối. V́ thế, nói như lời của chuyên gia
Pierre Asselin, "bằng cách đề bạt và tạo điều kiện cho sự nghiệp
của tướng Nguyễn Chí Thanh, ông Lê Duẩn thành công trong việc
tạo nên một thần tượng mới trong quân đội."[ 40]
Sau đây là các lư do quân sự và chính trị có liên quan đến cuộc
TCK-TKN, theo sự nghiên cứu của Lê Xuân Khoa, tác giả cuốn
Việt Nam 1945-1995, Chiến tranh Tị Nạn Bài học Lịch sử: "Từ
1965 đến cuối 1967, Quân đội Giải phóng miền Nam (QĐGPMN) gồm cả
bộ đội chủ lực từ miền Bắc đă không thể đương đầu với hỏa lực và
tính di động của quân đội Mỹ và có nguy cơ thất bại nếu kéo dài
t́nh trạng cầm cự bằng chiến tranh tiêu hao. V́ vậy, Bộ Chính
trị ở Hà Nội thấy cần phải sớm chấm dứt cuộc chiến bằng một trận
đánh quyết định như trận Điện Biên Phủ năm 1954. Theo cựu Đại Tá
Bùi Tín, "đến cuối năm 1967, quân đội Sài-g̣n và quân Mỹ hoạt
động mạnh, mở nhiều chiến dịch tiến công, quân Bắc Việt thường ở
thế đối phó, giữ lực lượng, rút ra xa và mất nhiều khu vực đông
dân. V́ thế, năm 1968 họ cần một đợt hoạt động mạnh để giành lại
thế chủ động, cải tiến thế trận." (Bùi Tín,
Mây Mù Thế Kỷ,
California, Đa Nguyên, 1998, tr. 101).
Giáo sư Lê Xuân Khoa cũng dẫn sách lịch sử miền Bắc cho biết: "Trung
ương Đảng ta, tại Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12-1967) và Hội
nghị toàn thể ban Chấp hành lần thứ 14 (tháng 1-1968), thông báo
quyết định lịch sử: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam
sang một thời ḱ mới - thời ḱ giành thắng lợi quyết định." Nghị
quyết của Đảng c̣n chỉ rơ: "Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của
ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn đảng, toàn quân,
toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta
lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công
kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định." [41]
Trong phần chú thích ở cuối trang 293, Giáo sư Lê Xuân Khoa cho
biết chiến dịch TCK-TKN thực ra đă được Đại tướng Nguyễn Chí
Thanh, tổng chỉ huy Trung ương cục miền Nam, đề xuất từ tháng
Giêng 1967 để thay thế chiến tranh tiêu hao của Bộ trưởng Quốc
pḥng Vơ Nguyên Giáp. Tháng Tư, Bộ Chính trị chấp thuận đề nghị
của tướng Thanh. Khi tướng Thanh chết bất ngờ vào tháng Bảy,
tướng Giáp lănh trách nhiệm tiến hành kế hoạch TCK-TKN.
Ngoài ra, tư liệu của Giáo sư Lê Xuân Khoa c̣n bổ túc thêm rằng:
"Quyết định quân sự này lại được tăng cường bởi hai lợi điểm do
t́nh h́nh chính trị nội bộ của Hoa Kỳ mà các nhà lănh đạo Bắc
Việt không thể không khai thác: Thứ nhất là phong trào phản
chiến đang lan tràn mạnh mẽ ở Hoa Kỳ, nhất là sau khi Mục sư
Martin Luther King Jr., người vẫn ủng hộ chương tŕnh "Xă hội Vĩ
đại" của Johnson, quyết định lên tiếng vào đầu năm 1967, chống
lại việc Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến ở Việt Nam. Thứ hai là
khuynh hướng muốn chấm dứt chiến tranh đang gia tăng trong Quốc
Hội và ngay cả trong nội bộ Đảng Dân Chủ, đúng vào thời điểm vận
động tranh cử Tổng thống năm 1968. Khuynh hướng này sẽ có ảnh
hưởng mạnh mẽ tới triển vọng tái đắc cử của Tổng thống
Johnson."[ 42]
Về cái chết đột ngột của tướng Nguyễn Chí Thanh, có hai nguồn
tin được kể đến. Thứ nhất, trong cuốn
Tet ! của
Oberdorfer, tác giả dẫn nhiều nguồn tin của giới chức quân sự
Hoa Kỳ cho rằng Nguyễn Chí Thanh bị thương nặng tại miền Nam,
được chuyển qua Campuchia và đưa về Bắc bằng máy bay, điều trị
tại bệnh viện 108 và chết. [43] Nguồn tin thứ hai của Judy Stowe
thuộc đài phát thanh BBC cho biết tướng Nguyễn Chí Thanh dự cuộc
họp của Bộ Chính trị ở Hà Nội, và ngày 6.7.1967 trong buổi tiệc
sau đó, tướng Thanh bị ngộ độc chết (có nguồn tin nói ông bị hăm
hại). [44] Tướng Thanh chết lúc 53 tuổi.
2.3. Diễn tiến chiến lược và chiến thuật của hai phe thời
gian trước khi khai diễn cuộc TCK-TKN.
Về phía Cộng quân, để đánh lừa Hoa Kỳ, Bộ Chính trị CS cho tổ
chức các trận đánh ở biên giới từ giữa đến cuối năm 1967 Khe
Sanh, Lộc Ninh, Cồn Tiên và Dak To, nhất là mặt trận Khe Sanh,
để dụ quân Mỹ và quân lực VNCH rút bớt quân pḥng thủ các đô thị
đông dân ra các vùng gần biên giới và khu giới tuyến quân sự.
Ngày 20 tháng Giêng năm 1968, tướng Giáp đem các sư đoàn 325C,
304 vào mặt trận Khe Sanh, tăng quân số BV nơi này lên từ 20,000
đến 30,000 quân. Không lực Hoa Kỳ đă dội bom vào các vị trí đóng
quân của CSBV trên 5000 lần với hơn 100,000 tấn bom dội xuống
trong khoảng chưa đầy 5 dặm vuông. Khe Sanh là một điểm chiến
lược trên đường giao thông giữa Bắc vào Nam, ở cách Quảng trị 30
dặm về phía tây và cách vĩ tuyến 17 khoảng 20 dặm. Cộng sản đánh
lừa Hoa Kỳ bằng cách biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ thứ
hai nhưng mục tiêu quân sự của họ là ở các thị xă, thành phố.
Lợi dụng sự giải tán cơ cấu ấp chiến lược, và nhất là lực lượng
an ninh của VNCH lơ là trong các ngày nghỉ Tết cũng như sự đồng
bào tấp nập lo chuẩn bị mừng Tết, cộng quân đă bí mật chuyển vũ
khí vào các thị xă dưới các xe vận tải chở rau quả, các xe chở
quan tài đám tang để đánh lừa các trạm kiểm soát quân sự, cảnh
sát.
Ngoài ra CS c̣n lợi dụng một h́nh thức khác để xâm nhập thành
phố đó là t́nh cảm gia đ́nh giữa người cán bộ tập kết Cộng Sản
và gia đ́nh. Trong sách Tet!, Don Oberdorfer nêu ra một
trong nhiều trường hợp như thế là của một cán bộ CS tên là Sơn
Lâm vốn là dân thành phố Huế tham gia kháng chiến chống Pháp
thời Việt Minh năm 1948, bị đuổi ra khỏi ngành t́nh báo Cộng Sản
năm 1952 v́ cha mẹ là thành phần áp bức nhân dân, tập kết ra Bắc
sau hiệp định Genève và xâm nhập trở lại miền Nam năm 1962 cầm
đầu một nhóm 9 người cũng dân gốc Huế làm việc cho đảng CS. Mặc
dù người chị của anh này có chồng là một cảnh sát viên của chính
quyền quốc gia, anh Lâm này đă sống yên ổn trong nhà bà chị
hướng đông thành phố Huế. [45]
Ngoài ra VC cũng lợi dụng Phật Giáo như trường hợp Thượng Tọa
Thích Đôn Hậu ở chùa Thiên Mụ Huế để làm bung xung cho các hoạt
động chính trị của chúng trong cuộc TCK-TKN.
Một vài tư liệu cho biết Cộng quân đă chuẩn bị cất giấu vũ khí
trong khoảng 400 địa điểm rất an toàn khắp nơi ở miền Nam, chỉ
chờ dịp là đem ra sử dụng.
Trong cuốn sách
The Tet offensive, Intelligence failure in
war, tác giả James J. Wirtz cho rằng Tết Mậu Thân là một sự
thất bại về t́nh báo của quân đội Hoa Kỳ, kể cả VNCH, nhưng cáo
buộc này có nhiều điểm không đúng sự thật.
Trong sách này, tác giả cho biết VC đă sử dụng rất nhiều điệp
viên phụ nữ giả dạng nữ cảnh sát viên để xâm nhập các cơ sở của
chính quyền, moi móc các tin tức ở Cần Thơ và phi trường B́nh
Thủy, chuyên chở rất nhiều lựu đạn vào thủ đô dưới những thùng
đựng kẹo và cho rằng không thể nào chận đứng các h́nh thức này
nếu không lục soát xe cộ vào thành phố v́ lư do an ninh [46].
Ngoài ra một số cán bộ thuộc thành phần trí vận của CS trước khi
xảy ra cuộc TCK-TKN đă được lệnh thoát ly ra bưng như một số
giáo sư, sinh viên ở Sài G̣n, Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt v.v... để
làm hướng đạo cho các toán VC từ nông thôn xâm nhập thành phố.
Trong sách Vietnam at war, The history 1946-1975, tác giả
Phillip B. Davidson đă dẫn lời của J-2MACV, một viên chức lăo
thành của giới t́nh báo quân sự Hoa Kỳ ràng: "Ngày 30 tháng
Giêng là một ngày nóng bỏng đối với người Mỹ và các đồng minh.
Tôi đă thuyết tŕnh cho tướng Westmoreland lúc 7 giờ sáng, báo
cáo với ông về những cuộc tấn công của kẻ thù ở giữa miền Trung
Việt Nam và tiên đoán trước rằng các cuộc tấn công như vậy sẽ
xảy ra ở các tỉnh c̣n lại ngay chính trong đêm nay. Tướng
Westmoraland đồng ư một cách mau mắn. Ông cho mời các sĩ quan
chỉ huy, thông báo cho họ biết các cuộc tấn công nặng nề sẽ diễn
ra ở các thành phố và các tổng hành dinh trong phạm vi trách
nhiệm của họ nội trong đêm nay, và đặt quyền chỉ huy hoàn toàn
của ông trong sự báo động tối đa. Ông đă đi gặp Tổng thống Thiệu
và thuyết phục ông Thiệu ra lệnh cho các viên chức quân sự Việt
Nam đang nghỉ Tết trở lại nhiệm sở ngay. Một vài người thi hành
lệnh đó, nhưng tuy nhiên đa số th́ không."[ 47]
Cũng theo Giáo sư Lê Xuân Khoa: "T́nh báo quân sự Mỹ được tin
tức về những vụ chuyển quân của cộng sản và dự đoán sẽ có những
cuộc tấn công trước hay sau Tết nhưng không lượng định được rằng
đây là trận đánh quyết định ở mức độ toàn diện. Ngày 10 tháng
Giêng, tướng Frederick C. Weyand, tư lệnh Lực lượng Chiến trường
vùng II, được sự chấp thuận của Tổng tư lệnh Westmoreland, bắt
đầu chuyển quân chiến đấu về ṿng đai Sài-g̣n, tăng cường lực
lượng bảo vệ thủ đô từ 14 lên 27 tiểu đoàn. Theo đề nghị của
tướng Westmoreland, Tổng thống Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên
giảm thời gian hưu chiến ngày Tết từ 48 tiếng xuống 36 tiếng
đồng hồ và duy tŕ 50 phần trăm quân đội trong t́nh trạng báo
động." [48]
Tuy nhiên trong sách Victory at any cost, The genius of
Vietnam's Gen. Vo Nguyen Giap, tác giả Cecil B. Currey cho
rằng cơ quan MACV đă ước tinh sai lầm khi dự đoán rằng cuộc hưu
chiến Tết là dịp để Cộng quân chuyển vận các vật dụng hậu cần
vào miền Nam hơn là tung ra các cuộc tấn công. [49 ]
Trong một bài viết có in trong tập
Án tích Cộng Sản Việt Nam,
tác giả Trần Gia Phụng đă dựa vào tư liệu của tác giả Don
Oberdorfer khi cho rằng CSBV đă đổi lịch cho miền Bắc ăn Tết
trước miền Nam một ngày để dễ bề chuẩn bị cho việc tiến hành
cuộc tấn công Tết Mậu Thân; nhưng lập luận này xét ra không vững,
bởi v́ nếu rơ ràng là như thế th́ tại sao đến giờ phút cuối Vơ
Nguyên Giáp lại ra lệnh hoăn cuộc tấn công lại 24 tiếng đồng đồ
ngày hôm sau, để lại những hậu quả tổn thất nặng nề cho phía
Cộng quân về sự đổi thay thời điểm này?
2.4. Cuộc Tổng Công Kích và Tổng Khởi Nghĩa, các quan điểm
về nhận định thành bại.
Trước hết về kế hoạch dụ địch, nghĩa là tạo cho Hoa Kỳ và quân
lực VNCH dồn tất cả lực lượng về phía các mặt trận biên giới và
giới tuyến để chúng có thể dễ dàng đưa quân vào chiếm các vị trí
thành phố, Bộ Chính trị CSBV đă không thành công bởi v́ lực
lượng cơ động của Hoa Kỳ đă di chuyển rất linh hoạt và mau chóng
với phương tiện vận chuyển rất dồi dào. Tại mặt trận Khe Sanh,
Cộng quân đă gánh chịu những tổn thất nặng nề với lực lượng phi
pháo của Đồng Minh, và đă thất bại trong cố gắng biến Khe Sanh
thành một Điện Biên Phủ thứ hai.
Cuộc TCK-TKN của Cộng quân nhằm hai mục đích rơ ràng là "tấn
công" và "nổi dậy" cho nên chúng đă lựa chọn các thành phố và
thị xă mà trong đó Sài G̣n và Huế là hai mục tiêu chính tuy vậy
chủ đích của họ vẫn không đạt được thành công. Trong tác phẩm đă trích dẫn ở trên, Giáo sư Lê Xuân Khoa đưa ra
nhận định của ông về Tết Mậu Thân tại Sài G̣n như sau:
"Trận công kích Sài-g̣n bị thất bại mau chóng v́ giới lănh đạo
Bắc Việt quá chủ quan, tin tưởng quân giải phóng sẽ chiếm giữ
hay phá hủy được những cơ sở trọng yếu về hành chánh và quân sự
của VNCH và Hoa Kỳ, nhất là chiếm được Dinh Độc Lập và ṭa Đại
sứ Mỹ để gây tiếng vang quốc tế, trong khi dân chúng thủ đô sẽ ồ
ạt xuống đường biểu t́nh ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng chống
ngụy quyền và đế quốc Mỹ. Tất cả những mục tiêu của cuộc tấn
công đều không đạt được, trừ việc đốt phá một phần kho đạn ở
Long B́nh, cách Sài-g̣n khoảng 20 dặm. Quân giải phóng không lọt
được vào Dinh Độc lập, toán tấn công ṭa Đại sứ quán Mỹ th́ bị
tiêu diệt khi mới lọt vào sân trước. Trung đoàn 101 chiếm được
kho dự trữ G̣ Vấp, nhưng các chiến xa ở đây đă được chuyển đi
nơi khác. Mười hai cỗ súng đại bác 105 ly để lại th́ không sử
dụng được v́ bộ phận khai hỏa đă bị quân VNCH tháo ra đem đi mất.
Những toán quân đă lọt vào thành phố không liên lạc được với
nhau và bị tiêu diệt hay phải rút lui vào Chợ Lớn. Một trung đội
C-10 chiếm được Đài Phát thanh có chuyên viên đem theo cuộn băng
thâu sẵn của Bộ Chỉ huy chiến dịch TCK/TKN nhưng không phát
thanh được v́ tuyến truyền thanh đă bị chuyên viên kỹ thuật của
đài vô hiệu hóa bằng tín hiệu từ xa. Tại Chợ Lớn, quân giải
phóng chiếm được trường đua ngựa Phú Thọ làm trung tâm chỉ huy
các cuộc chiến đấu với các lực lượng pḥng vệ thủ đô, nhưng đến
ngày 7 tháng Ba cũng phải bỏ chạy." [50]
Trong Vietnam at war, Phillip B, Davidson cho biết căn cứ
vào cung từ của các tù binh chiến tranh [51], cuộc tấn công toàn
quốc tiên khởi được ấn định vào tối 29 rạng ngày 30 tháng Giêng,
nhưng trước ngày D, Vơ Nguyên Giáp đă ra lệnh hoăn lại 24 giờ
đồng hồ nên có một số tỉnh đă tấn công trước như Kontum, Pleiku,
B́nh Định, Darlac, Khánh Ḥa và Quảng Nam v́ không nhận được
lệnh hoăn, và v́ thế Giáp đă đánh mất yếu tố then chốt dành cho
cuộc Tổng Công Kích của ông đó là sự bất ngờ. Sài G̣n bị tấn
công vào ngày 31/1 tức ngày mồng hai Tết cùng với bảy tỉnh khác
là Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Tín, Quảng Ngăi, B́nh Thuận,
Vĩnh Long, Phong Dinh chính là lúc các giới chức Hoa Kỳ và VNCH
được cảnh báo trước.
|
|
|
đường di chuyển của
băo |
Việc dân chúng thờ ơ với điều mà Hà Nội tin là sẽ hưởng ứng lời
kêu gọi nổi dậy lật đổ chính quyền vốn là lẽ đương nhiên, bởi v́
chính nhân dân miền Nam, nhất là tại thủ đô Sài G̣n, làm sao có
thể nghe theo lời CS được khi mà đa số chính họ đều là thành
phần di cư tị nạn CS từ năm 1954, vốn đă có nhiều kinh nghiệm
sắt máu với chế độ vô sản ở miền Bắc? C̣n nếu họ là dân Nam th́
cũng đă biết được thế nào là CS nhờ báo chí, sách vở và nhất là
kinh qua dưới chế độ chống Cộng của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng
Ḥa với một ư thức hệ "chống Cộng" vốn đă được hấp thụ nhuần
nhuyễn dưới thời của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho đến thời gian
lúc bấy giờ. Trong con mắt đại đa số dân chúng tại thủ đô Sài
g̣n, người lính "giải phóng" hay h́nh ảnh "bộ đội bác Hồ" là một
cái ǵ đó quê mùa, nhớp nhúa nếu không nói là quái đản đối với
họ.
Nói chung dân chúng tại thủ đô cũng như các tỉnh chẳng những đă
không hưởng ứng lời kêu gọi nổi dậy của Cộng quân mà c̣n t́m mọi
cách để chạy thoát khỏi các khu vực CS chiếm đóng, và nhiều nơi
dân chúng đă t́m cách giúp quân đội VNCH và Hoa Kỳ trong công
việc chống lại các toán Cộng quân, như tư liệu của một số sử gia
Hoa Kỳ ghi lại. [52 ]
Sự kiện TCK-TKN xảy ra tại Huế đă được nhiều tư liệu nói đến nên
ở đây chúng tôi xin nêu lên một số điểm khái quát mà thôi.
Trước hết, Huế là một thành phố có nhiều trí thức, sinh viên học
sinh và đă xảy ra nhiều biến động tại đây kể từ vụ biến cố Phật
Giáo rằm tháng tư âm lịch 1963. Qua năm 1964, Huế cũng là nơi
thành lập tổ chức Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc do một số giáo sư
và giảng viên Đại Học Huế như Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lê
Tuyên, Cao Huy Thuần, Hoàng Văn Giàu tham gia, bị cán bộ CS xâm
nhập lèo lái hướng đến các hoạt động biểu t́nh chống Mỹ, chống
Công Giáo (dưới danh nghĩa chống dư đảng Cần Lao). Năm 1966, Huế
cũng là nơi xuất phát vụ bàn thờ Phật xuống đường chống hai
tướng Thiệu Kỳ để rồi sau đó một số trí thức, sinh viên thoát ly
theo CS như Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc
Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Huỳnh Ngọc Ghênh v.v...
Vào dịp Tết Mậu Thân, Cộng sản kéo về thành phố Huế qua các ngả
đường từ rừng núi phía Tây với khoảng một trung đoàn gọi à E-6 (gồm
3 tiểu đoành, ngoài ra có thêm 1 tiểu đoành đặc công, 1 đại đội
pháo và du kích Hương Trà và Hương Điền. Cánh quân phía nam gồm
trung đoàn E-9 thuộc sư đoàn 309, trung đoàn 5 (gồm 4 tiểu đoàn),
1 tiểu đoàn pháo, 4 đại đội đặc công. Sau khi chiếm được một số
địa điểm tại Huế, CS cho công bố việc thành lập một tổ chức gọi
là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Ḥa B́nh Việt Nam
do Lê Văn Hảo làm chủ tịch và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư
kư. Sau đó Hảo được đưa lên làm chủ tịch chính quyền cách mạng
Huế. Sau này Lê Văn Hảo lên tiếng phủ nhận việc này v́ cho rằng
trong thời gian đó ông c̣n nằm ở rừng núi Trường Sơn [*].
Trong thời gian này, các lực lượng an ninh CS lo lùng bắt và
giết tất cả các nhân viên chính quyền VNCH, các người cộng tác
với cơ quan CIA, những người bị t́nh nghi như một số linh mục,
tu sĩ VN cũng như ngoại quốc, các giáo sư đại học dạy Y khoa tại
Huế. VC chiếm được một số địa điểm tại Huế nhưng thất bại trong
việc kêu gọi dân chúng nổi dậy v́ đa số dân chúng đă có ư thức
chống Cộng. Huế được coi là thủ đô của Phật giáo nhưng người
Phật giáo là người hữu thần cho nên làm thế nào để có thể cộng
tác với những hạng người vô thần như CS được? Bởi vậy, dân chúng
đă t́m cách chạy về phía chính quyền quốc gia như phía khu vực
đồn Mang Cá, phía đài phát thanh và khu vực MACV (hữu ngạn sông
Hương), khu vực phi trường Phú Bài, trường Kiểu Mẫu v.v... Các
linh mục Bửu Đồng, Lê Văn Hộ ở Huế và Quảng Trị bị giết, một số
các đảng viên Đại Việt Cách Mạng Đảng bị bắt và bị xử từ như ông
Từ Tôn Kháng, Trần Mậu Tí, Vơ Công Lộ, rất nhiều đảng viên VNQDĐ
bị bắt và bị CS xử tử, nghị sĩ Trần Điền, nhà ái quốc Vơ Thành
Minh (người thổi sáo bên hồ Léman, Thụy Sĩ nhân Hiệp định Genève
chia đôi đất nước năm 1954), sinh viên Lê Hữu Bôi v.v... Tôi có
một người bạn học cùng lớp trong chủng viện là anh Nguyễn Văn
Thứ (đại chủng sinh) bị bắt cùng với hai trăm thanh niên Công
Giáo tại giáo xứ Phủ Cam. Một thầy dạy học của tôi là Sư huynh
Martin (Mai-Thịnh) thuộc Ḍng Thánh Tâm Huế cũng bị bắt giết
trong dịp này. Tất cả đều bị VC giết. Lực lượng quân đội VNCH và
Hoa Kỳ đă phải chật vật lắm mới đẩy được Cộng quân ra khỏi thành
phố Huế bằng các trận đánh trong thành phố, chiếm lĩnh từng căn
nhà, khu vườn, với sự tiếp tay của dân chúng cố đô. Ngày
25.2.1968, Cộng quân rút lui khỏi Huế trong sự thảm bại hoàn
toàn.
Tổng kết về thiệt hại nhân sự cho thấy tại Huế khoảng 5,000 quân
"giải phóng" bị giết, 89 tên bị bắt, số bị thương không rơ. Phía
VNCH có khoảng 384 chết và 1,830 bị thương, phía Mỹ có 216 chết
và 1,354 bị thương. Theo sử gia Douglas Pike, con số nạn nhân
tại Huế bị giết trong vụ Tết Mậu Thân có thể lên tới 5,700 người.
[53]
Chính CS cũng đă phải thú nhận sự thất bại này trong các tài
liệu giáo khoa Sử chính thức của họ: "Cuộc tập kích chiến lược
Tết Mậu Thân - mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy - là đ̣n
bất ngờ làm cho địch choáng váng. Nhưng do lực lượng địch c̣n
đông (hơn nửa triệu quân Mỹ, gần 1 triệu quân ngụy), cơ sở của
chúng ở thành thị mạnh nên chúng đă nhanh chóng tổ chức lại lực
lượng và phản công quân ta ở cả thành thị lẫn nông thôn. V́ vậy
trong đợt 2 và đợt 3 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, lực
lượng ta gặp không ít khó khăn và tổn thất. Quân cách mạng vào
chiếm giữ trong đợt 1 bị đẩy khỏi thành phố. Những người dân có
cảm t́nh với cách mạng, ủng hộ quân giải phóng trước đó bị bắt.
Nhiều vùng nông thôn giải phóng của ta trước đây bị địch chiếm.
Mục tiêu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy không đạt được đầy
đủ. Lực lượng của ta bị tổn thất nhiều... 111,306 cán bộ, chiến
sĩ lực lượng vũ trang và chính trị ở miền Nam đă hi sinh và bị
thương." [54]
Con số 111,306 Cộng quân bị chết trong ba đợt tổng tấn công của
CS được thừa nhận trong các tư liệu chính thức của Miền Bắc xét
ra cũng phù hợp với tư liệu của MACV là trong đợt đầu quân giải
phóng miền Nam chết 42,000 người, đợt hai 40,000 người và đợt ba
26,000 người, tổng cộng là 108,000 người [55].
Tướng Trần Văn Trà, người chỉ huy mặt trận Sài g̣n đă phải thú
nhận: " Các mục tiêu quân sự trong dịp Tết vượt qua sức mạnh của
chúng ta. Tất cả đều nằm trong ước muốn chủ quan của những người
vạch ra kế hoạch. V́ vậy sự thổn thất của chúng ta đă rất lớn
lao về vũ khí cũng như nhân sự. Và chúng ta không thể lấy lại
được những ǵ chúng ta đă tạo ra. V́ vậy, chúng ta đă phải vượt
qua biết bao nhiêu khó khăn trở ngại trong các năm 1969, 1970."[
56]
Theo nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, một thành viên lănh đạo của
MTDTGPMN/VN, "Hà Nội đă có tội khi đưa ra những tính toán sai
lầm làm tiêu phí hết sức mạnh của miền Nam." [57]
Trong tác phẩm The genius of Vietnam's Gen. Vo Nguyen Giáp,
sử gia Cecil B. Currey cho rằng: "Thất bại lớn nhất của cuộc
tổng tấn công Tết không phải là của Giáp mà rơ hơn là của Đại
tướng Nguyễn Chí Thanh. Giáp đă chống đối dự án ngay từ khởi đầu
nhưng các luận cứ của Thanh và Lê Duẩn đă thuyết phục được Hồ
Chí Minh rằng cuộc tiến công phải được thực hiện. Sự việc cho
biết Cộng quân đă phải chịu nhiều tổn thất lớn lao. Dân chúng
miền Bắc đă quá mệt mơi v́ các trận mưa bom của Mỹ. Hoa Kỳ có
thể sẽ phải quyết định xâm lược miền Bắc. Một trận đánh mang đầy
kịch tính ở miền Nam bộc lộ khả năng yếu kém của chính quyền ở
đây và bó buộc Hoa Kỳ phải rút lui. Giáp đă phải miễn cưỡng tuân
theo mọi quyết định. Kết quả đó đă không làm cho ông ta ngạc
nhiên khi lực lượng quân sự Hoa Kỳ đă chứng tỏ rất đỗi thích hợp
và có khả năng ứng biến hơn là Thanh và Lê Duẩn tiên đoán." [58]
Tướng Trần Độ, một nhà lănh đạo quân sự chỉ huy mặt trận Sài G̣n
bên cạnh Trần Văn Trà đă nhận định: "Thành thật mà nói, chúng ta
đă không hoàn thành được mục tiêu chính của chúng ta. Việc gây
một ảnh hưởng lớn đối với Hoa Kỳ thật ra không phải là ư định
của chúng ta nhưng điều đó lại trở nên một kết quả may mắn."
[59]
Đối với các giới chức hành chánh và quân sự Hoa Kỳ lúc đó như
Tổng Thống Johnson, Cố vấn An ninh Quốc gia Walt Whitman Rostow,
Thống Tướng Westmoreland chẳng hạn, các vị này đều cho rằng qua
biến cố Tết Mậu Thân, Cộng Sản đă thất bại trong việc đạt tới sự
bất ngờ mang tính chiến lược trong dịp Tết (strategic surprise)
bởi v́ một cuộc tấn công lớn của CS đă được dự đoán là có khả
năng xảy ra vào dịp nghỉ Tết nên Hoa Kỳ và quân lực VNCH đă dự
pḥng phần nào. Tuy nhiên họ cũng cho rằng cuộc tấn công của
tướng Giáp cũng đă đạt được sự bất ngờ chiến thuật (tactical
surprise). Đối với Tướng Westmoreland, thắng lợi của quân đội
Hoa Kỳ và quân lực VNCH trong cuộc TCK-TKN là một sự kiện hiển
nhiên trước sự thú nhận của Bắc Việt và các nhà lănh đạo "quân
giải phóng", tuy nhiên có một vài giới chức vẫn lớn tiếng phủ
nhận đó là một số người trong truyền thông Hoa Kỳ.
Nói chung, vài kẻ trong giới truyền thông Hoa Kỳ vốn có thái độ
kỳ thị cố hữu đối với Miền Nam kể từ thời Cố Tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm (1954-1963) cho đến thời Đệ Nhị Cộng Ḥa.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, kư giả trẻ tuổi Halberstam đă cùng
với Averell Harriman, Henri Cabot Lodge, Roger Hillsman và
Michael Forrestal làm thành nhóm gọi là Diem Must Go mà
mục đích là lật đổ cho được chế độ của TT Ngô Đ́nh Diệm. Kư giả
Halberstam từng gửi cho nhật báo The New York Times một
bài viết ngày 30 tháng Tám, 1963 từ Sài G̣n trong đó có điện văn
mật của Ṭa đại sứ Hoa Kỳ (ngày 24.8.63) tại Sài G̣n, có câu: "Nhiều
nguồn tin cao cấp của giới ngoại giao nói rằng Hoa Kỳ phải quyết
định về một chính quyền không có vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu th́ mới
hy vọng chiến thắng trong cuộc chiến chống Cộng và rằng ông bà
Nhu th́ lại không thể nào tách ra khỏi chính quyền hiện tại..."
[60]
Halberstam cũng đă từng thúc giục Hoa Thịnh Đốn thay đổi trưởng
nhiệm CIA ở Sài g̣n là Richardson vốn là người có thiệm cảm với
TT Diệm. Trong vụ tự thiêu của Ḥa thượng Thích Quảng Đức, chính
Halberstam cũng góp tay vào việc dàn dựng và đưa tin khắp thế
giới về biến cố này. Ngày 5 tháng mười, 1963 chính quyền của TT
Kennedy giữ lại số tiền 250.000 Mỹ kim tài trợ cho Lực lượng Đặc
Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung mà ngày 22.10 khi đăng tải tin tức
trên tờ The New York Times, Halberstam chế thêm dầu vào lửa khi
nói rằng lực lượng quân đội của ông Nhu được thấy như là sử dụng
cho các mục tiêu quân sự mang tính cách chính trị.
Một kư giả khác Rufus Phillips tin rằng cố gắng của Hoa Kỳ sẽ
trở thành vô vọng khi ông Ngô Đ́nh Nhu c̣n ở trong chính quyền
và y luôn luôn chủ trương phải cắt đứt mọi viện trợ cho Lực
Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung. [61]
Chính các loại kư giả cỡ như David Halberstam, Rufus Phillips,
Neil Sheehan chuyên sử dụng các nguồn tin của cán bộ Cộng Sản,
đă đầu độc dư luận nhân dân Hoa Kỳ và góp tay vào việc lật đổ
chế độ của TT Ngô Đ́nh Diệm qua vụ Phật Giáo.
Trong biến cố Tết Mậu Thân, báo giới Hoa Kỳ chia làm hai phe,
một bên cho rằng Hoa Kỳ đang thắng lợi trong khi phe kia, như
Walter Cronkite lại nhất định chủ trương rằng Hoa Kỳ đă rơ ràng
thất bại trong cuộc TCK-TKN. Edward J. Epstein trong TV Guide
của chương tŕnh NBC đă gợi ư rằng: "... các tiết mục gồm ba
phần cho thấy Tết quả thật là một chiến thắng có tính cách quyết
định của Hoa Kỳ và rằng cơ quan truyền thông đă cường độ một
cách quá đáng về quan điểm cho rằng đó là một thất bại của miền
Nam. Sau khi cân nhắc lại ư kiến đó đă bị loại bỏ bởi v́... Tết
đă hoàn toàn được h́nh thành trong đầu óc công chúng rằng đó là
một thất bại và như thế cũng là sự thất bại của Hoa Kỳ." [62]
Nhà văn Peter Braestrup trong một cuốn sách của ông cho rằng các
kư giả và những người làm tin đă báo cáo sai về cuộc tấn công
Tết v́ rằng họ là những người nạn nhân vô tội của một hệ thống
những trường hợp thông tin bất b́nh thường.
Robert Elegant vốn là một phóng viên phục vụ tại Việt Nam trong
nhiều năm đă nghiêm khắc trách cứ các đồng nghiệp của ḿnh trong
việc đưa sai tin tức, không chỉ trong vụ tấn công Tết mà c̣n
toàn bộ cuộc chiến tranh. Elegant tin rằng các kư giả Hoa Kỳ ở
Việt Nam đă đi trật đường v́ họ bị cưỡng bách cô lập khỏi cuộc
sống ở Việt Nam v́ lẽ họ bị cách biệt khỏi người Việt Nam do các
hàng rào ngôn ngữ, văn hóa và tách biệt khỏi giới quân sự Hoa Kỳ
v́ các thái độ luân lư và các thành kiến chính trị. Kư giả
Elegant cũng cho rằng hầu hết các phóng viên tường thuật cuộc
chiến một cách tiêu cực bởi v́ các ông chủ báo muốn như thế. Hơn
nữa, kư giả nào từ chối chấp nhận kiểu loan tin như vậy, trái
ngược với cách làm của giới kư giả đồng nghiệp của ḿnh, sẽ bị
loại ra khỏi nghề nghiệp và bị cô lập trong đời sống cá nhân của
ḿnh. [63]
Trong một số tư liệu của ngoại quốc viết về Tết Mậu Thân, hầu
hết các tác giả này đều cho rằng dư luận dân chúng Hoa Kỳ bị
choáng váng v́ tính cách bất ngờ của biến cố, bởi v́ thời gian
trước đó, tin tức chiến sự từ VN chuyển về đều nói rằng HK đang
trên đà chiến thắng. Nay th́ dân chúng HK đang hụt hẫng v́ sự
thật khác biệt đang xảy ra nguyên do có lẽ v́ Tổng Thống Johnson
đă không muốn phá vỡ niềm tin rằng HK đang chiến thắng. Lẽ ra
trong các thông điệp như State of Union chẳng hạn, TT Johnson
phải tŕnh bày rơ cho dân chúng Hoa Kỳ biết các diễn tiến của
cuộc chiến tại VN để họ cảm thông và có những đồng thuận với ông
trong các quyết định của hành pháp. Chính sau này, Johnson cũng
xác nhận đó là những sai lầm của ông. Do biến cố Tết Mậu Thân,
TT Johnson thông báo quyết định không ra tái tranh cử Tổng thống
năm 1968, và mặc dù CSBV trước khi tiến hành cuộc TCK-TKN cũng
đă không hề nghĩ tới dư luận của dân chúng HK, nhưng nói như
Trần Độ, họ cũng được hưởng một chút kết quả do may mắn hơn là
có tính toán trước. Dư luận cũng nói nhiều đến việc CSBV muốn
dùng biến cố Tết Mậu Thân để tiêu diệt bớt lực lượng của
MTDTGPMN để thay vào đó là quân chủ lực Bắc Việt và các thành
phần lănh đạo do Hà Nội gửi vào. Một số sách vở như tài liệu bút
kư, hồi kư, phát biểu của các nhân vật lănh đạo quân "giải phóng"
miền Nam cũng bộc lộ sự kết án này trong những lời lẽ chua chát,
hậm hực pha lẫn đắng cay. Sự thật lịch sử sẽ xác quyết vấn nạn
này.
Riêng về giới lănh đạo của hai nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Ḥa,
chắc chắn mọi người đều có thể so sánh, đối chiếu một cách dễ
dàng. Một bên là Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tận tụy làm việc
cho đất nước đến hy sinh mạng sống ḿnh v́ bảo vệ chủ quyền dân
tộc, như lời ông đă nói với kư giả Maguerite Higgins của tờ báo
New York Herald Tribune đầu tháng 8 năm 1963: "Tôi dường
như không thể thuyết phục cho Ṭa Đại Sứ biết rằng đây là Việt
Nam chứ không phải là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ."[64] , c̣n một bên
Tướng Nguyễn Văn Thiệu ỷ lại vào Hoa Kỳ trong một thời điểm nóng
bỏng như những ngày trước tết Mậu Thân vẫn c̣n nhởn nhơ về quê
vợ là Mỹ Tho để ăn Tết mặc dù ngành t́nh báo Hoa Kỳ đă cảnh giác
trước. Với một típ người lănh đạo như Tướng Thiệu, làm sao chúng
ta không mất nước được ?
Nguyễn Đức Cung New Jersey 5.10.2007
1.- Liên Hằng T. Nguyễn, “Bộ Chính trị chiến tranh: Đường lối
chính trị và ngoại giao của Bắc Việt trong cuộc tấn công Tết Mậu
Thân 1968”. (The War Politburo: North Vietnam's Diplomatic and
Political Road to the Têt Offensive), Journal of Vietnamese
Studies Feb 2006, Vol. 1, No. 1-2: 4–58. Vy Huyền dịch,
Talawas ngày 22.2.2007. 2.- Lê Xuân Khoa,
Việt Nam 1945-1995, Chiến tranh, Tị nạn,
Bài học Lịch sử, Tập I, Tiên Rồng 2004, trang 271, Phần Ba:
“Nội chiến hay Chiến tranh Ủy nhiệm?” Ư kiến của Lê Xuân Khoa đă
gây một số tranh luận trên báo chí Việt Nam ở hải ngoại. 3.- Nguyễn Văn Minh,
Ḍng họ Ngô Đ́nh, Ước mơ chưa đạt,
Hoàng Nguyên xuất bản, tái bản lần thứ nhất tháng 11-2003, tr.
419. 4.- Nguyễn Văn Minh, Sđd, tr. 421. 5.- LM Bửu Dưỡng, “Trước những trào-lưu mới: Phong-trào Nhân-Vị”,
Tạp chí Đại Học số 11, Tháng 9 năm 1959, tr. 48. 6.- Robert Scigliano,
South Vietnam, Nation Under Stress,
(editor: Dayton D. McKean), University of Colorado, Houghton
Mifflin Company, Boston, tr. 76. 7.- Trong những năm ra hải ngoại sau ngày 30-4-1975, linh mục
Nguyễn Phương (nguyên giáo sư sử học Viện Đại Học Huế trước
1975) cộng tác với nhiều báo Việt ngữ, dưới bút hiệu Trúc Long.
Bài này được đăng trên tạp chí
Văn Nghệ Tiền Phong ở
Virginia, khoảng tháng 8-1982. 8.- Nguyễn Văn Minh, Sđd, tr. 423. 9.-
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, quyển XXVII, tr. 45. Kế
hoạch này đă được Tiễu Phủ Sứ Nguyễn Tấn và hậu duệ của ông áp
dụng trong việc xây dựng cơ cấu Sơn pḥng Quảng Ngăi và B́nh
Định, đem lại an ninh và thịnh vượng cho vùng cao các tỉnh này.
Xem thêm Nguyễn Đức Cung, Lịch sử vùng cao qua Vũ Man Tạp Lục
Thư và Diên-Lộc Quận-Công Nguyễn Thân, do nhà xuất
bản Nhật-Lệ in và phát hành năm 1998 và 2002. 10.- Lâm Thanh Liêm,
Chính sách cải cách ruộng đất Việt Nam
(1954-1994), Nxb. Nam Á, Paris, 1995, tr. 55. 11.- Robert Scigliano, Sđd, tr. 180. 12.- Nguyễn Văn Châu,
Ngo Dinh Diem, en 1963: Une autre paix
manquée, bản tiếng Việt Ngô Đ́nh Diệm và Nỗ lực ḥa b́nh
dang dở, Nguyễn Vy Khanh dịch, Nxb. Xuân Thu, California,
1989, tr. 149. 13.- Suzanne Labin, bản tiếng Pháp
Vietnam, Révélation d'un
témoin, bản tiếng Anh Vietnam, An Eye-Witness Account,
Crestwood Book, Virginia, 1964, tr. 55. 14.- Suzanne Labin, Sđd, tr. 57. 15.- Suzanne Labin, Sđd, tr. 54. 16.- Nguyễn Văn Châu, Sđd, tr. 155. 17.- Bùi Tín, “40 Năm ngày đảo chính chế độ Ngô Đ́nh Diệm: cái
nh́n từ Hà Nội”, tạp chí Thông Luận số 174, tháng
10-2003. 18.- Vĩnh Phúc, Những huyền thoại & sự thật về chế độ Ngô
Đ́nh Diệm, Nxb. Văn Nghệ, California, 1998, tr. 93. 19.- Nguyễn Văn Minh, Sđd, tr. 88. 20.- Dư Văn Chất,
Người chân chính, Nxb. Hà Nội, 1993,
tr. 11; Nguyễn Văn Minh, Sđd, tr. 104-126. 21.- Ông Lê Phước Thưởng là một cán bộ phái khiển của CS, về
hàng ông Ngô Đ́nh Cẩn năm 1957, hợp tác với chính quyền phá vỡ
nhiều cụm t́nh báo của CS tại Miền Nam. Sau ngày 30-4-1975, ông
Thưởng bị bắt và đưa ra trại Hà Tây, rồi trại Nam Hà ở tù chung
với tôi (NĐC), Tháng 2-1988 ông Thưởng được thả và về sống tại
Đà Nẵng. Sau đó vài năm ông mất v́ ung thư cổ họng. Tính ông
khẳng khái nên trong tù rất được nhiều người thương mến. 22.- Tú Gàn, “Sớm đầu tối đánh”, tuần báo
Sài G̣n Nhỏ,
ngày 17.11.2000. 23.- John M. Newman, JFK and Vietnam, New York, Deception,
intrigue, and the struggle for power, Warner Books, 1992,
tr. 26. 24.- Minh Vơ, Ngô Đ́nh Diệm, lời khen tiếng chê, Nxb.
Thông Vũ (tái bản lần thứ nhất, California, tháng 10, năm 1998),
tr. 42. 25.- Minh Vơ, Sđd, tr. 45. 26.- Minh Vơ, Sđd, tr. 46. 27.- Minh Vơ, Sđd, tr. 47. 28.- Ellen J. Hammer,
A death in November, America in Vietnam
1963, Oxford University Press, New York, Oxford, 1987, tr.
310. 29.- Liên Hằng T. Nguyễn, Bài đă dẫn. 30.- Liên Hằng T. Nguyễn, Bài đă dẫn. 31.- Bùi Tín,
Hoa xuyên tuyết, hồi kư, Nxb. Nhân Quyền,
1991, tr. 140. 32.- BBC bản tin Việt ngữ, ngày 04 tháng 5 năm 2006. 33.- Vũ Thư Hiên,
Đêm giữa ban ngày, hồi kư, Nxb. Văn
Nghệ, tái bản lần thứ nhất, 1997, tr. 328. 34.- Liên Hằng T.Nguyễn, Bài đă dẫn. 35.- Liên Hằng T. Nguyễn, Bài đă dẫn. 36.- BBC bản tin Việt ngữ ngày 04 tháng 5 năm 2006. 37.- Liên Hằng T. Nguyễn, Bài đă dẫn. 38.- Liên Hằng T. Nguyễn, Bài đă dẫn. 39.- Nguyễn Minh Cần,
Công lư đ̣i hỏi, Nxb. Văn Nghệ,
California, 1997, tr. 103. 40.- BBC bản tin Việt ngữ ngày 19 tháng 5 năm 2006. 41.- Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 293. 42.- Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 294. 43.- Don Oberdorfer,
Tet, The turning point in the Vietnam
war, A Da Capo Paperback, 1971, tr. 42. 44.- Judy Stowe, "Lịch sử chủ nghĩa xét lại tại Việt Nam" Đỗ Văn
dịch, Phụ Nữ Diễn Đàn số 136, 1995, dẫn theo Trần Gia
Phụng, Án tích Cộng sản Việt Nam, Nxb. Non Nước, Toronto,
Canada, 2001, tr. 287. 45.- Don Oberdorfer, Sđd, tr. 205. 46.- James J. Wirtz,
The Tet offensive, Intelligence failure
in war, Cornell University Press, 1991, tr. 149. 47.- Phillip B. Davidson,
Vietnam at war, The history
1946-1975, Oxford University Press, New York, Oxford, 1988,
tr. 474. 48.- Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 295. 49.- Cecil B. Currey,
Victory at any cost, The genius of
Vietnam's Gen. Vo Nguyen Giap, 1997, tr. 267. 50.- Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 295. 51.- Phillip B. Davidson, Sđd, tr. 474. 52.- Phillip B. Davidson, Sđd. tr. 475. 53.- Lewis Sorley,
A better war, The unexamined victories and
final tragedy of America's last years in Vietnam, Harcourt
Brace & Company, New York, San Diego, London, 1999, tr. 97. 54.- Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 297. 55.- Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 296. 56.- Peter Macdonald,
Giap, The victor in Vietnam, W.W.
Norton &Company, New York, London, 1993, tr. 268. 57.- Peter Macdonald, Sđd, tr. 268. 58.- Cecil B. Currey, Sđd, tr. 268. 59.- Peter Macdonald, Sđd, tr. 260. 60.- Francis X. Winters,
The year of the hare, The
university of Georgia Press, Athens & London, 1997, tr. 72. 61.- Francis X. Winters, Sđd, tr. 81. 62.- Phillip B. Davidson, Sđd, tr. 486. 63.- Các trường hợp trích dẫn về Peter Braestrup và Robert
Elegant đều theo Phillip B. Davidson, Sđd, tr. 487. 64.- Mark Moyar,
Triumph forsaken, The Vietnam War 1954-1965,
Cambridge University Press, 2006, tr. 229.
[*] Tham khảo:
bài trả lời phỏng vấn của Ts. Lê Văn Hảo dành cho đài Á Châu Tự
Do (RFA). Thông Luận, muc “Một ṿng thời sự”, ngày
21/12/2006. (BBT) |