Việt Nam Cộng Ḥa 10 ngày cuối cùng

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN

 <<< Trở về trang chính    VIỆT NAM  TANG CHẾ

 <<< Trở về trang chính     ĐẠI CÁO TRẠNG

 <<< Trở về trang chính     NGHI ÁN

 

 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***


Tác giả nguyên:

-Giáo sư trường trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ, 1958
-Động viên khóa 16 Sĩ Quan Trừu Bị Thủ Đức, 1963
-Giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội Sài G̣n, 1964
-Chủ bút nguyệt san Anh ngữ Free Front, Sài G̣n, 1969-1975
-Chuyên viên liên lạc Quốc Tế của Liên Hiệp Nghị Sĩ Á Châu (Asian Parliamentarians’ Union, Sai G̣n 1971—1975
-Đặc phái viên hảng thông tấn Central News Agency (CAN), Đài Loan
-Cộng tác với các báo: Sống, Việt Nam Nhật Báo, Diễn Đàn, T́m Hiểu, Dân Chủ (trong nước trước 1975), Người Việt, Thời Luận, các Nguyệt San Thế Kỷ 21, Văn Hóa, Việt Học (hải ngoại)
Địa chỉ liên lạc: PO Box 8524 - Fountaivalley, CA 92728 -
E-mail:
trandongphong2006@yahoo.com

***

"VNCH 10 Ngày Cuối Cùng" một tác phẩm biên khảo công phu, nhiều dữ kiện lịch sử đương đại, không thể thiếu trong tù sách gia đ́nh. trachnhiemOnline đă được tác giả cho phép đăng tải phổ biến đến độc giả chưa có dịp đọc tác phẩm mang nhiều lịch sử tính nầy. Mọi sự trích đăng đều phải tôn trọng trachnhiemOnline. 
Chân thành cảm ơn tác giả Trần Đông Phong
.
trachnhiemonline

***

Chừng nào những người tập trung “cải tạo” được  về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó, tôi sẽ tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.
TRẦN VĂN HƯƠNG (1978)

Đừng có quên rằng trong cuộc chiến tranh nầy, người nào, phe nào c̣n có thể chiến đấu được trong 5 phút cuối cùng th́ phe đó sẽ chiến thắng
NGÔ Đ̀NH DIỆM (1963)

Nếu chính phủ nầy bị lật đổ, chỉ cần một chu kỳ (12 năm), Cộng Sản sẽ thôn tính miến Nam. Và sau đó, phải đến ba chu kỳ nữa th́ nhân dân miền Nam mới thoát được ách Cộng Sản.
NGÔ Đ̀NH NHU (1963
)

Mấy năm về trước, ông Thiệu đă nói với Đại sứ Bunker rằng ông ta có ít kinh nghiệm về chỉ huy cao hơn cấp sư đoàn.
LEWIS SORLEY (Sử Gia)
 

Nếu được viện trợ ở mức 1,400 triệu Mỹ kim: Giữ được cả 4 Vùng Chiến Thuật.
Nếu được viện trợ ở mức 1,100 triệu Mỹ kim: không giữ được Vùng I.
Nếu chỉ được viện trợ có 900 triệu Mỹ Kim: quên đi cả Vùng I và Vùng II.
Nếu chỉ được viện trợ 750 triệu Mỹ kim: chỉ c̣n giữ được một số vùng đông dân cư.
Nêu quân viện chỉ c̣n ở mức độ 600 triệu Mỹ kim: chỉ c̣n giữ được Sài G̣n và miền Tây
Thiếu Tướng JHON E. MURRAY - Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ (DAO


từ trang 018 đến trang 026

BỐI CẢNH

Trước Tháng 4/1975.

            Những diễn biến đưa đến cuộc tổng tấn công của Cộng sản Bắc Việt tại miến Nam Việt Nam, từ tháng 3 năm 1975 cho đến ngày Dương Văn Minh ra lệnh đầu hang, thật ra đă khởi đầu từ Washington vào mùa Thu năm 1974, từ Mạc tư Khoa vào cuối năm 1974, tại Hà Nội và tại Sài G̣n cũng vào tháng 12 năm đó và cuối cùng xa hơn nữa là từ Bắc Kinh vào năm 1971

            Sau khi kư Hiệp Định Paris vào cuối tháng 1 năm 1973, Hà nội đă nhiều lần xin Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa gia tăng viện trơ quân sự nhưng đă bị cả hai quốc gia Cộng sản đàn anh bác bỏ. Tuy nhiên một năm rưởi sau đó th́ t́nh h́nh hoàn toàn thay đổi, thuận lợi nhiều hơn cho Bắc Việt, chỉ v́ một sự kiện chẳng có  dính dáng ǵ đến Việt Nam mà chỉ có liên hệ đến người Nga gốc Do Thái.

            Trưoớc khi trở thành ngoại trưởng, trong thời gian c̣n giữ chức phụ tá vế An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Nixon, Tiến sĩ Henry Kissinger đă mở nhiều cuộc thương thuyết nhằm giảm bớt căng thẳng (détente) trong bang giao Mỹ Liên Xô và cũng nhằm lấy cảm t́nh với Liên Xô để nhờ đó, đại cường Cộng sản nầy có thể gây áp lực với Hà Nội nhằm tiến đến việc kư kết hiệp ước mang lại ḥa b́nh, cho người Mỹ, tại Việt Nam. Với mục tiêu đó, Kissinger đă hứa hẹn với các nhà lănh đạo Nga Xô rằng Hoa Kỳ sẽ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc (most-favored nation) và nếu được hưởng quy chế nầy, LX có thể mở rộng giao thương với HK và Tây Phương, một mục tiêu mà LX đang cấp bách t́m cách thực hiện để cứu văn nền kinh tế xă hội chủ nghĩa đang trên dà kiệt quệ.

            Để đáp lại thiện chí nầy, lănh tụ LX Brezhnev đă áp lực với Hà Nội phải ngưng việc đ̣i hỏi phải loại bỏTổng Thống Nguyễn Văn Thiệu như là một trong những điều kiện căn bản để kư kết hiệp định Paris và sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào đầu năm 1973, mặc dù Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) đă nhiều lần khẩn thiết yêu cầu, LX chỉ viện trợ kinh tế và đă từ khước không chịu gia tăng viện trợ quân sự cho Cộng Sản Hà Nội ví không muốn làm mất ḷng Hoa Kỳ.

V́ lư do đó, kể từ sau HD Ba Lê được kư kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, tuy CS Hà Nội cũng có trắng trơn vi phạm hiệp định rất nhiều lần, nhưng trong hai năm 1973 và 1974 không có trận đánh quan trọng nào xảy ra tại miền Nam ngoài những trận đụng độ trong chiến dịch chiếm đất dành dân giữa hai bên và các trận Cửa Việt, Sa Huỳnh, Hồng Ngự, Trung Nghĩa và Tống Lê Chân … Đến cuối 1973, cộng Sản khởi sự các chiến dịch triệt hạ các tiền đồn và căn cứ ở những vùng hẻo lánh của VNCH: căn cứ Lê Minh (Plei D’jerng) là căn cứ đầu tiên bị thất thủ vào tháng 9 năm 1973, tiếp theo là căn cứ Ngọc Bảy, căn cứ Dak Song, và Kiến Đức căn cứ Núi Bạch Mă, Gia Vực, Minh Long bị tràn ngập và căn cứ Tống Lê Chân bị di tản v́ không chịu nổi sự bao vây và pháo kích hơn 10,000 đạn đại bác của CS chỉ trong ṿng 4 tháng trời. Trận quan trọng nhất là trận Thường Đức ở Quang Nam c̣n được gọi là Đồi 1062, nơi mà 2 Lữ Đoàn 1 và 2 Nhảy Dù đă chiến đấu chống lại các Trung đoàn 29, 31 và 66 thuộc Sư đ̣a 2, 324B và 304 của CSBV. Trong trận nầy, vế phía CS có hai ngàn người chết, năm ngàn bị thương và vế phía VNCH th́ năm trăm Nhảy Dù bị tử thương, hai ngàn bị thương.

            Đối với người Mỹ th́ HD Ba Lê đă mang lại ḥa b́nh cho họ, nhưng đối với Miến Nam Việt Nam th́ cái gọi là “Hiệp Định Về Chấm dứt Chiến Tranh, Lập Lại Ḥa B́nh ở Việt Nam gày 27 tháng 1 năm 1973” (danh từ do chính Lưu Văn Lợi, trợ lư của Lê Đức Thọ tại hội nghị Ba Lê dùng trong cuốn sách của ông ta) th́ lại chẳng thấy ḥa b́nh đâu cả. Theo tài liệu của Đại Tướng Cao Văn Viên th́ vào năm 1972, kể cả cuộc “Tiến công Xuân Hè 1972 tức Mùa Hè Đỏ Lửa th́ tại Miến Nam có tất cả 2,072 vụ tấn công, tuy nhiên sau khi HD Ba Lê được kư kết th́ trong năm 1973 có đến 2,980 vụ tấn công, tức đă gia tăng trên 30 phần trăm.

            Vế phí VC th́ ngày 6 tháng 4 năm 1973, Ủy Ban Tố cáo tội ác chiến tranh  của họ đă tố cáo rằng “trong thời gian 2 tháng từ 28 tháng 1 đến 28 tháng 2 năm 1973, chính quyền Sài G̣n đă vi phạm hiệp định Pa –ri 7 vạn (70,000) lần..”

            Trong cuốn hồi kư “Kết thúc Cuốc Chiến Tranh 30 Năm” Trần Văn Trà tiết lộ về thời gian “ḥa b́nh” nầy: “Kết quả cụ thể riêng một đợt từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975, ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh, 4 huyện, đă phá hủy 108 máy bay, 110 chiếc tàu, tiêu diệt 56,315 tên địch …” Những con số nầy là những con số không đúng sự thật v́ từ tháng 12 năm 1974 cho đến tháng 2 năm 1975 th́ VNCh chỉ mất 1 tỉnh Phước Long với số tổn thất khoảng 4,000 người thương vong và mất tích (theo Tướng Cao Văn Viện trong The Final Collapse), ngoài ra trong toàn quốc không hề có một trận đánh lớn nào trong suốt khoảng thời gian đó, làm sao mà Trần Văn Trà lại có thể “tiêu diệt” dược 56,315 “tên dịch” tức là quân số trên 5 sư đoàn!?

            Tóm lại trong hai năm 1973 và 1974, sau HD Ba Lê được kư kết th́ đối với người Mỹ, họ đă có “hào b́nh trong danh dự”, đối với miến Bắc th́ họ cũng có hoa b́nh v́ không bị phi cơ Mỹ oanh tạc, nhưng đối với người Việt Nam tại Nam Việt Nam th́ vẫn không hề có ḥa b́nh, tuy nhiên cũng không có trận đánh lớn nào xảy ra.

            TỪ HÀ NỘI

            Vào khoảng cuối năm 1974, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhân dân Bắc Việt đă soạn thảo một kế hoạch quân sự cho năm 1975, theo kế hoạch nầy th́ các lực lượng CS sẽ gia tăng đánh phá các chiến trường B2, B3 và B4 (ghi chú: theo giải thích của Tướng CS Trần Văn Trà trong hồi kư “Những Chặng Dường Lịch Sử của B2 Thành Đồng” th́ B1 là kư hiệu của vùng đất từ Quảng Nam vào đến Nha Trang, B3 là vùng Cao Nguyên, B4 là vùng Quảng Trị Thừa Thiên và B2 là vùng đất rộng lớn từ Darlac, Lâm Đồng, Phan Rang vào tới Mũi Cà Mâu – trang 9) để chiếm các tiền đồn, các quận lỵ hẻo lánh, cô lập các lực lượng của VNCH rồi sang năm 1976, khi tại Hoa Kỳ đang diễn ra cuộc bầu cử tổng thống và tháng 11 th́ CS Bắ Việt sẽ mở các cuộc tổng tấn công chiếm trọn Miến Nam. Kế hoạch nầy đă được các ấp lănh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận trên nguyên tắc, tuy nhiên giới lănh đạo Đảng muốn đưa dự án kế hoạch nầy vào thảo luận trước phiên họp Khoáng Đại lần thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam vào ngày 18 tháng 12 năm 1974 để đại hội phê chuẩn.

 Kế Hoạch Quân Sự 1975 của Hà Nội:
Chỉ Đánh Đồng Bằng, Phá B́nh Định

            Trong bức thư gởi cho “anh Bảy Cường”  tức Phạm Hùng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Đảng Ủy Trung Ương Miến Nam mà người Mỹ gọi là COSVN, ngày 10 tháng 10 năm 1974, Tổng Bí Thư Lê Duẩn nói rằng:

            “Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng đă họp bàn nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước trong hai năm 1975 – 1976. Hội nghị bắt đầu ngày 30 tháng 9 năm 1974 và đến ngày 8 tháng 10 năm 1974 th́ tạm dừng, chớ anh và một số ở chiến trường ra. Để kết thúc đợt thảo luận đó, tôi đă phát biểu một số ư kiến. Văn pḥng Bộ Tổng Tham Mưu đă ghi và tôi đă xem lại, nay gởi đến anh để nghiên cứu trước khi Bộ Chính Trị họp tiếp.

            Quyết tâm của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tấn công và nổi dây cuối cùng đưa chiến trach cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan ră toàn quân ngụy, đánh chiếm Sài G̣n, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ ngụy quyền ở trung ương và các cấp, dành toàn bộ chính quyền vế tay nhân dân, giải phóng toàn bộ miến Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thông nhất đất nước nhà. Ngay từ giớ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975-1976 (ghi chú: Đảng Cộng sản Việt Nam: Đại Thắng Mùa Xuân 1975-Văn kiện đảng. Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005, từ nay sẽ gọi “Văn Kiện Đảng” trang 17-20)

            Trong hồi kư của ông, Trần Văn Trà cho biết rằng sau khi gởi chỉ thị cho Phạm Hùng và Trần Văn Trà phải ra Hà Nội để dự hội nghị Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng th́ ít lâu sau, Bộ Chính Trị thay đổi ư  kiến v́ họ muốn hai người nầy phải ở lại miền Nam để thi hành những chỉ thị của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương, do đó vào tháng 11 năm 1974, họ đă cho một cán bộ tên là hai Nhă đang dưởng bệnh tại Hà Nội, mang chỉ thị về miến Nam cho Phạm Hùng và Trần Văn Trà.

            Trần Văn Trà cho biết rằng Hai Nhă đến gặp Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham Mưu Trưởng và Lê Ngọc Hiền, hai tướng nầy đă nói rơ từng chi tiết cho Hai Nhă để người nầy mang vào miến Nam. Sau đó Hai Nhă được lệnh đấn tŕnh diện Văn Tiến Dũng tại Quân Ủy Trung Ương và khi Văn Tiến Dũng hỏi Hai Nhă đă nắm rơ nhiệm vụ chưa th́ Hai Nhă trả lời như sau:

            “Tôi phải về ngay mang chỉ thị của Bộ Chính Trị về cho B2, anh Hùng và anh Trà khỏi ra Bắc nữa: “Năm 1975 không đánh lớn, chỉ lo đánh phá b́nh định ở đồng bằng Sông Cửu Long. Ở miền Đông, chủ lực không đánh lớn, B2 định đánh Đồng Xoài, phước Long nhưng Bộ không đồng ư mà chỉ cho đánh nhỏ, giải quyết một số điểm nhỏ trên đường quốc lộ 14 thôi. Năm nay đánh nhỏ, giải quyết là để tích lực lượng chờ đợi thời cơ. Không xử dụng xe tăng, pháo lớn nếu không được Bộ Tổng Tham Mưu duyệt từng trường hợp.”

            Nghe xong, Văn Tiến Dũng nói thêm: “Anh hiểu như vậy là đúng rồi! Phải giữ lực lượng chờ thời cơ. Năm nay chỉ đánh ở đồng bằng, phá b́nh định. Đạn dược nhất là pháo lớn ta c̣n kém lắm. Không nên đánh lớn rồi khi có thời cơ không có lực lượng mà đánh. Anh phải hiểu rằng cán bộ tham mưu như các anh phải có trách nhiệm để đạt ư với tư lệnh, chứ không phải chỉ có Tư lệnh chịu trách nhiệm đâu. Như vậy là anh quán triệt được ư kiến cấp trên rồi. Nhưng tôi sẽ viết diện y như nội dung nầy để anh Ba (Lê Duẩn) kư gởi truop71c vào trong ấy”  (ghi chú: Trần Văn Trà: Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Nhà xuất bản Văn Nghệ, Sài G̣n, 1982; trang 172-174)

            Phạm Hùng không nhận được công điện nầy nên ông ta cùng Trần Văn Trà lên đường và giữa đường cũng không gặp Hai Nhă cho nên cả hai đến Hà Nội vào khoảng giữa tháng 11.

            Tại Hà nội hai ông được Tướng Lê Ngọc Hiền, phụ trách tác chi61n thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt cho biết kế hoạch quân sự trong năm 1975 tại Miến Nam đă được quyết định như sau:

            “Nam 1975 sẽ chia làm 3 đợt:

            - Đợt 1 từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975. Đợt nầy chỉ B2 hoạt động v́ B2 đă có kế hoạch sẳn.

            - Đợt 2 là đợt toàn Miền từ tháng 3 đến tháng 6.

            - Đợt 3 từ tháng 8 trở đi là đợt hoạt động nhỏ để chuẩn bị cho năm 1976.”

            Ngày 18 tháng 12 năm 1974, cuộc họp giữa Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương cùng với sự hiện diện của các tư lệnh chiến trường trong đó có Phạm Hùng và Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân Sự B2 tức miến Nam, đă khai mạc ở Hà Nội. Trần Văn Trà cho biết:

            “Sau khi các chiến trường báo cáo, đồng chí Lê Ngọc Hiền thay mặt Bộ Tổng Tham Mưu tŕnh bày dự kiến của Bộ về kế hoạch hoạt động của năm 1975.

            Kế hoạch dự kiến về xây dựng lực lượng ta trong năm về mở các hành lang hông suốt, về dự trử vật chất, hậu cần ở các hướng. Nămm 1975 phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị thật tốt để đảm bảo đánh lớn, tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng lợi trong năm 1976.

            “Đồng chí báo cáo cụ thể về các lực lượng quân sự của ta hiện nay ở các chiến trường và ở Trung Ương. Số lượng binh khí kỷ thuật và đạn dược đang có ở các nơi và số dự trử. Dự kiến phân chia việc xử dụng các loại ở chiến trường trong  hai năm. Riệng về số lượng đạn cở lớn, đồng chí báo cáo: số lượng c̣n lại phía trước và phía sau tổng cộng là 100% sẽ xử dụng: hơn 10% trong năm 1975, 45% trong năm 1976, c̣n lại là dự trữ gần 45% …

            “Tất cả xoay quanh nhận định đánh phá b́nh định trong, ngoài nước. Ta đánh mạnh, ngụy sẽ ứng phó thế nào? Mỹ sẽ hành động ra sao? Có dám can thiệp tr73 lại kh6ng hay có những âm mưu thủ đoạn nào khác? Phương pháp cách mạng thế nào là đ1ng nhất? Các bước đi trong hai năm (1975) và (1976) nên bước thế nào cho kịp và cho vững. Năm 1975 nên thế nào? Và rồi 1976? Hai năm cuối cùng của 30 năm khổ cực th́ sao thấy nó nhanh quá, sắp đến nơi rồi.

            “Khi kết luận Hội nghị, anh Ba (Lê Duẩn) đă nói: “Chuẩn bị hai năm tuy ngắn đấy nhưng cũng có khi dài đấy”. Và khi phát biểu, anh Phạm Văn Đồng nói: “Lúc nào là thời điểm sụp đổ của Ngụy? Không phải chờ đến năm 1976 đâu, có thể nhanh, không phải dần dần đâu”. Và anh Vơ cũng như nhiều anh khác nhấn mạnh: trong hai năm 1975-1976 là đúng. Nhưng kế hoạch cần đề pḥng sớm hơn, trong năm 1975 và cả t́nh huống kéo dài qua năm 1977. Như vậy mới chủ động vững vàng” (ghi chú: Trần văn Trà, sđd, trang 172-187)

            Như vậy th́ vào cuối năm 1974, Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động đă chấp thuận kế hoạch quân sự tại Miền Nam cho năm 1975 là chỉ tấn công những mục tiêu lẻ tẻ để chiếm đất dành dân, làm tiêu hao Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa với 10% vũ khí dự trữ và sang đến cuối năm 1976, khi có cuộc bầu cử t3ng thống diễn ra tại Hoa Kỳ th́ họ sẽ tổng tấn công để chiếm miền Nam.

            Trong những phiên họp nầy, đại diện của Trung Ương Cục Miến Nam đă đưa ra đề nghị tấn công và chiếm đóng tỉnh Phước Long nhắm vào hai mục đích: về quân sự, khi tấn công Phước Long th́ VC sẽ chiếm được 5 tiền đồn quan trọng, sẹ thiết lập con đường chiến lược cho các chiến xa, cơ giới, trọng pháo, xe chở nhiên liệu và binh sĩ từ vùng phi quân sự di chuyển thẳng xuống miến Đông Nam Phần tức lănh thổ Vùng 3 Chiến Thuật của VNCH mộ cách dễ dang. Cuộc tấn công nầy sẽ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của VNCH và do đó sẽ không c̣n quân để tiếp viện cho những chiến trường khác. Về phương diện chính trị, nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để mất tỉnh Phước Long th́ ông sẽ mất rất nhiều uy tín tại miền Nam v́ đă không bảo vệ được lập trường cứng rắn “4 không”  của ông và quan trọng hơn cả là để xem Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào khi cộng sản lần đầu tiên chiếm được một tỉnh tại miến Nam Việt Nam, nhất là sau khi tổng thống Richard Nixon phải từ chức v́ vụ Watergate và Tổng Thống Gerald Ford lên thay thế.

            Đề nghị của Phạm Hùng và Trần Văn trà ban đầu đă không được các cấp lănh đạo trong quân đội Bắc Việt ủng hộ và một tong những người chống đối mạnh nhất lại chính là Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu trưởng Quân dội Nhân Dân Bắc Việt. Lư do mà lúc đầu Tướng Văn Tiến Dũng đă kịch liệt chống lại Trung Ương Cục Miền Nam là v́ chính Bộ Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt của Văn Tiến Dũng đă soạn thảo một kế hoạch quân sự cho năm 1975 tại Miền Nam rồi và kế hoạch nầy đă được các cấp lănh đọa của Đảng chấp thuận, do đó mà bộ tham mưu của ông ta không muốn phải sửa đổi lại kế hoạch nầy để soạn một kế hoạch mới cho cấp dưới tức là Trung Ương Cục Miến Nam đề nghị.


 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 027 đến trang 036

Từ Mạc Tư Khoa:
Gia Tăng Viện Trợ Gấp 4 lần.

            Trong khi hai đại diện của Trung Ương Cục Miên Nam đang vận động cho kế hoạch tấn công tỉnh Phước Long trong tháng 12 năm 1974 th́ ngày 18 tháng, phiên họp khoáng đại kỳ thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam đă khai mạc để thảo luận về các kế hoạch quân sự tại miến Nam trong năm 1975. Một nhân vật ngaoi5 quốc bất ngờ xuất hiện trong phiên họp khaong1 đại nầy, đó là Đại Tướng Victro Kulikove, Thứ Trưởng Bộ quốc Pḥng kiêm Tư Lịnh Hồng Quân Liên Bang Xô Viết mới từ Mạc Tư Khoa đến Hà Nội.

            Như đă nói ở trên, Vào giữ năm 1974, sau khi lên làm ngoại trưởng, ông Kissinger đă thực hiện lời hứa hẹn với Liên Xô hồi năm 1972, đă vận động với Quốc Hội Mỹ cho Liên Xô được hưởng “tối huệ quốc”  (mosr-favored nation) và dự luật nầy đa được Hạ Viện thông qua. Nhưng khi bản dự  luật nầy được đưa lên Thượng Viện vào mùa Thu năm 1974 th́ Thượng Nghị Sĩ Henry Jackson thuộc đảng Dân Chủ tiểu bang Washington, một nghị sĩ thuộc phe “diều hâu” tức là phe ủng hộ VNCH, nhưhg ông nầy lại không ưa tiến sĩ Henry Kissinger, ông là một  trong những nghị sĩ đang hy vọng ra ứng cử tổng thống vào năm 1976 cho nên v́ muốn chiếm được cảm t́nh của cử tri cũng như khối tài phiệt Do Thái, đă kèm vào dự luật nầy một tu chính án (amendment) liên kết việc thông qua dự luật với điều kiện Liên Xô phải có một chính sách cởi mở hơn trong việc cho phép công dân Liên Xô gốc Do Thái được di dân sang Tây Phương và cứu xét vấn đề nầy một cách dễ dăi hơn. Dự luật nầy về sau được gọi là “tu chính an Vanix-Jackson” và trong thập niên 1990, chính cộng đồng người Việt hải ngoại đă vận động quốc hội Mỹ áp để dụng chính án nầy nhằm chống đối việc băi bỏ cấm vận cũng như là kư kết thương ướ`c giữa Hoa Kỳ và Cộng Sản Việt Nam.

            Cũng trong thời gian đó, nhiều nghị sĩ khác đă kèm theo nhiều tu chính khác vào bản Hiệp Ước Thương Mại 1974 (the Trade Act of 1974) với Liên Bang Xô Viết nhằm giới hạn việc cho Liên Xô vay nhiều món nợ khác nếu không dành sự dễ dăi cho người Nga gốc Do Thái trong việc di dân sang nước Do Thái. Mạc Tư Khoa kịch liệt phản đối và Ngoại Trưởng Kissinger đă nhiều lần cảnh cáo rằng nếu quốc hội thêm vào những tu chính như vậy th́ sẽ bị Liên Xô xem là can thiệp vào nội t́nh của quốc gia họ và sẽ gây ra không có lợi cho Hoa Kỳ. Tuy nhiên cho đến tháng 12 năm 1974 th́ quốc hội cũng không nhượng bộ những sự vận động từ phía hành pháp và dự luật về thương mại có kèm theo nhiều tu chính bất lợi cho Liên Xô đă được đa số trong cả Hạ lẫn Thượng nghị viện thông qua.

            Sự can thiệp của quốc hội vào việc thi hành chính sách đối ngoại đă trở thành một trong những mối quan ngại của Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford v́ ông Ford biết rằng những sự hạn chế của quốc hội sẽ làm cho Liên Xô bất b́nh và v́ thế có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực trong các lănh vực khác.

            Trong bản Thông Điệp Về T́nh Trạng Liên Bang (State of the Union) đọc được trước quốc hội vào tháng Giêng năm 1975, Tổng Thống Gerald Ford đă có đề cập đến những trở ngại và khó khăn trong lănh vực đối ngoại do những biện pháp của quốc hội gây ra: “Chúng ta đang gặp phải những khó khăn vô cùng nghiêm trọng mà muốn giải quyết th́ cần phải có sự cộng tác giữa tổng thống và quốc hội. Theo Hiến Pháp và cũng theo truyền thống chính trị của Hoa Kỳ th́ việc thi hành các chính sách và đường lối về đối ngoại là trách nhiệm của tổng thống.

            Nếu muốn cho chính sách đối ngoại được thành công, chúng ta không nên dùng những đạo luật để giới hạn một cách quá cứng rắn những khả năng mà tổng thống có thể hành động. Việc theo đuổi những sự thương thuyết sẽ không thích hợp nếu có những sự hạn chế như vậy. Những giới hạn bởi các luật tu chính dù rằng được nhắm vào những mục đích và mục tiêu tốt đẹp nhất cũng có thể đi đến những hậu quả rất xấu như trong trường hợp mà chúng ta được chứng kiến gần đây trong lănh vực giao thương với Liên Bang Xô viết” (ghi chú: President Gerald R. Ford: Address before a Joint Sesion of Congress on the State of the Union, Washington D.C. January 15,1975)

            Dù rằng cho đến ngày 3 tháng 1 năm 1975 bản dự luật nầy mới được Tổng Thống Gerald Ford ban hành nhưng về phía Liên Xô th́ họ biểu lộ cho thấy họ không thể chấp nhận được việc các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ đă can thiệp vào việc nội chính của Liên Bang xô Viết, do đó giới lănh dạo Liên Xô đă nổi giận và t́m cách trả đủa bằng cách “phá” Hoa Kỳ tại Việt Nam.

            Liên xô phản đối mạnh mẽ đạo luật nầy, họ nói rằng sự “liên kết”  (likage) giữa thương mại với vấn đề di dân của người Nga gốc Do Thái là đă vi phạm những sự hứa hẹn của Tiến sĩ Kissinger. Hăng thông tấn xă Tass của Liên Xô lên tiếng cảnh cáo rằng người Nga sẽ có sự “trả đũa”, họ không nói trả đũa như thế nào, nhưng một tuần sau đó th́ đại sứ Liên xô tại Washington đă bị triệu hồi về nước để “tham khảo”, đồng thời Đại Tướng Viktor Kulikov cũng bất thần được Diện Cẩm Linh phái sang Bắc Việt.

            Tướng Viktoe Kulikov đến Hà Nội vào tháng 12 năm 1974, trên danh nghĩa là tư cách đại diện cho Hồng Quân Xô Viết tham dự lễ Kỷ Niệm 30 Nam Ngày Thành Lập Quân đội Nhân Dân Việt Nam, tuy nhiên sau đó đă tham dự phiên họp Khoáng Đại kỳ thứ 33 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam. Căn cứ vào sự phân tích của cơ quan t́nh báo KGB cơ quan quân báo GRU về t́nh h́nh chính trị tại Hoa Kỳ sau khi Tổng Thống Richard Nixon bị áp lực phải từ chức, Tướng Kulikov nói với các lănh đạo đảng Cộng sản và quân đội Bắc Việt rằng quốc Hội Hoa Kỳ sẽ sẽ không chấp thuận thêm viện trợ kinh tế cũng như là quân sự cho miền Nam Việt Nam nữa, như vậy đây là lúc thuận lợi nhất để mở cuộc tấn công đại quy mô tại Miền Nam và Liên Xô cam kết sẽ ủng hộ kế hoạch tấn công nầy bằng cách tích cực gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt.

            Sauk hi Kulikov trở về Mạc Tư Khoa, Liên Xô đă thực hiện lời hứa của Kulikov và viện trợ quân sự cho Bắc Việt đă gia tăng gấp 4 lần trong những tháng giêng, hai và ba năm 1975. Tướng Việt Cộng Trần Văn Trà cho biết rằng “Do quyết tâm giành thắng lợi lớn hơn của năm nay tạo điều kiện sắp tới nên các anh có điều chỉnh kế hoạch chi viện. Đă đồng ư cho ta (miền Nam) năm 75 đúng như tax in là 27,000 tấn chứ không phải 11,000 tấn như đă thông báo trước đây” (ghi chú: Trần Văn Trà: sđd, trang 180)

            Trong khi đó, v́ Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ, các đơn vị quân đội của VNCH lại lâm vào cảnh thiếu hụt trầm trọng về vũ khí, đạn dược, nhiên liệu, phương tiện và nhất làphu5 tùng cho các loại chiến xa, xe vận tăi, máy bay và tàu bè v.v … Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng quân đội đă áp dụng những biện pháp tiết kiệm, chẳng hạn như trong toàn quốc, không quân chỉ xử dụng từ 4 đến 8 chiếc phi cơ C-130 trong tổng số 32 chiếc mỗi ngày, các hoạt động của hải quân bị cắt giảm chỉ c̣n 28 phần trăm, 600 giang thuyền bị giải tán, khoảng 4,000 xe vận tải không xử dụng được v́ thiếu đồ phụ tùng và riêng số đạn dược th́ phải giảm từ 73,356 tấn hang tháng vào năm 1973 nay chỉ c̣n khoảng 19,808 tấn hang tháng trong 8 tháng đầu tài khóa 1975 (từ tháng 7 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975), tức là giảm đến mức hai phần ba.

            Không những chỉ gia tăng viện trợ vũ khí dna95 dược, Liên Xô c̣n cung cấp những tin tức t́nh báo bằng vệ tinh cho quân đội Cộng Sản tại miền Nam. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Liên Xô phóng vệ tinh từ căn cứ Plessetsk với phương giác (góc độ) 65 độ và 8 ngày sau đó lại phóng thêm một vệ tinh thứ 2 với phương giác 80 độ và cả hai vệ tinh nầy đă quan sát được mọi hoạt động trên toàn cỏi Việt Nam. Đây là loại vệ tinh mới nhất của Liên xô có đủ khả năng chụp được những bức không ảnh với h́nh ảnh nhưng xe cộ và chiến xa rất rơ ràng. Từ Mạc Tư Khoa, những bức không ảnh nầy được chuyển sang Hà Nội trong ṿng vài tiếng đồng hồ sau đó và Hà Nội lại chuyển vào Nam cho Tướng Văn Tiếng Dũng, nhờ đó Cộng sản Bắc Việt biết rơ họ đang phải đối đầu với quân số và đơn vị ở cấp nào trên chiến trường tại miền Nam Việt Nam.

            Sự hiện diện của Tướng Viktor Kulikov cũng không tránh được sự quan sát của các cơ quan t́nh báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam và ông Wolfgang Lehmann, Xử Lư Thường Vụ Đại Sứ Hoa Kư tại Sài G̣n đă đánh một công điện “mật” về Hoa Thịnh Đốn tường tŕnh vụ nầy. Ngoài việc báo cáo sự hiện diện của Tướng Viktor Kulikov tại Hà Nội mà ông Lehmann nói rằng ông tướng hồng quân Liên Xô nầy không phải sang Hà Nội để chúc mừng Giáng Sinh. Bức điên văn của ông Lehmann c̣n lưu ư và nhắc nhở một sự trùng hợp tương tự về sự hiện diện của Nicolai Pogorny, Chủ Tịch Nhà Nước và Pavel Batitsky, Thứ Trưởng Quốc Pḥng Liên Xô tại Hà Nội vào cuối năm 1971 và sau đó Liên Xô đă gia tăng viện trợ quân sự cho Hà Nội để mở các cuộc tấn công vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Tuy nhiên tại Hoa Thịnh Đốn lúc đó, không có ai chú ư đến bức điện văn nầy của viên Xử Lư Thường Vụ Đại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt Nam gửi về từ Sài G̣n.

            Ngoài điện văn của ông Lehmann, Trưởng Văn Pḥng CIA  ở Sài G̣n là Thomas Polga và phụ tá của ông là Frank Nepp  cũng gửi một điện văn báo động về việc nầy với CIA ở Washington. Frank Nepp cho biết điện văn nầy lưu ư đến việc các nhân vật trọng yếu Liên Xô viếng thăm Hà Nội vào cuối năm 1971 đă đưa đến việc Cộng sản mở cuộc tổng tấn công vào mùa Hè 1972 và báo động vớiWashington rằng sự viếng thăm nầy cũng có thể đưa đến những diễn tiến tương tự như hồi 1972.

            Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger cũng có biết đến cuộc viếng thăm nầy và ông cũng ghi lại như sau:

            “Sự quyết tâm của Hà Nội trong nổ lực gia tăng áp lực quân sựtại miền Nam lại được một sự hậu thuẩn bất ngờ do ở sự thay đổi chính sách hiển nhiên của Liên Xô. Vào cuối năm 1974, lần đầu tiên sau ngày Hiệp Định Paris được kư kết, một nhân vật cao cấp của Liên Xô bất thần đến viếng thăm Hà Nội. Cuộc viếng thăm nầy không phải là một cuộc viếng thăm xă giao thường lệ. Tướng Viktor Kulikov, Tổng Tham Mưu Trưởng Hồng Quân Liên Xô đă đích thân đến tham dựnhu74ng cuộc thảo luận về chiến lược của Bộ Chính Trị Đảng Lao Dộng Việt Nam, cũng như lần trước đây, một phái đoàn như vậy đă đến thăm Hà Nội vào năm 1971 trước khi Bắc Việt mở các cuộc tổng tấn công vào mùa Hè 1972.

            “Chúng ta không thể nào biết rơ được Liên Xô đă cố vấn cho Hà Nội như thế nào, nhưng mà sau đó dường nhưro4 ràng là Liên Xô đă băi bỏ một số hạn chế trước đây: viện trợ về vũ khí chiến cụ cho Bắc Việt đă gia tăng gấp 4 lần trong những tháng kế tiếp. Cho đến khi nào mà văn khố Liên Xô được giải mật th́ chúng ta cũng không thể nào rơ được mục tiêu của Liên Xô lúc đó là ǵ? Có phải chăng họ đă hành động như vậy để trả đũa những sự công kích của quốc Hội Hoa Kỳ qua tu-chính-án Jackson và Thỏa Ước Vladivosstok mà Tổng Thống Geral Ford vừa kư kết với Tổng Bí Thư Brezhhnev, hay là việc đó chỉ là chính sách chiến lược của Liên Xô ủng hộ cho Bắc Việt?

            “Dù câu trả lời thế nào đi chăng nữa th́ đó là một điều vô cùng rơ ràng là Liên Xô đang khuyến khích Hà Nội gây hấn tại Miền Nam Việt Nam”  (ghi chú: Henry Kissinger: Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, New York 2003, trang 500-501)

Từ Washington: Cắt Giảm Viện Trợ Cho VNCH         

            Thực ra th́ chẳng cần phải nhờ tới cơ quan t́nh báo KGB mới biết được chiều hướng chính trị đang trên đà giải kết tức là bỏ rơi Việt Nam Cộng Ḥa tại Hoa Kỳ. Trong bộ sách The Vietnam Experience, cuốn “The Fall of the South”, các tác giả bộ sách nầy đă nói rằng:

            “Các cấp lănh đạo Cộng sản chỉ cần đọc báo chí Tây Phương cũng đủ biết rơ về sự suy giảm trong vấn đề viện trợ cho Miền Nam Việt Nam, cả về số tiền viện trợ cũng như là thăm ḍ dư luận. Ngày 22 tháng 5 năm 1974, Hạ Viện biểu quyết không được tăng số tiền viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Ḥa trong tài khóa 1974-1975 quá mức 1,126 triệu mỹ kim dù rằng Ủy Ban Quân Vụ Hạ Viện đă đề nghị 400 triệu. Sau đó, đến ngày 22 và 23 tháng 9 năm 1974, cả Hạ Viện và Thượng Viện Hoa Kỳ lại biểu quyết cắt bớt thêm nữa và chỉ cấp cho VNCH có 700 triệu mỹ kim mà thôi (tính luôn cả kinh phí dành cho việc chuyên chở từ Hoa Kỳ sang Việt Nam) v́ công luận Hoa Kỳ không muốn nghe nói đến chiến tranh Việt Nam nữa. sự sút giảm về viện trợ nầy đă đưa đến ảnh hưởng vô cùng sâu đậm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa v́ nếu tính thêm vào sự mất giá của dồng mỹ kim sau khi Tổng Thống Richard Nixon “thả nổi” đồng dollar và giá nhiên liệu, cũng như là tất cả các hàng hóa khác trên thị trường thế giới gia tăng sau cuộc khủng hoảng nhiên liệu vào năm 1973 th́ con số viện trợ khiêm tốn nầy chẳng c̣n bao nhiêu”  (ghi chú: The Vietnam Experience: The Fall of The South, trang 11)

            Người biết rơ nhất về vấn đề viện trợ quân sự (military aids) cho quân đội của miền Nam Việt Nam không ai khác hơn là Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa suốt từ năm 1965 cho đến tháng 4 năm 1975. Vào đầu năm 1974, chính ông đă được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ thị phải bay sang Washington để tŕnh bày về t́nh h́nh quân sự đang nguy ngập v́ những cuộc tấn công quân sự của cộng sản Bắc Việt và vận động với các viên chức trong Ngũ Giác Đài để họ ủng hộ và vận động với quốc hội Hoa Kỳ nhằm gia tăng hay ít ra là duy tŕ mức quân viện cho VNCH, tuy nhiên sứ mạng nầy đă không thành công.

            Trong chương 4 của cuốn The Final Collapse được xuất bản vào năm 1983 tại Hoa Kỳ, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên đă dành hầu hết một chương để tŕnh bày rất rơ về “Sự Giảm Thiểu quân Viện của Hoa Kỳ” và những hậu quả vô cùng trầm trọng đối với các hoạt động của QLVNCH trong năm 1974 và những tháng đầu của năm 1975. Tướng Cao Văn Viên cho biết rơ ràng hơn về sự giảm thiểu quân sự quá nhiều nầy:

            “Quốc Hội Hoa Kỳ phủ quyết tất cả ngân sách phụ trội và trong tài khóa 1975 họ chỉ cho 1 tỷ mỹ kim, nhưng sau đó con số 1 tỷ chỉ c̣n 700 triệu. Ngân khoản 700 triệu nầy là kể luôn chi phí dành cho các hoạt động của Pḥng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ (DAO). Con số chính thức về quân viện làm cho quân đội và dân chúng miền Nam hốt hoảng. Sự cách biệt giữa quân viên yêu cầu và con số được chi viện cách nhau quá xa. Không có một sự tiết kiệm, giảm thiểu chi phí hay quản trị ngân quỷ nào có thể lấp đầy được khoảng cách dị biệt đó.

            “Ngày 2 tháng 1 năm 1975, Bộ quốc Pḥng Hoa Kỳ xin Quốc Hội một ngân khoàn phụ trội là 300 triệu mỹ kim và ngân khoản nầy đă được TT Ford nâng lên 722 triệu khi đề nghị nầy được đưa sang Quốc Hội ngày 11 tháng 4 năm 1975. Quốc Hội đă bác bỏ đề nghị nầy. Khi ngân khoản nầy bị quốc hội phủ quyết th́ t́nh h́nh đă tuyệt vọng. Vận mệnh quốc gia đă được quyết định.

            “Với ngân khoản viện trợ là 700 triệu, trừ đi ngân khoản trả lương cho quân nhân Hoa Kỳ thuộc văn pḥng DAO th́ chỉ c̣n 654 triệu mỹ kim, tức chỉ c̣n 51 phần trăm nhu cầu cần thiết. Hậu quả là hơn 200 phi cơ các loại tức khoảng 50 phần trăm của Không quân bị đặt trong t́nh trạng bất khiển dụng, Hải Quân cũng bị giảm hơn 50 phần trăm và 600 giang thuyền bị “nằm ụ”, về phụ tùng quân cụ và súng đạn th́ chỉ c̣n thay thế khoảng 27 phần trăm, hơn 4,000 quân xa do quân đội Hoa Kỳ chuyển giao lại sau 1975 th́ không xử dụng được v́ thiếu  phụ tùng, nhiên liệu th́ bị thiếu thốn và đến tháng 5 năm 1975, nếu không được viện trợ thêm th́ quân đội sẽ không c̣n đủ nhiên liệu nữa. Về phía đạn dược th́ từ tháng 7 năm 1974 cho đến tháng 2 năm 1975, quân đội chỉ xài khoảng 19,808 tấn  đạn đủ loại, tức là chỉ có 27 phần trăm so với mức tiêu thụ đạn dược trước đây là 73,356 tấn mỗi tháng. Vào khoảng tháng 2 năm 1975, số đạn dược tồn kho của quân đội chỉ c̣n có khoảng 30 ngày, có nghĩa là nếu không được tăng viện th́ cho đến hết tháng 3 năm 1975, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa sẽ không c̣n một viên đạn.

            Đến giữa tháng 4 năm 1975, chúng ta đă xài hết quân dụng, vũ khí tồn kho vào việc tái trang bị cho các đơn vị di tản từ Vùng I và II. Đến giờ phút muộn màng đó, dù chúng ta có nhận được 300 trăm triệu mỹ  kim viện trợ quân sự bổ túc đi nữa th́ t́nh h́nh cũng đă quá trễ”

            Tướng Cao Văn Viên nhận xét thêm: “Tin tức về việc Quốc Hội Hoa Kỳ bàn căi, mức độ viện trợ, số tiền viện trợ thực sự được loan truyền rộng răi và công khai trên báo chí, đài phát thanh và truyền h́nh. Với tin tức đó ta và địch biết được những khó khăn và trở ngại nào sẽ đến trong tương lai. Những tin tức đó đối với chúng ta là những lo âu, nhưng đối với quân thù th́ lại là một cơ hội tốt vô cùng” [ghi chú:Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Cùng Của VNCH, Nguyễn Kỳ Phong dịch từ nguyên tác “The Final Collapse” (1983) VietnamBibliography, Virginia 2003, trang 83-93]

            Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford và Ngoại Trưởng Kissinger cũng rất quan tâm đến ảnh hưởng cũa sự cắt giảm viện trợ đối với tinh thần của các quân nhân tong Quân Lự Vệt Nam Cộng Ḥa. Trong một phiên họp của Hội Đồng Nội Các tại Bạch Cung vào ngày 12 tháng 9 năm 1974, TT Ford đă nói rằng:

            “Tôi có thảo luận về vấn đề quốc hội cắt giảm viện trợ cách đây vài ngày. Thông thường th́ khi đi tuần tiểu, mỗi người quân nhân (Việt Nam) mang theo 8 trái lựu đạn. Bây giờ th́ anh ta chỉ c̣n mang được 2 quả. Điêu nầy sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của anh như thế nào? Tinh thần của họ dĩ nhiên là xuống giốc và điều đó ít nhất cũng đă làm cho t́nh h́nh tại Việt Nam càng ngày càng trở nên bất ổn hơn”

 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 036 đến trang 046

            “Ngoại Trưởng Kissingr tiếp lời: “Đó là một cái ṿng lẩn quẩn.  T́nh trạng tâm lư th́ cũng quan trọng  như quân sự. Cho đến tháng 6 (năm 1974) th́ người lính Việt Nam Cộng Ḥa cảm thấy tốt, không có ǵ phải lo ngại. Nhưng sau đó th́ số đạn dược cấp cho họ bị cắt giảm và tinh thần của họ bị sa sút. Rồi th́ họ phải bỏ rơi một vài tiền đồn và sau đó th́ tinh thần của họ bị xuống giốc thêm nữa.

            “Chúng tôi nghĩ rằng Bắc Việt đang sắp sửa phải có một sự quyết định: có nên chọn con đường tấn công miền Nam bằng vơ lực quân sự hay không? Trước việc chúng ta cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng Ḥa như hiện nay th́ tôi nghĩ rằng chúng ta đang khuyến khích cho Bắc Việt chọn lữa con đường tổng tấn công bằng vơ lực”

            Về vấn đề quân sự, Tổng Thống Ford nói: “Tôi hy vọng rằng Việt Nam Cộng Ḥa sẽ giữ nguyên quân số v́ phe Bắc Việt không hề giảm quân của họ”

            Ngoại Trưởng Kissinger: “Trái lại, các lực lượng của cộng sản Bắc Việt đă ga tăng gấp 3 lần kể ngày ngưng chiến sau Hiệp Định Paris. Bắc Việt đă xây dựng một hệ thống xa lộ tối tân đến nỗi họ có thể chuyên chở vũ khí, chiến cụ và bộ đội từ Bắc vào Nam chỉ trong ṿng một vài ngày. [Bien Bản Phiên Họp Hội Đồng Nội Các tại bạch Cung, Washington DC ngày 12 tháng 9 nam 1974. Tài liệu “Mật” được giải mật ngày 10 tháng 1 năm 2000, hiện đang lưu trử tại Viện Bảo Toàn và Thư Viện Gerald Ford tại Grand Rapids, tiểu bang Michigan]

            Chiến thuật của người Mỹ cũng là chiến thuật mà người Mỹ đă huấn luyện cho quân đội Việt Nam là dùng vơ lực để cứu sinh mạng, nhưng đến mùa Xuân 1974, chiến thuật dó đă bị loại bỏ v́ thiếu đạn dược. Trong một cuộc điều trần tại Quốc Hội sau đó có được ghi lại trong biên bản cũa Congressional Record ngày 6 tháng 3 năm 1975, Thiếu tướng John Murray đă nói với giọng đầy cay đắng như sau: “máu của người Việt Nam đă dung thay thế cho đạn dược Hoa Kỳ[Nguyễn Tiến Hưng & J. Schecter: The Palace file , Harper & Row Publishers, New York, 1986, trang 229]

            Vào thời gian đó, Quốc Hội thứ 94 với thêm 75 tân dân biểu đảng Dân Chủ mới đắc cữ vào tháng 11 năm 1974, họ cùng với những dân biểu và nghị sĩ phản chiến nỗi tiếng như Mike Mansfield, Edward Kennedy, Hubert Humphrey v.v ...đang phát động một chiến dịch chống việc tiếp tục viện trợ cho Việt Nam. Nhóm tân dân biểu Dan Chủ đă cùng với một thiểu số đồng nghiệp trong đảng Cộng Ḥa lập một nhóm gọi là Members of Congress for Peace Through Law (Nhóm Dan Cử Vận Động cho Hoa B́nh Qua Luật Pháp), họ đă tuyên bố rằng: “Chúng tôi không thấy có một quyền lợi quốc gia hay nhân đạo nào để mà biện minh cho việc tiếp tục viện trợ cho Việt Nam”

            Bồi thêm vào đó, Thương nghị sĩ Dân Chủ Edward Kennedy tuyên bố về cvệc Tổng Thống Ford vận động xin tăng viện bỗ túc cho Việt Nam như sau: “Một lần nữa chúng ta lại nghe những luận điệu cũ rích về một cuộc chiến tranh cũng cũ rích. Cuộc tranh chấp đổ máu đang tiếp diễn cần phải được đối phó bằng phương tiện ngoại giao chứ không cần thêm vũ khí đạn dược của chúng ta nữa”

            Nghị sĩ Dân Chủ Mike Mansfield, Trưởng Khối Đa Số tại Thượng Viện tức là nhân vậ có thế lữc hang thứ 3 cũa nước Mỹ, đă tuyên bố rằng “tôi cảm thấy chán ngán và muốn bệnh khi thấy h́nh ảnh những người đàn ông, đàn bà và trẻ em Đông Dương đang bị “làm thịt” bởi súng của người Mỹ, đạn của người Mỹ tại những quốc gia mà chúng ta chẳng có quyền lợi nào cả”

            Khi tuyên những lời như vậy, ông Mansfield đă quên rằng người Mỹ đă viện trợ vũ khí chiến cụ cho người Do Thái từ cuối thập niên 1940 cho đến ngày nay và theo tài liệu của Pḥng Nghiên Cứu Quốc Hội tại Thư Viện Quốc Gia Hoa Kỳ th́ sau khi cắt giảm viện trợ cho VNCH hồi năm 1975, quốc hội Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ cho Do Thái mỗi năm 1,800 tiệu mỹ kim, tức là một phần ba ngân sách ngoại viện  của Hoa Kỳ dành cho cả thế giớ. Người Do Thái đă dùng những chến cụ do Mỹ viện trợ để đánh người Palestine và Ả Rập, đă dùng phi cơ và xe tăng do Mỹ chế tạo tấn công ngay cả vào những trại tỵ nạn của người Palestne trên nước Lebanon, do đó không có một nước Ả Rập nào, không có một người Ả Rập nào có cảm t́nh với nước Mỹ và hậu quả là nước Mỹ đang sa lầy tại Iraq như hện nay.

            Một nhân vật có rất nhiều thế lực khác tại Thượng Viên Hoa Kỳ là Nghị sĩ  Hubert Humphrey, cựu ứng viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào năm 1968 và cũng là người được xem là “kẻ thù” của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đă tuyên bố trên chương tŕnh Face the Nation rằng “gia tăng quân viện bổ túc cho Việt Nam chỉ kéo dài nỗi thống khổ cho nhân dân” và ông nói thêm rằng Tiểu Ban Ngoại Viện của ông sẽ biểu quyết để cấp ngân khỏan viện trợ dành cho thực phẩm và nhân đạo mà thôi. [The Vietnam Experience: the Fall of the South, trang 31]

            Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng cho biết rằng Tổng bí thư Lê Duẩn có nhận định như sau vào tháng 10 năm 1974:

            “Sự mâu thuẩn càng ngày càng gia tăng trong chính phủ cũng như là các chính đảng tại Hoa Kỳ. Vụ Watergate đă làm rúng động nước Mỹ. Viện trợ quân sự của Mỹ dành cho Sà G̣n đang trên đà suy giảm đến mức độ mà Hoa Kỳ “không thể cứu vớt chính phủ Sài G̣n khỏi bị sụp đổ”. Cuộc tổng tấn công năm 1975 sẽ là một trắc nghiệm cho lập luận nầy. Các giới tướng lănh (Bắc Việt) đều đồng ‎ rằng kế hoạch tấn công vào năm 1975 chỉ là một sự khởi đầu cho chiến thắng toàn diện vào năm 1976 hay là 1977. [Văn Tiến Dũng: Đai thắng Mùa Xuân, trang 19-20]

            Như vậy th́ việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng Ḥa lúc đó, mọi người, kể cả Hà Nội, đều biết rơ và cả hai phía VNCH cũng như Hoa Kỳ đều rất lo ngại về việc cán cân lực lượng đang nghiên mạnh về phía Cộng Sản Bắc Việt. Do đó, sự có mặt của Tướng Kulikov tại Hà Nội vào tháng 12 năm 1974 cũng là một yếu tố đáng lo ngại mà về phương diện t́nh báo chiến lược th́ cần phải được phân tích kỹ càng.

            Mấy tháng sau ngày Cộng sản Bắc Việt thanh toán toàn bộ miền Nam th́ chính phủ Hoa Kỳ mới biệt được rằng Liên Xô đă tích cực khuyến khích Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công tại Miền Nam, chính Liên Xô lại gia tăng viện trợ quân sự gấp 4 lần cho Cộng sản Hà Nội, chính Liên Xô đă cố vấn cho Hà Nội rằng quốc hội Mỹ đă nhất quyết không viện trợ thêm về kinh tế cũng như là quân sự cho VNCH có nghĩa là Hoa Kỳ đă bỏ rơi Việt Nam Cộng Ḥa và chính v́ hững hành động, những cố vấn và khuyến khích đó của Liên Xô mà Cộng sản Bắc Việt đă quyết định mở các cuộc tổng tấn công tại Miền Nam vào mùa Xuân 1975.

            Khi người Mỹ biết rơ như vậy th́ lúc đó mọi sự đă quá trể rồi!

Món Nợ 7 Năm Về Trước: Vụ Bà Anna Chennault  

            Việc Quốc Hội Hoa Kỳ do đảng Dân Chủ kiểm soát quyết tâm cắt giảm viện trợ cho VNCH vào năm 1975 và cắt hoàn toàn viện trợ quân sự cho tài khóa 1975-1976 dường như là bắt nguồn từ một nguyên nhân từ 7 năm về trước, đó là cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ giữa hai ứng cử viên Hubert Humphrey, đại diên đảng Dân Chủ và Richard Nixon, đại diện cho đảng Cộng Ḥa.

            Lúc bấy giờ, có một số dư luận tại Washington cho rằng giới lănh đạo của đảng Dân Chủ tại Quôc Hội Hoa Kỳ đă có một trí nhớ thật dai và họ đă chờ cho có cơ hội nầy để trả thù và thanh toán một món nợ với Tổng Thống Richard Nixon và Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu từ 7 năm về trước.

            Lewis Storley, tác giả cuốc A Better War đă viết như sau:

            “Sir Robert Thompson đă nói vào năm 1974 rằng: “Sauk hi viếng thăm hang năm xă ấp, trung tâm huấn luyện, trại tạm cư người tỵ nạn và những đơn vị bán quân sự, tôi đă học hỏi được nhiều điều và tôi nhận thức được sự quật khởi của người Việt Nam, sự can đảm, sự kiên tŕ và sự chịu đựng của họ. Họ đă vượt qua những cuộc khủng hoảng của dất nước cũng như là khủng hoảng của cá nhân họ, những sự khủng hoảng ghê gớm có thể làm tan nát những dân tộc khác và mặc dù những tổn thất lớn lao của họ, mà nếu đó là trường hợp của Hoa Kỳ th́ cũng đă gây kinh hoàng và có thể đưa đến sự sụp đổ của nước Mỹ, vậy mà người Việt Nam vẫn c̣n duy tŕ được hơn 1 triệu quân sau hơn 10 năm chiến tranh”

            Bây giờ Hoa Kỳ sắp sửa đền bù sự cương dũng của người Việt Nam bằng cách bán đứng đồng minh một thời của họ.Điều duy nhất c̣n lại cho Miền Nam Việt Nam là sự thiếu hụt về ngân sách và Quốc Hội Mỹ đă sắp xếp chuyện đó với một sự trả thù (vengeance) [ghi chú: Lewis: A Better War, Hartcourt Brace & Company, New York, trang 365-366]

            Tại sao trả thù?

            Ông Nguyễn tiến Hưng, tác giả cuốn Palace File cho biết:

            “Ông Nguyễn Văn Thiệu tin là ông Richard Nixon đă mắc ông một món nợ chính trị, đó là việc ộng từ chối không chịu ủng hộ nổ lực t́m kiếm ḥa b́nh của TT Lyndon Johnson chỉ một thời gian ngắn trước cuộc bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ vào năm 1968. Dù không bao giờ nói như vậy một cách công khai, ông Thiệu tin chắc rằng v́ ông từ chối tham gia vào cuộc ḥa đàm với Bắc Việt và Việt Cộng khi Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Viet56 vào ngày 31 tháng 10 năm 1968, chỉ 5 ngày trước bầu cử, và sự từ chối đó đă đóng một vai tṛ quyết định trong việc ôngRichard Nixon đánh bại Phó Tổng Thống Hubert Humphrey trong cuộc bầu cử nầy. Khi Tiến sĩ Hưng về Sài G̣n đảm nhận chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt cho Tổng Thống Thiệu vào năm 1973,ông Thiệu đă mô tả những cảm nghĩ nẩy với ông Hưng. Tổng Thống Thiệu đă nói chuyện hang giờ với ông Hưng trong những bửa ăn khi họ cùng thảo luận và phân tích về những mục tiêu và chính sách của Hoa Kỳ. Ông Hưng nhờ đó bắt đầu hiểu được đường lối của Tổng Thống Thiệu và lư do tại sao mà dù bị lệ thuộc vào người Mỹ, Tổng Thống Thiệu đă nhiều lần chống lại những đ̣i hỏi của Hoa Kỳ. [ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng:sđd, trang 1]

            Hồi đó, sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân,Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của phe phản chiến và nhất là việc hai thượng nghị sĩ “bồ câu”, Eugene McCarthy và Robert Kennedy em trai của cố Tổng Thống John F. Kennedy, đang kịch liệt chỉ trích chiến tranh Việt Nam và chính sách về Việt Nam của Tổng Thống Johnson để ve văn phe phản chiến nhằm mục đích tranh chức ứng cử viên của Đảng Dân chủ trong các cuộc bầu cử sơ bộ (primaries) tại các tiểu bang trước khi Đảng Dân Chủ họp đại hội vào mùa hè để bầu người đại diện của đảng ra tranh cử tổng thống vào tháng 11 năm 1968. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, TT Johnson tuyên bố ông đă quyết định không ra tái tranh cử tổng thống ngơ hầu được tự do t́m kiếm một giải pháp nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh tại Việt Nam. TT Johnson đă đơn phương ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt như một thiện chí ḥa b́nh của Hoa Kỳ và kêu gọi CSBV tham dự một cuộc ḥa đàm ngơ hầu t́m một giải pháp ḥa b́nh tại Việt Nam. TT Johnson tuyên bố rằng: “Hoa Kỳ sẳn sàng gởi đại diện đến bất cứ diễn đàn nào, bất cứ lúc nào để thảo luận những phương thức ngơ hầu đưa đến sự kết thúc cho cuộc chiến tranh bỉ ổi nầy”

            Ba ngày sau, Hà Nội chấp thuận đề nghị của TT Johnson và đến ngày 13 tháng 5 th́ hai phe Mỹ-Bắc Viet56 gặp nhau lần đầu tại Paris, nhưng trước đó, vào ngày 5 tháng 5, Cộng sản Bắc Việt đă mở một cuộc tấn công toàn diện vào 119 địa điểm trên toàn quốc, kể cả đô thành Sài G̣n và Gia Định. Cuộc tấn công nầy sau đó được mệnh danh là “cuộc tổng công kích đợt hai” , tuy nhiên Cộng sản đă thất bại trong chiến dịch nầy, trong khi đó các cuộc thương tuyết giữa Mỹ và Bắc Việt vẫn diễn ra tại Paris và các nhà báo gọi việc nầy là “đánh đánh đàm đàm

            Sau khi TNS Robet Kennedy bị ám sát tại Los Angeles vào mùa hè năm 1968, đại hội Đảng Dân Chủ đă đề cử Phó Tổng Thôong61 Hubert Humphrey đại diện cho đảng ra tranh cử với ứng cử viên Richard Nixon của Đảng Cộng Ḥa. Đến tháng 10 năm 1968, cả Hoa Kỳ và Bắc Việt đồng ư mời thêm Việt Nam Cộng Ḥa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cùng ngồi vào bàn hội nghị, tuy nhiên TT Nguyễn Văn Thiệu chống đối mănh liệt việc cùng ngồi vào bàn hội nghị với MTGPMN. Hoa Kỳ dùng nhiều biện pháp để gây áp lực đối với VNCH với mục đích ép` VNCH phải thỏa thuận ngồi vào bàn hội nghị trước ngày bầu cử tổng thống vào đầu tháng 11năm 1968 và nếu được như vậy th́ sẽ có lợi cho liên danh ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống của đảng dân chủ.

            TT Nguyễn Văn Thiệu phản đối việc Mỹ chấp thuận cho MTGPMN tham dự hội nghị Paris như là một thành viên ngang hang với VNCH. Hoa Kỳ gây nhiều áp lực cho đến nỗi TT Nguyễn Văn Thiệu phẩn nộ và ông đă hói Phó Đại Sứ Mỹ Samuel berger rằng “ông đại diên cho ai, Washington hay là Hà Nội?”. Ngày 30 tháng 10, Đại sứ Bunker phúc tŕnh với TT Johnson là ông ta đă thất bại trong việc thuyết phục VNCH tham dự Hội nghị Paris mở rộng.

            Ngày 31 tháng 10, TT Johnson đọc diễn văn trên vô tuyến truyền h́nh thông báo với dân chúng Mỹ rằng ông đă “Ra lệnh cho quân lực Hoa Kỳ ngưng các cuộc oanh tạc từ trên không, dưới biển và trọng pháo vào lănh thổ Bắc Viet56 kể từ 8 giờ sáng, giờ WashingtonDC. Tôi đă ra lệnh như vậy v́ tôi tin tưởng rằng hành động nầy sẽ dẫn đến tiến bộ nhằm giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam một cách ḥa b́nh”.  TT Johnson nói thêm một cách hờn lẫy rằng: “VNCH có quyền tự do nếu muốn tham dự hội nghị Paris mở rộng”

            Ngày hôm sau, 1 tháng 11, TT Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng VNCH không chống lại việc ngưng oanh tạc Bắc Việt, tuy nhiên trong lúc nầy VNCH sẽ không gởi đại diện sang tham dự ḥa đàm tại Paris. Ngày thứ Bảy 2 tháng 11, kết quả thăm ḍ dư luận của hảng Gallup cho thấy ông Nixon dẫn 42 phần trăm so với ông Humphrey chỉ có 40 phần trăm, sang đến ngày thứ Hai 4 tháng 11, một ngày trước ngày bầu cử, kết quả thăm ḍ của hảng Harris cho thấy ông Humphrey vượt lên và dẫn 43 so với 40 phần trăm dành cho ông Nixon.

            Ngày thứ ba 5 tháng 11, Đại sứ Munker lên đài phát thanh củ quân đội Hoa Kỳ tại Sài G̣n (AFRS) kêu gọi VNCH ngưn việc tẩy chay tham dự hội nghị Paris th́ sau đó, TT Nguyễn Văn Thiệu đă trả lời rằng: “Chúng tôise4 không bao giờ tham dự hội nghị Paris nếu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được đối xử như là một phái đoàn độc lập”. Cũng trong ngày hôm đó, 73 triệu cử tri người Mỹ đi bầu tổng thống và ông Nixon đă thắng ông Humphrey không đầy 500,000 phiếu, tức là chỉ có 7 phần 10 của 1 phần trăm tổng số phiếu trên toàn quốc.

            Trong cuốn In the Jaws of History, cựu đại sứ Bùi Diễm nói rằng v́ cuộc gặp gỡ giữa ông với ứng cử viên Richard Nixon, ông ta đă bị “cáo buộc là đă gây ảnh hưởng một cách không đứng đắn đến kết quả của cuộc bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ. Nhân vật mà người ta nói rằng đă gây ra cái ảnh hưởng đó là một người đàn bà khả ái và đầy mưu mẹo, đó là bà Anna Chennault” [ghichu1: Bùi Diễm with David Chanoff: In the Jaws of History; Houghton Mifflin Company, Boston, 1987, trang 234]

Anna Chennault là ai?

             Bà Anna Soong Chennault là phu nhân của cố Thiếu Tướng Claire Channault, Tư lệnh Không Quân Hoa Kỳ tại chiến trường Trung Hoa thời Đệ Nhị Thế Chiến, bà là công dân Hoa Kỳ gốc Trung Hoa, là người nổi tiếng về việc ủng hộ và vận động cho Đài Loan tại Hoa Thịnh Đốn, được biết đến qua cái tên “China Lobby”. Bà cũng là người thuộc Đảng Cộng Ḥa và được xem như là rất than cận với giới lănh đạo bảo thủ đảng Cộng Ḥa mà một trong những lănh tụ của phe nầy là ông Richard Nixon, ứng cử viên tổng thống năm 1968 và trong cuộc bầu cử nầy, bà Anna Chennault là chủ tịch Hội Phụ Nữ Hoa Kỳ Ủng Hộ Richard Nixon.

            Bà Chennault là người trong “đại gia đ́nh họ Tống” , một gia đ́nh giàu có và nổi tiếng nhất tại Thượng Hải vào đầu thế kỷ 20, bà cũng là em họ của bà Tống Khánh Linh, phu nhân của Bác sĩ Tôn Dật Tiên, người được xem như là Quốc Phụ của nước Trung Hoa Dân Quốc sau cuộc cách mạng lật đổ nhà Măn Thành vào năm 1911, sau năm 1949 bà Tống Khánh Linh trở thành Phó Chủ Tịch Nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Một người chị khác của bà Anna Chennault lại là bà Tống Mỹ Linh, phu nhân của Thống Chế Tưởng Giới Thạch, Tổng Thống chính phủ Trung Hoa Quốc Gia tại Đài Loan. Bà cũng có liên lạc rất mật thiết với Đặc Sứ Nguyễn Văn Kiểu tại Đài Bắc, ông Kiểu là anh ruột của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

 

ừ trang 047 đến trang 056

            Trước cuộc bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ, vào 2 tháng 9 và 10 năm 1968, bà Chennault đến Đài Bắc và sau đó bay sang sài G̣n nhiều lần, với lư do chính thức là sang tham dự hội nghị của Liên Minh Thế Giới Chống Cộng tại Sài G̣n, thăm người em gái đang sống tại Chợ Lớn và thanh tra các hoạt động của công ty hang không Flying tigers mà bà là chủ tịch. Công ty Flying Tigers lúc đó đang có khế ước với Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ đảm nhận việc chuyển vận vật liệu cũng như là quân đội từ Hoa Kỳ sang Việt Nam.

            Vào thời gian nầy, người viết có được hân hạnh tiếp xúc với hai nữ nhân vật nổi tiếng ở Hoa Kỳ đến viếng thăm Việt Nam.

            Người thứ nhất là bà Juanita Castro, em gái của tổng thống Cuba Fidel Castro. Bà Castro đă rời bỏ Cuba sang tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ và trở thành một nhân vật chống Cộng sản rất mănh liệt trong cộng đồng Cuba cũng như trên khắp thế giới, bà đến Sài G̣n với tư cách là diễn giả danh dự trong đại Hội Liên Minh Thế Giới Chống Cộng tại Sài G̣n vào tháng 10 năm 1968.

            Người thứ hai là bà Anna Chennault.

            Bà Chennault đến Sài G̣n với tư cách là một trong những đại diện của Hội Thái B́nh Dương Tự Do (Free Pacific Association) của Linh mục Raymond de Jaegher, trụ sở chính đặt tại Riverside, New York, để tham dự đại Hội lần thứ hai của Liên Minh Thế Giới Chống Cộng họp tại Sài G̣n vào khoảng tháng 10 năm 1968. Linh mục Raymond Jaegher là tác giả cuốn sách rất nổi tiếng hồi thập niên 1950 là cuốn Kẻ Nội Thù (The Ennemy Within) và cuốn “Vệ Binh Đỏ” (Red Guards) trong thấp niên 1960, ông cũng là chủ nhiệm Nguyệt San Free Front của Liên Minh Á Châu Chống Cộng. Linh mục Raymond de Jaegher là cố vấn về các vấn đề Cộng sản cho Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch và Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Ngô đ́nh Diệm. Trụ sở của Hội Thái B́nh Dương Tự Do tại Việt Nam nằm bên cạnh Nhà Thờ Cha Tam trong chợ lớn, đó là nơi mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu đến cầu nguyện lần cuối trong đời trước khi hai ông “được” Hội Đồng Cách Mạng đưa thiết vận xa M-113 đến đón rồi bị sĩ quan tùy viên của Duơng Văn Minh giết chết trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu vào ngày 2 tháng 11 năm 1963.

            Ông Bùi Diễm, cựu đại sứ VNCH tại Washington đă dành một chương dài 12 trang trong cuốn In the Jaws of History của ông để nói về “The Anna Chennault Affair”.

            Đại sứ Bùi Diễm cho biết rằng hồi tháng 6 năm 1968, bà Chennault đă đề nghị rằng ông nên gặp Richard Nixon, người được xem như là ứng cử viên đang dẫn đầu (front runner) trong số các đảng viên Cộng Ḥa để dành ghế ứng cử viên tổng thống của đảng nầy trong cuộc bầu cử tháng 11 năm đó. Đại sứ Bùi Diễm nói rằng việc đại sứ nước VNCH đến gặp ứng cử viên của đảng Cộng Ḥa trước ngày bầu cử có thể rất nguy hiểm v́ việc đó mang hàm ư là ông đại sứ đang qua mặt đảng Dân Chủ và nếu Phó Tổng Thống Hubert Humphrey đắc cử th́ sẽ rất là bất lợi cho VNCH. Tuy nhiên, trong một cuộc họp với Ông William Bundy, phụ tá của Ngoại Trưởng Dean Rusk trong chính phủ Dân Chủ của TT Johnson, Đại sứ Bùi diễm đă có đề cập đến chuyện nầy. Vốn là một nhà ngoại giao lăo luyện và cũng là người bạn thân, ông Bundy thông cảm hoàn cảnh của Đại sứ Bùi Diễm, nhất là sau khi được ông Diễm bảo đảm rằng sẽ chỉ nói chuyện với ông Nixon một cách đại cương chứ không đi vào chi tiết về vấn đế ḥa đàm tại Paris. Đại sứ Bùi Diễm cũng quyết định rằng ông sẽ gặp ứng cử viện Nixon với tư cách độc lập chứ không thông báo với Sài G̣n, như vậy th́ sau nầy nếu cần, TT Nguyễn Văn Thiệu có thể phủ nhận việc nầy.

            Ngày 12 tháng 6, qua sự giới thiệu của bà Anna Chennault, Đại sứ Bùi Diễm bay lên New York và gặp ông Nixon tại Khách sạn Perre, nơi ông ta đặt Văn Pḥng Trung Ương của Ủy Ban Bầu Cử. Đại sứ Bùi Diễm kể lại rằng ông Nixon chăm chú lắng nghe ông Diễm tŕnh bày một cách tổng quát về t́nh h́nh cuộc chiến cũng như những khó kăn về quân sự nhất là nhu cầu khẩn thiết của quân lực VNCH về những loại vũ khí tối tân, nhất là sung M-16. Ông Nixon sau đó nói với Đại sứ Bùi Diễm rằng ban tham mưu của ông sẽ liên lạc với ông đại sứ qua ông John Mitchell, Trưởng ban Vận động Tranh Cử và bà Anna Chennault.

            Đại sứ Bùi diễm nói rằng sau đó v́ công vụ đa đoan, ông quên hẳn đi chuyện gặp gỡ ông Nixon cho đến ngày 30 tháng 10, theo lệnh từ Sài G̣n, ông đến Bộ Ngoại Giao để đ̣i hỏi Hoa Kỳ phải làm sáng tỏ vấn đề mà Đại sứ Harriman đă nói với ông Trần Văn Lắm ở Paris rằng Hoa Kỳ không thể ép buộc CS Bắc Việt phải thương thuyết “nghiêm chỉnh và trược tiếp” với VNCH. Đại sứ Bùi Diễm kể lại rằng ông Bundy, vốn là người bạn thân, đă không thèm mời ông Diễm ngồi và bằng một giọng lạnh lùng mà ông Diễm chưa từng nghe, ông Bungdy nói rằng “cuộc bầu cử tổng thống Mỹ không hề có liên hệ bất cứ dưới h́nh thức nào đến cuộc thương thuyết đang diễn ra tại Paris”. Sau đó ông Bundy quay lưng lại và nói lẩm bẩm một ḿnh mà ông Diễm chỉ nghe được vài tiếng như “không đàng hoàng” (improper), không đúng đạo lư (unethical), “không thể chấp nhận được” (unacceptable),  rồi th́ vẫn c̣n quay lưng lại không thèm nh́n ông Diễm, ông Bundy bắt đầu trách móc và nói bóng gió đến chuyện ộng Đại sứ VNCH Bùi Diễm đă liên lạc với phe ông Mixon. Đại sứ Bùi Diễm nói ông ngỡ ngàng nhưng ông vẫn giải thích cho ông Bundy rằng ông đă cam kết với ông ta là sẽ không đề cập đến vấn đề ḥa đàm với ông Nixon hồi tháng 6 và ông hoàn toàn phủ nhận bất cứ sự đồn đại nào cho rằng ông đă có làm điều ǵ bất chính đáng trong việc liên lạc với phe Cộng Ḥa.

Đại sứ Bùi Diễm nói rằng sau nầy Thomas Powers, tác giả cuốn The Man Who Kept the Secretss đă tiết lộ rằng trong tuần lễ cuối tháng 10 năm 1968, TT Johnson đă ra lệnh cho FBI nghe lén điện thoại của Ṭa đại sứ VNCH tại Washington, đồng thời cũng nghe lén và theo dơi các hoạt động của bà Anna Chennault. Ngày thứ Bảy 2 tháng 11, Đại sứ Bùi Diễm nhận được điện thoại của Saville Davis, trưởng văn pḥng của báo Christian Science Monitor ở Washington, yêu cầu ông phối kiểm về một bản tin của Beverty Deepe, đặc phái viên của báo nầy ở Sài G̣n nói rằng “Đại sứ Bùi Diễm đă gởi cho TT Thiệu một điện văn kêu gọi không nên gởi phái đoàn sang dự ḥa đàm Paris. Có nhiều tin đồn trong giới báo chí ở Sài G̣n cho rằng VNCH cố t́nh dậm chân tại chỗ để phá hoại những tiến bộ chính trị của ứng cử viên Humphrey trong những ngày sau khi TT Johnson loan báo ngưng oanh tạc toàn diện, như vậy th́ sẽ có lợi hơn cho ông Nixon và nếu đắc cử th́ ông ta sẽ nhớ ơn và sẽ yểm trợ cho VNCH nhiều hơn là phe Dân Chủ. [ghi chú: Bùi Diễm, sđd, trang 243]

            Đại sứ Bùi Diễm nói rằng bấy giờ ông ta mới hiểu rơ lư do tại sao ông Bundy tỏ ra giận dữ với ông cách đó mấy hôm. Ông ta đă sững sờ đọc đi đọc lại nhiều lần. Ông cũng như là kư giả Davis đều biết rằng nếu bản tin nầy được đăng tải th́ sẽ tạo ra một x́-căng-đan chính trị và sẽ gây ảnh hưởng trầm trọng cho kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Đại sứ Diễm cuối cùng trả lời nhà báo Davis rằng “tôi không thể phủ nhận cũng như xác nhận nguồn tin nầy”. Đại sứ Diễm cho biết rằng ông davis sau đó đă không cho đăng bản tin nói trên, tuy nhiên sau nầy, ông William Safire, một trong những phụ tá của ông Nixon lúc đó, đă viết một cuốn sách nhan đề Before the fall nói rằng “nếu không nhờ ông Thiệu (tẩy chay tham dự ḥa đàm), ông Nixon có lẽ đă không trở thành tổng thống Hoa Kỳ” [ghi chú: Bùi Diễm: sđd, trang 244]

            Ông Nguyễn Tiến Hưng trong cuốn The Palae File đă nói rơ hơn về vấn đề nầy. Trong chương 2 “Nixon and Thiệu: A Political Debt” (Nixon và Thiệu: Một món nợ Chính trị), ông đă viết rằng:

            “Nguyễn Văn Thiệu tin rằng Richard Nixon đă mắc ông một món nợ chính trị, đó là kết quả của việc ông Thiệu từ chối ủng hộ nổ lực ḥa b́nh của TT Johnsaon trước ngày bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Tuy không bao giờ nói ra một cách công khai, ông Thiệu tin chắc rằng việc ông từ chối không tham dự ḥa đàm với Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng khi TT Johnson ngưng oanh tạc Bắc Việt vào ngày 31 tháng 10 năm 1968, chỉ có 5 ngày trước ngày bầu cử, đă đóng một vai tṛ quyết định trong sự chiến thắng của ông Nixon đối với ông Humphrey năm 1968” [ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng: asach1 đă dẫn, trang 21]

            Trong tháng 10 năm 1968, TT Thiệu đă có nhiều lần nổ lực tŕ hoản việc tham dự ḥa đàm Paris mở rộng theo lời yêu cầu của TT Johnson v́ chính phủ VNCH không chấp nhận việc Hoa Kỳ xem cái gọi là Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam” là một thành phần ngang hang với` chính phủ VNCH. Ngoài ra việc tham dự hội nghị với sự có mặt của Việt Cộng là đi ngược với một trong “4 không” của TT Nguyễn Văn Thiệu: “không thương thuyết với cộng Sản”. Tuy nhiên, theo dư luận của một số người trong giới chính trị th́ ông Thiệu đă “mua thời gian” (buy time) để giúp cho ứng cử viên Nixon.

            Theo tin đồn đại th́ nhiều người nói rằng khi bà anna Chennault sang Sài G̣n hồi tháng 9, bà ta có đến gặp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và đă chuyển lời nhắn của phe Cộng Ḥa khuyên TT Thiệu hoản việc tham dự ḥa đàm tại Paris v́ nếu ông Nixon được đắc cử tổng thống Hoa Kỳ th́ sẽ có lợi cho VNCH nhiều hơn là TT Hubert Humphrey.

            Bà Chennault có nói rằng”ông Thiệu đang bị phe Dân Chủ áp lực nặng nề. Nhiệm vụ của tôi là giúp cho ông ta giữ vững lập trường và ngăn cản không để cho ông tat hay đổi ư kiến”

            “Trong tuần lễ cuối cùng trước ngày bầu cử , ông John Mitchell, người điều hợp Ủy ban Vận động Bầu cử của Nixon liên lạc với bà Chennault gần như hang ngày để thuyết phục bà giữ ông Thiệu đừng để cho ông Thiệu cử phái đoàn đi dự ḥa đàm Ba Lê. Họ biết rằng các cuộc điện đàm của họ đang bị cơ quan FBI nghe lén và bà ta đă nói diễu khi hỏi lại ông Mitchell “ai đang nghe ở đầu dây bên kia?”. Ông Mitchell có vẻ như là không thích nói giỡn và đă nói với bà Chennault “gọi cho tôi ở ngoài máy điện thoại công cộng. Đừng có nói chuyện trong văn pḥng của bà. Lần nào gọi cho bà Chennault, lời nhắn của ông Mitchell không bao giờ thay đổi: “đừng có để cho ông ta đi”. Chỉ vài ngày trước ngày bầu cử, ông Mitchell đă gọi cho bà Chennault để nhờ bà ta nhắn với TT Thiệu thông điệp sau đây: “Anna, tôi nói với bà nhân danh cho ông Nixon. Thật là vô cùng quan trọng đă cho những người bạn Việt Nam của chúng ta (chính phủ Nguyễn Văn Thiệu) hiểu rơ lập trường của đảng Cộng Ḥa và tôi hy vọng rằng bà phải làm cho họ hiểu rơ điều đó” [ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng: sách đă dẫn, trang 23-24]

            Việc bà Chennault đại diện cho ông Mitchell để liên lạc với TT Thiệu không dấu được sự theo dơi của phe Dan^ Chủ v́ họ đang nắm chính quyền cho nên có rất nhiều phương tiện. TT Johnson đă nhận đươc báo cáo đấy đủ về các hoạt động của bà Chennault qua sự theo dơi cũng như nghe lén điện thoại của bà do hai cơ quan FBI và CIA phụ trách và ông có thông báo cho ứng cử viên Humphrey biết về chuyện nầy, tuy nhiên cả hai người đă không hề công bố cho công chúng biết điều đó.

            Những người hiểu ro nền chính trị Hoa Kỳ ai cũng đều biết rằng người Mỹ tối kỵ và không bao giờ tha thứ cho việc người ngoại quốc gây ảnh hưởng để làm thay đổi kết quả của cuộc bầu cử tại Mỹ; người Mỹ cũng tối kỵ và không tha thứ cho cá nhân hay nhóm người nào, kể cả các vị dân biểu và nghị sĩ trong Quốc Hội Hoa Kỳ, đă cố can thiệp vào sự quyết định việc thi hành chính sách đối ngoại của nước Mỹ v́ chỉ có Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mới có được cái quyền đó do hiến pháp quy định. Trong bài diễn văn về T́nh Trạng Liên Bang  vào tháng Gieng6 năm 1975, chính Tổng Thống Gerald Ford đă phiền trách  quốc hội về việc can thiệp vào chính sách và đường lối của ông đối với Liên Xô như sau: “Theo Hiến Pháp và cũng theo truyền thống chính trị của Hoa Kỳ th́ việc thi hành các chính sách và đường lối về đối ngoại là trách nhiệm của tổng thống”

            Vào tháng 11 năm 1968, nếu TT Thiệu quả thật có nghe lời của phe Cộng Ḥa mà tŕ hoăn việc tham dự ḥa đàm Paris để gây bất lợi cho ứng cử viên Hubert Humphrey trong cuộc bầu cử năm 1968 và gây ảnh hưởng đến việc TT Johnson của đảng Dân Chủ đang t́m cách chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam th́ đó là một điều mà phe Dân Chủ sẽ không bao giờ tha thứ được.

            Trong cuốn hồi kư của ông, cựu Tổng Thống Lyndon Johnson chỉ nói sơ lược rằng: “chúng tôi có nhận được những tin tức cho biết rằng có những người tự xưng là họ nói chuyện nhân danh ứng cử viên đảng Cộng Ḥa đang cố t́m cách gây ảnh hưởng với người Việt Nam để cho họ “giậm chân tại chỗ” trong cuộc hội đàm tại Paris” [ghi chú: Lyndon B. Johnson: The Vantage Point: Perpectives of the Presidency, q963-1969. New York: Holt, Rhinehart and Winston. 1971, trang 521]

            Tác giả Theodore White, người viết về sự thắng cử của Nixon năm 1968 nói rằng:”khi bộ tham mưu của Nixon biết được phe Dân Chủ đă hay biết về chuyện bà Anna Chennault “đi đêm” với TT Thiệu th́ đảng Cộng Ḥa đă rất lo sợ v́ nếu báo chí biết được chuyện nầy th́ ông Nixon sẽ mất uy tín rất nhiều và sẽ bị thân bại danh liệt”.

            Theo Ted Van Dyk, cộng sự viên thân tín của TT Humphrey th́ “Hai ông Johnson  và Humphrey không tiết lộ về chuyện nầy v́ TT Johnson không muốn công chúng biết chuyện ông ra lệnh cho FBI nghe lén điện thoại của bà Chennault v́ việc nghe lén nầy là bất hợp pháp và cũng v́ cả hai ông đều không muốn làm điều ǵ bất lợi cho Luật sư Thomas Corcoran, bạn thân của cả hai ông và cũng là nhân vật đầu năo trong đảng Dân Chủ với biệt danh “Ông Dân Chủ” (Mr. Democrat). Bà Anna Chennault lại là “bạn rất thân” của ông Corcoran. Phó TT Humphrey nhờ Luật sư James Rowe, người ủng hộ ông và cũng là partner (đồng nghiệp) của Corcoran trong tổ hợp luật sư của họ yêu cầu bà Chennault bỏ việc đó nhưng ông Rowe trả lời cho hay rằng “việc đó không xong rồi, ông Thiệu vẫn giữ lập trường”. PTT Humphrey nghe báo cáo về điều nầy khi ông đang ở trên phi cơ đi vận động tranh cử. Ông rất giận dữ khi Van Dyk phúc tŕnh với ông rằng “Vào năm 1968 mà China Lobby hồi xưa vẫn c̣n sống”. Ưng cử viên Humphrey đă chạy lui chạy tới trên máy bay và đă lơn tiếng chửi thề “tôi sẽ “God-damned” (xin không dịch cụm từ nầy) nếu mà nhóm China Lobby (của bà Chennault) lại có thể quyết định về số phận cả chính phủ nầy”. Sau đó ông chỉ thị cho Van Dyk cho phổ biến một bản thông cáo nói rằng “Phó Tổng Thống Hubert Humphrey không c̣n ủng hộ chế độ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu”. Tuy nhiên ông Van Dyk đă khôn khéo không phổ biến bản thông cáo nầy mà chỉ phổ biến một lời tuyên bố nói rằng “nếu chính phủ Miền Nam Việt Nam không đi tham dự Hội Nghị Paris th́ Hoa Kỳ cũng sẽ tham dự mà không cần sự hiện diện của VNCH”

            Sau cuộc bầu cử, người ta đă khen ngợi ông Hubert Humphrey đă không đưa vụ bà Chennault ra trước công luận trước ngày bầu cử, tuy nhiên sau nầy ông Ted Van Dyk nói rằng “nếu ông Nixon và bà Chennault không đi với ông Thiệu th́ phe Dân Chủ có thể đă thắng cử v́ vào thời gian đó đà thắng lợi đang nghiêng về phía Humphrey” [ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng: Phỏng vấn Ted Van Dyk ngày 17 tháng 12 năm 1985. Sách đă dẫn, trang 485-486]

            Với tư cách là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa và là Trưởng Phái Đoàn VNCH tại Hội Nghị Ba Lê hồi cuối năm 1968, có lẽ ông Nguyễn Cao Kỳ không ít th́ nhiều cũng đă biết đến vụ bà Anna Chennault. Trong cuốn “Buddha’s Child” xuất bản vào năm 2002, ông Kỳ đă tiết lộ cho thấy ông biết rơ vụ nầy cũng chẳng kém ǵ TT Nguyễn Văn Thiệu:

            “Nếu ḥa đàm có thể giúp cho ứng cử viên Humphrey thắng cử th́ ḥa đàm cũng sẽ trở nên bất lợi cho Nixon. Không giống như trường hợp của Humphrey, ông ta là đương kim Phó Tổng Thống và những người ủng hộ ông có thể gây áp lực trong guồng máy chính phủ để giúp ông ta, ứng cử viên Nixon không có khả năng làm được điều đó trong bộ máy chính quyền.

            “Ông Nixon đă t́m thấy một con đường khác.

            “Ông ta đă gởi sang Sài G̣n bà quả phụ xinh đẹp của một người tướng lănh Không Quân hào hùng để nói chuyện với ông Thiệu và Tôi. Chồng bà Anna Chennault là một người đă đưa phi đoàn Flying Tigers gồm những người phi công Mỹ t́nh nguyện sang chiến đấu chống lại quân đội Nhật Bản ở Trung Hoa trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (trước khi Hoa Kỳ tham chiến sau trận Trân Châu Cảng). Bà Chennault nói với chúng tôi (TT Thiệu và PTT Kỳ) rằng “ông Nixon là người chống Cộng mạnh hơn là ông Humphrey và nếu mà ông Nixon được đắc cử th́ ông ta sẽ tiếp tục viện trợ cho Việt Nam cho đến khi nào thắng trận. Bà Chennault nói tiếp rằng: nhưng mà trước hết, ông Nixon cần sự giúp đở của chúng tôi. Chúng tôi có thể giúp cho ông Nixon bằng cách là đừng có chấp thuận đi tham dự Ḥa đàm tại Paris cho đến sau cuộc bầu cử ổng thống tại Mỹ. Bà Chennault giăi thích rằng nếu chúng tôi từ chối không tham dự ḥa đàm th́ ông Nixon có thể sẽ kết án ông Humphrey và đảng Dân Chủ là những người yếu đuối. Sẽ không có ánh sáng ở cuối đường hầm, không có hy vọng ǵ cho một nền ḥa b́nh nhanh chóng”

            Johnson là bạn của tôi. Tôi tin tưởng ở ông ta và sẽ là điều ǵ ông ta nói. Nếu Johnson đích thân gọi cho tôi và yêu cầu tôi giúp cho ông Humphrey, tôi sẽ nhận lời yêu cầu của ông ta và lên đường sang Paris ngay. Nhưng mà Johnson chẳng có gọi cho tôi và tôi không biết cũng như không thích ông Humphrey như là tôi quen biết và kính trọng ông Nixon.

            “Hơn nữa, ngay từ đầu người Mỹ đă bắt ép chúng tôi không những là phải tham dự Hội nghị Paris mà c̣n phải chấp nhận Việt Cộng như là một thế lực ngang hàng với chính phủ của chúng tôi. Tôi không biết chắc là có nên tin tưởng ở ông Nixon hay không, nhưng mà chúng tôi không hề tin tưởng ở đại diện của TT Johnson ở Hội nghị Paris, đó là ông Harriman và Cyrus Vance. Tôi quyết định là t́nh h́nh chưa đúng lúc để đi sang Paris” [Nguyễn Cao Kỳ with M. Wolf: Buddha’s Child, My Fight To Save Vietnam, St Martin Preess, New Yok, 2002, trang 290-291]

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 056 đến trang 066

            Cũng như Phó Tổng Thống Kỳ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng không thích Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Hubert Humphrey. Tổng Thống Thiệu đă gặp Phó Tổng Thống Hubert Humphrey lần đầu tiên khi ông ta đại diện Tổng Thống Hoa Kỳ đến Sài G̣n tham dự lễ Tuyên thệ Nhậm chức của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ vào ngày 30 tháng 10 năm 1967. Sau lễ tuyên thệ, Tổng Thống Thiệu đă tiếp kiến Phó Tổng Thống Humphrey trong dinh Độc Lập với sự hiện diện của Đại sứ Bunker và phụ tá của ông Humphrey là Ted Van Dyk.

            Ông Nguyễn Tiến Hưng kể lại rằng: “PTT Humphrey đă nói với TT Thiệu là ông ta lo ngại về sự “Mỹ-hóa (Americanization) về quân sự cũng như là kinh tế tại Việt Nam. PTT Humphrey nói thêm: “Tổng thống cần phải hiểu rơ cái h́nh thái chính trị (political picture)ở Hoa Kỳ: không c̣n đủ th́ giờ nữa và cần phải có một giai đoạn chuyển tiếp để đẩy mạnh vấn đề tự túc cho Việt Nam”. TT Thiệu trả lời: “Vâng, chúng tôi hiểu, nhưng mà chúng tôi cũng hiểu rằng các ông (người Mỹ) cũng cần phải ở lại đây với mức độ như hiện tại” PTT Humphrey nhắc lại những mối quan tâm của ông một lần nữa rồi nói với TT Thiệu: “Viện trợ về quân sự và kinh tế với mức độ hiện tại cho Việt Nam trong nhiều năm nữa th́ không phải là con bài của Mỹ”. Tổng Thống Thiệu lắng nghe rất kỷ nhưng ông không trả lời và cuộc tiếp xúc kết thúc”. Khi ra kḥi Dinh Độc Lập,PTT Humphrey hỏi Đại sứ Bunker: “Tôi có quá cứng rắn đối với ông Thiệu không?” Đại sứ bunker trả lời: “Thưa Phó Tổng Thống, không”.

            TT Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Hubert Humphrey trở thành kẻ thù từ đó” [ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng & J. Schecter: sđd, “interview with Nguyễn Văn Thiệu”, Mảy, 1985, trang 22]

            Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tin rằng nếu PTT Humphrey đắc cử th́ điều đó có nghĩa là sẽ có sự đơn phương ngưng oanh tạc Bắc Việt và một chính sách mềm dẽo hơn của Hoa Kỳ đối với Việt Cộng, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thiệu nói tiếp: “nếu PTT Humphrey đắc cử th́ sẽ có một chính phủ liên hiêp trong ṿng 6 tháng, với ông Nixon th́ ít ra chúng ta c̣n có cơ may” [ghi chú: ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng & J. Schecter: sđd, “interview with Nguyễn Văn Thiệu”, Mảy, 1985, trang 21]

            Hồi năm 1967, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không thích ông Humphrey v́ ông Humphrey nói rơ với TT Thiệu rằng “cần phải đẩy mạnh việc tự túc cho Việt Nam”, tuy nhien ông Thiệu đă không nhớ rằng vào cuối năm 1963, người Mỹ đă ngưng chương tŕnh viện trợ Commodity Import Program (CIP) khiến cho TT Ngô Đ́nh Diệm phải nói thẳng với toàn thể đồng bào trong thông điệp của ông nhân ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 năm 1963 rằng: “mục tiêu của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa là phải “Tự lực, Tự cường để tiến tới Độc lập về kinh tế”. Người Mỹ đă cúp viện trợ để cảnh cáo ông Diệm và đó là một trong những lư do mà các tướng lănh, trong đó có cả ông Thiệu, đă đảo chánh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và đă giết ông đúng 7 ngày sau đó. PTT Humphrey đă báo trước cho TT Thiệu về vấn đề viện trợ của Hoa Kỳ và đúng 8 năm sau, tuy rằng ông Humphrey không c̣n làm phó tổng thống nhưng người trong đảng Dân Chủ của ông đă thực hiện lời cảnh báo đó khi các nghị sĩ và dân biểu thuộc đảng dân Chủ đă không chấp thuận viện trợ thêm “một xu teng” nào, theo lời của Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy, cho Việt Nam Cộng Ḥa vào tháng 4 năm 1975.

            Một nhân chứng đă từng ngồi bên canh Tổng Thống Nguyễn Van Thiệu để thông dịch cho ông trong những cuộc hội đàm về việc tham dự ḥa đàm Paris với Tiến sĩ Henry Kissinger và Đại sứ Ellsworth Bunker hồi cuối tháng 10 năm 1968 là ông Hoàng Đức Nhă, lúc bấy giờ là Bí Thư kiêm Tham vụ báo chí tại Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa. Mới đây, ông Hoàng Đức Nhă đă lên tiếng kể lại chi tiết về việc nầy trong một bài đăng trên báo Ngày nay tại Houston Texas và đă được nhật báo Người Việt trích đăng lại trong số ra thứ Bảy 4 tháng 1 năm 2003, trong bài nầy ông Hoàng Đức Nhă đă phủ nhận việc bà Anna Chennault đă thuyết phục được TT Thiệu từ chối tham dự ḥa đàm Paris để giúp cho ứng cử viên Richard Nixon như cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ tiết lộ trong cuốn Buddha’s Child. Theo ông Hoàng Đức Nhă th́:

            “Lúc ấy hai đối thủ trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ là ông Hubert Humphrey thuộc Đảng Dân Chủ và ông Richard Nixon thuộc Đảng Cộng Ḥa. Vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng cách ḥa đàm là một trong những vấn đề có ảnh hưởng lớn trong cuộc vận động tuyển cử. Hai ứng cử iên đều hứa sẽ chấm dứt chiến tranh trong danh dự và bảo tồn chủ quyền và nền độc lập của Miền Nam Việt Nam.

            “Chính quyền Johnson lúc ấy có đưa ra đề nghị chấm dứt chiến tranh và cố thúc đẩy Miền Nam đến bàn hội nghị tại Ba Lê.

            “Ṭa Bạch Ốc ra chỉ thị cho sứ quán Hoa Kỳ tại Sài G̣n cố thuyết phục TT Thiệu đưa phái đoàn đi Ba Lê để bắt đầu hội đàm. Trong lúc đó, phía ứng cử viên Nixon th́ nhờ trung gian thuyết phục VNCH đừng đưa phái đoàn đi Ba Lê. Người trung gian ấy đă ùung những đường dây mà họ cho là có ảnh hướng với Tổng Thống Thiệu, đó là sứ quánVNCH tại Hoa Thịnh Đốn và Đại sứ Bùi Diễm cũng như là sứ quán VNCH tại Đài Bắc và Đại sứ Nguyễn Văn Kiểu, anh ruột của Tổn Thống Thiệu.

            “Lúc đó với tư cách Bí thư của Tổng Thống, tôi được giao trách nhiệm phân tách t́nh h́nh và tham khảo với cấp lănh đạo trong chính phủ để đề xướng ra lập trường của VNCH đối với việc thương thuyết tại Ba Lê. Tôi nhận được các phúc tŕnh mật cũng như được tổng thống tường thuật lại những cuộc điện đàm hoặc những cuộc tiếp xúc giữa ông ta với Đại sứ Bunker, Đại sứ Diễm và Đại sứ Kiểu.

            “Tổng Thống Thiệu và chính phủ lúc ấy đứng trước t́nh thế khó xử, một mặt đáp ứng lời yêu cầu của Tổng Thống Johnson đến Ba Lê mà không hề biết được lập tường của phía đồng minh ra sao và mặt khác th́ nghĩ như thế nào khi các sứ giả của ḿnh cho rằng nếu không đi Ba Lê th́ sẽ giúp cho ứng cử viên Nixon thắng và sau nầy sẽ làm việc dễ dàng hơn với chính quyền Hoa Kỳ.

            “Sau cùng Tổng Thống đă quyết định không gởi phái đoàn VNCH qua ba Lê, không phải là để giúp cho ứng cử viên Nixon như sứ giả đặc biệt của ông ta là Anna Chennault sau nầy đă từng tuyên bố, hoặc là được các sứ giả của VNCH tuyết phục. Lư do quan trọng nhất sau lưng sự quyết định đó là việc phía Hoa Kỳ không hề đồng ư  với phía VNCH về lập trường chung phải như thế nào và những điều kiện phía Cộng sản sẽ phải chấp thuận trước khi bắt đầu cuộc thương tuyết. Hoa Kỳ đều bác bỏ rất nhiều đề nghị của phía VNCVH, từ những điểm then chốt của lập trường phía đồng minh cho đến những chi tiết như là h́nh thù của bàn hội nghị, cách danh xưng v.v..” [ghi chú: nhật báo Người Việt, thứ Bảy 4 tháng 1 năm 2003]

            Như vậy th́ ông Hoàng Đức Nhă đă phủ nhận lời của cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và ngay cả cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong phần phụ chú của cuốn The Palace File, hai tác giả Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold Scheecter nói rằng: “Trong những cuộc phỏng vấn của chúng tôi với ông Nguyễn Văn Thiệu, chúng tôi có hỏi ông rằng: “ông có cảm thấy rằng ông Nixon đă mắc ông một món nợ v́ ông đă ủng hộ ông Nixon trong cuộc bầu cử năm 1968 hay không?”. Ông Thiệu đă trả lời rằng “dĩ nhiên, dĩ nhiên” [ghi chú:Nguyễn Tiến Hưng: sđd, trang 483]

            Cuốn sách The Palace File của ông Nguyễn Tiến Hưng được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1986, lúc đó cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu c̣n sống và chắc chắn là ông đă có đọc cuốn sách nầy, tuy nhiên người ta không hề nghe ông Thiệu đính chính hay phủ nhận điều ǵ trong cuốc ách nầy cả.

            Ông Lloyd C. Garner, giáo sư Sử học tại trường Đại Học Rutgers, tác giả nhiều cuốc sách về lịch sử trong đó có cuốn “Pay Any Price, Lyndon Johnson And The Wars For Vietnam”  cũng có tiết lộ về vao tṛ bà Anna Chennault như sau:

            “Đúng vào cái ngày Tổng Thống Johnson ra lệnh cho Đại Tướng Creighton Abrams (Tổng Tư Lênh quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam) phải trở về Mỹ để trực tiếp tường tŕnh với ông về t́nh h́nh quân sự tại Việt Nam th́ ông đă nhận được được một hồ sơ trên bàn giấy của cơ quan Điều tra Liên Bang FBI về những hoạt động của bà Anna Chennault, quả phụ của Tướng Claire Chennault, vị anh hùng của “Đoàn Cọp Bay” (Flying Tgers) trong trận Đệ Nhị Thế Chiến. Một trong những người con gái của đại gia đ́nh họ Tống nổi tiếng ở Trung Hoa, họ hàng với bà Tống Mỹ Linh tức là bà Tưởng Giới Thạch (một người nổi tiếng khác trong gia đ́nh nầy là bà Tống Khánh Linh tức là bà Tôn Dật Tiên), bà Anna Soong Chennault là một nhân vật ṇng cốt của “China Lobby”, một nhóm lobby chống Trung Hoa Cộng sản rất mạnh tại Quốc Hội Hoa Kỳ, bà đă quyên tiền lên tới một phần tư triệu mỹ kim cho quỹ vận động tranh cử của ông Richard Nixon và đồng thời đă t́nh nguyện đứng ra làm trung gian giữa phe Cộng Ḥa với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

            “Bà Chennault đă liên lạc qua hai nhân vật chính là Luật sư John Mitchell, Trưởng Ban Vận Động Bầu Cử của Ông Richard Nixon và ông Bùi Diễm, Đại sứ VNCH tại Washington. Thông điệp mà chính ông Mitchell giao cho bà Chennault chuyển sang Sài G̣n qua ông đại sứ Bùi Diễm là “nếu Tổng Thống Lyndon Johnson tuyên bố đơn phương ngưng oanh tạc Bắc Việt th́ ông Thiệu phải chống lại việc cùng tham dự vào bàn hội nghị. Như vậy th́ quyết định ngưng oanh tạc sẽ có kết quả bất lợi chop he Dân Chủ, sẽ giúp cho ông Nixon thắng cử và sẽ có lợi nhiều hơn cho Miến Nam Việt Nam”  [ghi chú: Lloyd C. Garner: Pay Any Price, Lyndon Johnson and the Wars for Vietnam. Ivan R. Dee, Chicago, 1995, trang 501-502]

            Một sử gia khác,ông Frank E. Vandiver thuộc học viện Mosber Institute for International Policy Studies của trường Đại Học Texas A&M University đă viết về vấn đề nầy như sau:

            “Ông Nixon vỗ tay vào túi áo và nói rằng ông ta có một “kế hoạch bí mật để chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nanm”

            “Bí mật th́ có đấy, nhưng bí mật thật sâu chạy ngước trở lại căn nhà của ông Nixon ở chung cứ Khách sạn Pierre ở New York và những khuynh hướng lỗi thời trong nên chính trị của người Mỹ. Theo hiến pháp th́ các vị tổng thống là những người chịu trách nhiệm về đối ngoại nhưng họ lại thường nhận được những sự giúp đỡ, mà chính họ cũng không muốn, không những từ phia quốc hội mà lại c̣n từ những cá nhân, và những cá nhân nầy cũng gây ra lắm sự lỗi lầm. Có hai nhân vật hành động với tư cách bán chính thức qua tổ chức vận động bầu cử của ông Richard Nixon đă làm rối loạn và gần như làm hỏng cuộc ḥa đàm tại Paris: đó là ông Bùi Diễm, đại sứ VNCH tại Washington và bà Anna Soong Chennault, em gái của bà Tưởng Giới Thạch, quả phụ của Tướng Claire Chennault của Không Đoàn Flying Tigers danh tiếng thời Đệ Nhị Thế Chiến và bà cũng là Chủ Tịch của Hội Nữ Cộng Ḥa Ủng Hộ Richard Nixon. Chính bà Anna Chennault đă giới thiệu Đại sứ Bùi Diễm với ông Nixon và ông Nixon yêu cầu ông Diễm cộng tác với Luật sư John Mitchell. Có nhiều tin đồn về những chuyện đă xảy ra, nhưng mà rơ ràng là ông Thiệu đă có một cái cảm tưởng rất rơ rệt, đó là ông Nixon sẽ mang lại cho Sài G̣n nhiều giải pháp tốt đẹp và có lợi hơn ông Johnson sắp sửa hết nhiệm kỳ. Một cuộc ngưng oanh tạc có nghĩa là sẽ có nhiều bất lợi cho Sài G̣n tại cuộc ḥa đàm.

“Có nhiều bản phúc tŕnh t́nh báo gởi đến ṭa Bạch Ốc về các nhân vật Bùi Diễm, Anna Chennault, Mitchell và Nixon Luật sư Clark Clifford, Bộ Trưởng quốc Pḥng của TT Johnson, đă nhận thấy rằng việc đảng Cộng Ḥa can thiệp vào diễn tiến thương thuyết ḥa b́nh là một việc ”có tiềm năng bất hợp pháp” v́ thật là rơ ràng đó là một sự can thiệp trực tiếp vào việc thi hành chính sách đối ngoại của Tổng Thống Hoa Kỳ. Tổng Thống Johnson suy nghĩ thật nhiều, ông ta rất muốn bật mí để cho toàn thể công chúng Hoa Kỳ biết chuyện bất hợp pháp nầy của phe Cộng Ḥa, tuy nhiên vấn đề nầy lại đặt ra nhiều câu hỏi và sự mơ hồ v́ không có một bằng chứng rơ rệt nào để quy trách nhiệm trực tiếp cho ông Nixon, hơn nữa nếu mà phanh phui việc có một sự can thiệp từ phía bên ngoài vào chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ th́ sẽ có thể làm suy ṃn ḷng tin tưởng của người Mỹ đối với bất cứ ứng  cử viên nào đắc cử sau nầy. Đó là một quyết định mà Ngoại trưởng Dean Rusk hoàn toàn ủng hộ và Bộ Trưởng Clark Lifford cho rằng đó là một cái tát vào mặt Phó Tổng Thống Humphrey, ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân Chủ. [ghi chú: Frak E. Vandiver: Shadows Of Vietnam, Lyndon Johnson’s Wars, Texas A&M University Press, 1997, trang 337-338]

            Đại sứ Bùi Diễm kể lại rằng ngày thứ Bảy 9 tháng 11 năm 1968, chỉ 4 ngày sau ngày bầu cử, ông ngồi làm việc một ḿnh trong ṭa đại sứ th́ thấy Thượng Nghị Sị Everett Dirkson, Trưởng Khối Thiểu Số (Cộng Ḥa) tại Thượng Viện đến thăm mà không báo trước. Nghị Sĩ Dirkson nói thẳng với Đại sứ Diễm rằng “tôi đến đây với tư cách là đại diện cho cả hại vị tổng thống: tổng thống đương nhiệm Lyndon Johnson và tổng thống đắc cử (president-elect) Richard Nixon. Thông điệp của cả hai vị tổng thống rất là đơn giản như sau: Miền Nam Việt Nam phải gởi một phái đoàn đi dự ḥa đàm Paris trước khi “quá muộn” [ghi chú: Bùi Diễm: sđd, trang 245]

            Đại sứ Bùi Diễm nói thêm rằng chỉ một tiếng đồng hồ sau khi TNS Dirkson ra về, ông Joe Alsop, một nhà b́nh luận hàng đầu của báo chí Mỹ, một người bạn thân của cựu thủ tướng Phan Huy Quát và cũng là bạn thân của Miến Nam Việt Nam, đến ṭa đại sứ. Ông Joe Alsop nói với ông Diễm rằng “nầy ông bạn, tổng thống của ông bạn, TT Thiệu, đang chơi một tṛ chơi chết người (deadly game). Tôi mới gặp” ông già” (TT Johnson) ngày hôm qua và ông ta thật sự giận ông Thiệu vô cùng”. Sau đó ông Joe Alsop, với tư cách là bạn của Đại sứ Bùi Diễm, khuyên ông ta nên về Sài G̣n để đích thân thuyết phục TT Thiệu. [ghi chú: Bùi Diễm:  đd, trang 246]

            Sau hai vị khách nầy, Đại sứ Diễm đă nhận được điên thoại từ Bộ Ngoại Giao và sau đó người Mỹ đă đến ṭa đại sứ để nối một đường giậy điện thoại đắc biệt của Ngũ Giác Đài để ông Diễm nói chuyện trực tiếp với TT Thiệu tại Sài G̣n. Ngày hôm sau, chủ nhật, Đại sứ Bùi Diễm gặp ông Bundy một lần nữa rồi qua ngày thứ Hai 13 tháng 11 năm 1968, ông lên máy bay về Sài G̣n. Gần 2 tuần sau, ngày 26 tháng 11, TT Thiệu loan báo sẽ gởi một phái đoàn do PTT Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu sang dư ḥa dàm Paris và ông Kỳ đă đến thủ đô Pháp vào ngày 8 tháng 12 năm 1968.

            Trong cuốn “The Palace File”, ông Nguyễn Tiến Hưng có cho biết là ba Anna Chennault đă rất phẩn nộ về việc Tổng Thống Nixon đă “phản bội TT Thiệu: sau khi ông Thiệu đă giúp cho ông Nixon đắc cử th́ chính ông Nixon lại đ̣i hỏi TT Thiệu phải tham dự Hội đàm Paris và v́ thế bà đă từ chối không thèm nhận chức vụ đại sứ do ông Nixon đề nghị. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, bà Anna Chennault lại gặp ông Thiệu một lần nữa tại Đài Bắc, lần nầy bà đại diện cho TT Gerald Ford và được TT Ford yêu cầu nói với ông Thiệu rằng: “Đây chưa phải đúng lúc để ông Thiệu sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ và tốt hơn hết th́ ông Thiệu nên chọn một nước khác để xin tỵ nạn”.

            Cựu Tổng Thống Thiệu đă cay đắng nói với bà chennault rằng: “Làm kẻ thù của nước Mỹ th́ thật là quá dễ, nhưng làm một người bạn của Mỹ th́ lại quá khó” [ghi chú: Nguyễn Tiến Hưng: s đd, trang 332-333]

            Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kư cũng có kể lại việc nầy trong cuốn hồi kư của ông ”Chẳng bao lâu sau ngày tôi khởi đầu cuộc đời tỵ nạn, bà Anna Chennault đă mời tôi tới dùng cơm tối tại nhà bà trên lầu thượng của cư xá Watergate tại Washington, chỉ có bà và tôi mà thôi. Bà Chennault vừa mới từ Đài Loan trở về và nói với tôi rằng “Tôi đi Đài Loan để nói với ông Thiệu rằng tại v́ sự “mang tiếng” (reputation) của ông cho nên ông sẽ không được đón mừng (welcome) ở Mỹ” [ghi chú: Nguyễn Cao Kỳ with M. Wolf: sđd, trang 350]

            Sau năm 1975, nhân một buổi họp mặt với Linh Mục Raymond de Jaegher  tại Riverside, New York, người viết có hỏi bà Anna Chennault về vấn đề nầy, tuy nhiên sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ,  bà ta đă nói với người viết rằng: “Sometimes we’ve got to do whatever we’ve got to do” (đôi khi chúng ta cũng phải làm bất cứ việc ǵ mà chúng ta phải làm)

            Tuy bà Chennault không xác nhận hay phủ nhận nhưng người viết có cảm tưởng rằng lúc đó ba ta cố gắng làm bất cứ điều ǵ để giúp cho ông Nixon, một chính trị gia mà chính người Trung Hoa Quốc Gia ai ai cũng nghĩ rằng sẽ ủng hộ chế độ Đài Loan vô điều kiện và có lợi hơn là ông Humphrey của đảng Dân Chủ. Cũng như người Việt Nam, sau nầy người Đài Loan vô cùng thất vọng v́ chỉ mấy năm sau th́ chính Tổng Thống Nixon sang thăm Bắc Kinh và dưới thời Nixon th́ Trung Hoa Quốc Gia bị trục xuất ra khỏi Liên Hiệp Quốc để nhường cho Trung Cộng và chính phủ Hoa Kỳ chính thức thiết lập bang giao với Trung Hoa Cộng Sản trên cấp bậc đại sứ, do đó ṭa đại sứ Trung Hoa quốc Gia tại Hoa Thịnh Đốn đă được thiết lập từ thập niên 1940 lại bị đóng cửa. Cho đến ngày nay, Trung Hoa Quốc Gia hay Đài Loan không hề có một cơ sở đại diện ngoại giao nào với Hoa Kỳ dù chỉ trên cấp bậc lănh sự.

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 067 đến trang 076

            Tác giả Frank Snepp cho biết rằng hồi tháng 4 năm 1975, Ngoại trưởng Henry Kissinger có nhắn với cựu Tổng Thống Thiệu ở Đài Loan rằng: “Ông đừng có trông đợi chiếu khán được vào định cư tại Hoa Kỳ (nơi người con gái của ông đang theo học đại học) ít ra là cho tới sau cuộc bầu cử tổng thống tại Mỹ vào tháng 11 năm 1976”. Sau đó ông Thiệu sang tỵ nạn tại Anh Quốc cho đến thập niên 1980 th́ được con gái của ông bà bảo trợ cho sang sống tại Boston, tiểu bang Massachussets và ông đă từ trần tại thành phố nầy hồi cuối năm 2001. Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sống ở Mỹ với tư cách là thường trú nhân (permanent resident) và không hề xin nhập tịch Hoa Kỳ.

            Đó là sơ mược về vụ bà Anna Soong Chennault vận động với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tŕ hoăn việc cử đại diện cho chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa sang tham dự cuộc ḥa đàm Paris trước ngày bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1968 giữa hai ứng cử viên Richard M. Nixon và Phó Tổng Thống Hubert Humphrey. Ông Nixon đă đánh bại Phó Tổng Thống Hubert Humphrey để trở thành tổng thống Hoa Kỳ váo tháng 1 năm 1969.

            Trong cuốn The Bunker Papers, Tiến sĩ Douglas Pike đă cho trích lại tất cả những bản phúc tŕnh của đại sứ Ellsworth Bunker gởi về hàng tuần cho Tổng Thống Johnson và sau đó Tổng Thống Nixon trong suốt thời gian ông làm đại sứ tại Việt Nam từ 1967 cho đến 1973. Có lẽ v́ chưa được giải mật cho nên không có bản phúc tŕnh nào của Đại sứ Bunker về thất bại của ông trong vai tṛ thuyết phục chính phủ VNCH và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đồng ư tham dự Ḥa đàm Paris vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 1968 và cũng không có nói ǵ về những cuộc viếng thăm của bà Chennault tại Sài g̣n.

            Cho đến năm 1975, cả hai viện Quốc Hội Hoa Kỳ đều do Đảng Dân Chủ kiểm soát và dĩ nhiên là họ không có mấy cảm t́nh với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, không có mấy cảm t́nh với Việt Nam Cộng Ḥa, nhất là sau khi TT Noxon từ chức v́ vụ Watergate vào năm 1974, đại đa số các vị nghị sĩ Hoa Kỳ đều bỏ phiếu chống lại việc gia tăng viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Ḥa, đă bỏ phiếu giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng Ḥa và nhất là chống lại đề nghị viện trợ bổ túc cho Miến Nam Việt Nam vào đầu năm 1975.

            Trong bối cảnh chính trị đó, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Phát Triển Kinh Tế và Kế Hoạch, theo lệnh TT Nguyễn Văn Thiệu, đă rời Sài g̣n vào lúc 1 giờ 30 trưa ngày 15 tháng 4 năm 1975 sang Washington DC với sứ mạng vận động với Quốc Hội Hoa Kỳ xin vay 3 tỷ mỹ kim gọi là “trái khoán Tự Do” (Freedom Loan) để cứu văn t́nh h́nh đang trên đà sụp đổ tại Miền Nam Việt Nam.

            Cả Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đều không biết được rằng một ngày trước đó, vào ngày 14 tháng 4 năm 1975, Ủy Ban Ngoại Vụ của Thượng Viện Hoa Kỳ do Đảng Dân Chủ kiểm soát đă yêu cầu được gặp Tổng Thống Gerald Ford tại Bạch Cung để thảo luận khẩn cấp về vấn đề Đông Nam Á. Trong cuộc hội kiến bất thường nầy, các nghị sĩ đă khuyến cáo TT Ford phải “rút ra thật nhanh”(get out, fast) và họ sẽ “không cung cấp một đống nickel (5 cents) nào về viện trợ quân sự cho Việt Nam”

            Sau khi đến thủ dô Washington và đang chuẩn bị tiếp xúc với dư luận cũng như là các vị dân biểu nghị sĩ Hoa Kỳ về dự án “trái khoán Tự Do” nầy th́ sáng ngày 18 tháng 4 năm 1975, các hảng thông tấn loan tin cho biết Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ đă biểu quyết bác bỏ hoàn toàn vấn đề viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Ḥa và đồng thời Ủy Ban Ngoại Vụ Thượng Viện cũng đă thông qua một nghị quyết cho phép Tổng Thống Gerald Ford được quyền xử dụng quân lực Hoa Kỳ để di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.

            Sứ mạng của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng bất thành từ trong trứng nước v́ các đại diện của đảng Dân Chủ trong Quốc Hội Hoa Kỳ đă có một trí nhớ thật dai, họ đă trả được mối hận mà ông Nguyễn Văn Thiệu gây ra khiến cho ông Hubert Humphrey, đại diện đảng nầy đă bị thất cử trong đường tơ kẻ tóc vào năm 1968.

            Ông Nguyễn Tiến Hưng không phải là người Việt Nam đầu tiên thất bại trong sứ mạng sang Hoa Kỳ cầu viện.

            Trước đó đúng 100 năm, vào năm 1875, ông Bùi Viện mang quốc thư của Vua Tự Đức lần thứ hai sang Hoa Kỳ yêu cầu Tổng Thống Ulysses S. Grant trợ giúp cho triều đ́nh Nhà Nguyễn chống lại cuộc xâm lăng của người Pháp tại Việt Nam, nhưng sự yêu cầu nầy không được chính phủ Hoa Kỳ cứu xét và nước Việt Nam đă bị thực dân Pháp đô hộ trên 80 năm.

Từ Dinh ĐỘC Lập, Sài G̣n

 

Trong thời gian Tư­ớng Kulikov đang viếng thăm Hà Nội và cam kết Liên XÔ sẽ gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt, ngày 6 tháng 12 năm 1974, Tổng Thống NguyễnVăn Thiệu đă triệu tập một cuộc họp với các cấp lănh đạo quân sự của VNCH tại Dinh Độc Lập nhằm ước đoán về những cuộc tấn công của Cộng sản Bắc Việt tại Miền Nam vào mùa khô năm 1975. Trong phiên họp này, các nhà lănh đạo quân sự miền Nam đă ­ước tính rằng Cộng sản Bắc Việt sẽ mở những cuộc tấn công trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Cao nguyên Trung Phần, tuy nhiên sẽ không có tầm mức đại quy mô nh­ các cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân hồi năm 1968 và mùa hè Đỏ Lửa 1972.

Hội nghị quân sự này cũng ­ớc tính rằng các lực l­ợng quân sự của Cộng sản vẫn c̣n trong t́nh trạng yếu kém và chưa đủ khả năng để tấn công và chiếm giữ bất cứ một tỉnh hay thành phố lớn nào tại miền Nam Việt Nam. Trong vùng chung quanh thủ đô Sài G̣n, hội nghị này cho rằng Cộng sản sẽ mở các cuộc tấn công vào phía tây tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt-Miên, vào khoảng thời gian tr­ước hay là sau Tết tức là vào đầu tháng 2 năm 1975 và sẽ tiếp diễn cho đến khi mùa mư­a bắt đầu vào khoảng tháng 6 năm đó. BỘ Tổng Tham M­u Quân Lực VNCH cũng đă đi đến quyết định là sẽ không gia tăng pḥng thủ vùng phía tây Quân khu II và bắt đầu thiết lập một lực l­ợng trừ bị chiến lư­ợc để pḥng thủ vùng ṿng đai Sài G̣n.

Trong cuốn sách The The Final Collapse đ­ợc xuất bản vào năm 1983 Đại Tướng Cao Văn Viên, cựu Tổng Tham M­ưu Tr­ởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1975, đă cho biết về phiên họp này như­ sau:
           "chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa chấm dứt năm 1974 với một thẩm địnb về t́nh h́nh quân sự. Một buiổ họp cấp cao diễn ra  vào ngày 6 tháng 12 năm 1974 d­ưới sự chủ tọa của Tổng Thống Thiệu, gồm có ưt­ lệnh và các sĩ quan cao của 4 Vùng chiến thuật và nhân viên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Buổi bọp kết luận rầng năm 1975 là năm Cộng sản sẽ tấn công Miền Nam để phá hoại cuộc bầu c
(tổng thống) của việt Nam Cộng Ḥa trong năm 1975 và gơy tiếng vang trong cuộc tranh c  tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1976. Cán cơ quơn s đang nghiêng về phớa cộng sản. Họ đă tích lũy đuốc một số dự trữ đủ dể duy tŕ liên tục một cuộc tổng tấn công quy mô trong 18 tha’ng như cường độ cuộc tổng tấn công năm 1972.

"H́nh thức của cuộc tấn công mới sẽ là kết hợp giữa lối tôn công năm 1968 và 1972 của Cộng sản: đánh vào thành thị và cắt đứt các thông lộ huyết mạch. Chúng ta đă dự liệu Cộng sản sẽ tấn công vào các thành phố Sài G̣n, Huế,  Đà Nẵng và Cần Thơ. Cộng sản Bắc Việt tin t­ởng nếu các thành phố lớn bị chiếm các thành phố nhỏ khụng cần đánh cũng đầu hàng. Vào những ngày cuối năm 1974 chúng ta có tin Cộng sản Bắc Việt chuẩn bị xâm nhập những sư đoàn tổng trừ bị 316, 312, 341 và 308 vào Nam.

­            Ước l­ượng của ta là Cộng sản sẽ tấn công Vùng II để cầm chơn và làm tiêu bao lực ựơng tổng trừ  bị của chu’ng ta trước khi các cuộc tấn công vào Vùng I và III. Vùng IV chỉ là nơi Cộng sản đánh nhử với các  cuộc tấn  công lẻ tẻ và đóng chốt trên các tuyến l­ưu thông. Mục tiêu chính của cuộc tổng tấn công là Cộng sản muốn thấy Việt Nam Cộng Ḥa tạo ra một Hội Đồng Ḥa Hợp Ḥa Giải Dân Tộc và sau dó là chính phủ lien hiệp. Thảng 3 năm 1975 3 theo dự đoán của chúng ta, sẽ là tháng bắt đầu cuộc tổng tốn công của Cộng sản. " Trong phần chú thích, cựu Đại Tư­ớng Cao Văn Viên nói thêm rằng "đây là một ước tính t́nh b́nh địcb rất chính xác do pḥng 2 BỘ Tổng Tham Mư­u đạt đ­ược. Từ sự ước

  tính này, Bộ Tổng Tham Mư­u đă có những biện pháp đối phó, nhưng v́ ưt­ơng quan lực lự­ơng hai bên nghiêng về phiá cộng sản, chúng ta không đủ quân để đạt đư­ợc kết quả mong muốn”.36

 

Gián điệp Cộng Sản Tại Dinh Độc Lập

Tuyy nhiên, một điều mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như­ các nhà lănh đạo quân sự của VNCH lúc đó không hề hay biết là có một điệp viên của Cộng sản Bắc Việt hoặc là đă có mặt trong pḥng họp, hoặc là đă đọc đ­ợc biên bản của phiên họp này. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1975, một bản phúc tŕnh đầy đủ về phiên họp, về các sự thảo luận cũng như­ là các quyết định của các giới lănh đạo quân sự miền Nam đă đư­ợc chuyển đến tận tay giới lănh đạo Bắc Việt cùng với Tư­ớng Văn Tiến Dũng.

Theo nhà báo Oliver Todd, " CIA của Mỹ Ở Sai G̣n tin rằng trong số những ngư­ời thân cận của Tổng Thống Thiệu, có một gián điệp cao cấp của Hà Nội. Người đó là ai? Trung Tư­ớng Đặng Văn Quang? Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo? Hay là một ngư­ời nào khác” 37

Oliver Todd không phải là nhà báo ngoại quốc duy nhất nói đến ng­ời "gián điệp cao cấp của Cộng sản" bên cạnh Tổng Thống Thiệu.

Trong cuốn Decent Intenval, Frank Snepp cũng cho biết rơ hơn về việc này, tuy nhiên Frank Snepp không có đề

 

--------------------------------------------------------------------------------

36- Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối của VNCH, trang 96-97.

37- Oliver Todd: Cruel Avril: 1975, La Chute de Saigon, éditions Robert Laffont, Paris 1987. Trang 51: “ CIA est convaincue que. parmi les proches de Thieu, un agent renseigne Hanoi. Qui? Quang? Hao, ou un au tre?"

 

cập đến tên của Tư­ớng Quang và Phó Thủ Tư­ớng Hảo như­ Oliver Todd: một điiệp viên trong bộ tham m­u thân cận của Tổng Thống Thiệu đă gửi một bản báo cáo tối mật về những kế hoạch và ướ đoán của chính phủ Sài G̣n cbo Bắc Việt. Theo báo cáo của tên gián điệp này th́ vào hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm l974 có một phiên họp cao cấp về quân sự tại Sài G̣n nhằm vào việc thẩm định những dự tính của Hà Nội trong năm tới. [Trong phiên họp nầy, các tướng lănh cùng đồng với quan điểm của Tổng Thống Thiệu là trong những tháng sắp tới, Cộng sản “ sẽ chiến đấu trên một b́nh diện đại quy mô”hơn trong năm 1974 tuy nhiên sẽ không tổng tấn công như hổi năm Mậu Thân 1968.Tên điệp viên nói thêm rằng Tổng Thống Thiệu đă kết luận rằng các lực ượng Bắc Việt sẽ

không có đủ khả năng để tấn công chiếm giữ và bảo vệ các thành phố lớn, Tổng Thiệu đă tiên đoán rằng Cộng sản sẽ nhắm mũi tấn công vào tỉnh Tây Ninh thuộc Vùng III (chiến thuật và cộng sản sẽ tấn công mạnh ho đên n bết mùa khô vào tháng 6 (năm 1975) rồi sẽ ngư­ng các cuộc tân công để dưởng quân, tái tổ chức và trang bị. Tên điệp viên này cũng báo cáo thêm rằng căn cứ trên những ước tính này, Tổng Thống Thiệu đă quyết định sẽ không tăng viện cho Vùng II và sẽ tập trung các lực lư­ơng trừ bị trong vùng phía Nam mà thôi. "

Vốn là một chuyên gia cao cấp về phân tích t́nh báo chiến lược (intelligence strategy analyst) tại Văn Pḥng CIA Ở Sài G̣n, Frank Snepp nhận định như­ sau về hậu quả do bản báo cáo của tên gián điệp Cộng sản này gây ra:

 

“Cũng chẳng có ǵ khó khăn để tưởng tượng ra  được các nhà lănh dạo Bắc Việt đă hồ hởi, khoái chí như ­ thế nào khi họ nhận đựơc bản báo cáo nầy. Đó là một bản báo cáo vô giá. Trong quyết nghị về kế hoạh quân sự  tại miền Nam năm 1975, giới lănh đạo Bắc Việt c̣n chưa  có quyết định tối hậu v́ chư­a có đủ yếu tố.

 

“Nếu như ông Thiệu tiên đoán rằng Cộng sản sẽ tấn công vào Tây Ninb th́ truởc bết bọ sẽ tấn công vào tỉnh Phước Long, nếu ông Thiệu ngbĩ  rằng Cộng sản sẽ không tấn công vào Vùng II th́ họ sẽ tấn công vào vùng cao nguyên và đó cũng là nơ mà bọ sẽ tập trung cáclực lượng chính  nếu để thôn tính toàn bộ vùng này; nếu ông Thiệu  nghĩ rằng Cộng sản không có đủ khả năng tấn công và chiếm giữ các thành phố lớn th́ bọ sẽ làm y như vậy: tấn công Phước Long và kế đến  là Ban Mê Thuột rồi thay v́ phải rút lui bọ sẽ chiếm giữ luôn những thành phố  đó.

“Trong số những ng­ười dă đóng góp công trạng cho sự chiến thắng của Bắc Việt,  tên gián điệp nằm vùng này trong bộ tham mưu  của ông Thiệu phải là ng­ười có công lao lớn nhất. Cbo đến giờ nàv th́ tên tuổi của tên gián điệp này vẫn c̣n bí mật, chỉ  có Hà Nội là biết rơ, nhưng vào thời gian y cung cấp tài liệu  có giá tri vô giá này cho Bắc Việt vào cuối năm 1974 th́ văn pḥng CIA ở Sài G̣n có một bản danh sách gồm có 4 người trong bộ tham mưu thân tín của ông Thiệu bị t́nh nghi là có thể làm gián điệp nội tuyến cho Bắc Việt. Một trong 4 người đó là một sĩ quan đang giữ chức tr­ưởng ban phản gián của Cục An Ninb Quân Đội, ng­ười này là bà con rất gần với một nhân viên cao cấp trong bộ tham m­u của Tổng Thống Thiệu.

“Du rằng  có đủ bằng chứng nh­ưng CIA vẫn không có thể làm ǵ đựơc đối với họ v́ cả bốn ngư­ời đều là ngư­ời tâm phúc thân cận với Tổng Thống Thiệu và trong đó có bai ng­ười, kể cả ngư­ời pbụ trách về phản t́nh báo của An Ninb Quân Đội, trớ trêu tbay lại là cộng sự viên lâu đời của CIA. Nếu CIA mà làm tới và kết tội họ th́ việc đó sẽ làm cho chính CIA bỉ mặt, do đó mà CIA đành bải làm ngơ”  38

*38: Frank Knepp: Decent Intrval, Vintage Book, New York, 1978. Trang 133-135

---------------------------------------------------------------------------------

 

Về chuyện nghe lén trong Dinh Độc Lập th́ ông Trần Văn Đôn sau này có cho biết rằng không những ngư­ời Mỹ mà cả Việt Cộng cũng đều có thể nghe đ­ược:

“Th́ ra trong dinh Độc Lập được sửa chửa lúc Dinb sau vụ

ném bom năm 1962, trong mấy nằm trời xây cất, Mỹ đă dặt máy vi âm để nghe t~ất cả những ǵ xảy ra  trong Dinb Độc Lập. Từ đó suy luận  ra th́ chắc chắn Việt Cộng dă cho cán bộ trà trộn làm công việc xây cất chỉnh trang và đă lén đặt máy truyền tin cũng như­ ngư­ời Mỹ đă làm .

“Năm 1976, tôi bảo trơ cho gia đ́nh ông Lê Ngọc An, thiếu úy cận vệ của Tổng Thống Thiệu. Tôi không biết ông An nhiều nhưng có ngư­ời bạn điện thoại cho tôi biết ông An t́m ng­ời sponsor nên tôi đồng ư.

Sang đến Mỹ, ông An cbo biết ngày việt Cộng vào Dinb Độc Lập, chúng nhốt tất cả  lại trong dinh trừ Tổng Thống D­ơng Văn Minh  và Thủ Tướng Mẫu thi chúng chở  đi nơi  khác. Ông An thấy một ng­ời thợ điện làm việc trong dinh  suốt 7 năm trời, lúc bấy giờ ló diện ra là cán bộ Cộng sản nằm vùng. Tên thợ điện đó dẫn cán bộ Việt Cộng đi bết mọi pḥng chỉ dẫn rất rành mạch. V́ vậy không những Mỹ nghe tin mật ở Dinb Độc

Lập mà có thể Việt Cộng cũng ngbe đ­ợc. *39

Nghe lén là một trong những khí quan trọng trong ngành t́nh báo và cũng rất có thể là một trong những cán bộ Cộng sản nằm vùng trong Dinh Độc Lập nhờ nghe lén

mà đă phúc tŕnh những tin tức có tầm quan trọng vô giá này cho Bắc Việt.

 

**38 Frank Snepp: Decent Interval, Vintage Books, New York. 1978.

Trang 133-135.

**39 Trần Văn Đôn: Việt Nam Nhân Chứng, Xuân Thu, Califomia, 1989

----------------------------------------------------------------------------------------------------

Trong binh pháp, ng­ười xư­a đă dạy ràng " mật bất ngờ là hai yếu tố quyết định cho chiến thắng ' và Tôn Tử cũng có dạy "biết ḿnh biết ngư­ời, trăm trận trăm thắng," do đó, các tư­ lệnh chiến tr­ờng bao giờ cũng cố gắng t́m hiểu về các kế hoạch của đối phư­ơng trong khi che dấu, ngụy trang các kế hoạch hành quân của ḿnh. Vào cuối năm 1974, các nhà lănh đạo quân sự Cộng sản Bắc Việt đă nắm được những yếu tố chiến lư­ợc có tính cách quyết định

tại chiến tr­ờng miền Nam qua những tin tức t́nh báo về buổi họp của các nhà lănh đạo quân sự cao cấp tại Dinh Độc Lập trong bản phúc tŕnh mà gián điệp Cộng sần đă gởi về Hà Nội. Nhờ những yếu tố mới này, Cộng sản Bắc Việt đă biết rơ những tiên đoán và kế hoạch đối phó của Việt Nam Cộng Ḥa cho năm 1975 và do đó họ đă phối hợp những tin tức t́nh báo có tính cách chiến lư­ợc này với những yếu tố mà họ đă có từ trước để hoàn tất các kế hoạch tổng tấn công cho năm 1975 trước đó vẫn ch­a đ­ợc thành h́nh và ch­a có quyết định tối hậu.

Kế hoạch đầu tiên là chấp thuận tấn công Phước Long

 

ừ trang 076 đến trang 084

một ủy viên trong Ban Thư­ờng Vụ của Trung ­Ương CụcMiền Nam và cũng là ngư­ời đư­ợc xem như­ là rất thân cận với Lê Duẩn trong thời gian Lê Duẫn c̣n làm Bí ThƯ­ Xứ Ủy Nam Bộ thời chiến tranh Đông Dư­ơng trư­ớc năm 1954.

Tư­ờng cũng nên nhắc lại là con đ­ường này hồi đó đư­ợc cả hai phe VNCH và Cộng sản gọi là "đ­ường dây ông Cụ”  chứ ch­ưa được gọi là “đường 559” hay "đ­ường ṃn Hồ Chí Minh" như­ sau này. Luật sư­ Đinh Thạch Bích có cho ngư­ời biết một chuyện lư thú là ngư­ời đă đặt tên cho con đư­ờng bây giờ nổi tiếng là "Đ­ờng Ṃn Hồ Chí  Minh" lại chính là một vị tư­ớng lănh trong Quân lực VNCH. Dư­ới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, ông Bích có phục vụ tại Pḥng 2 của S­ư Đoàn 22 tại Vùng 2 Chiến Thuật mà vị tư­ lệnh lúc đó là Trung Tá Nguyễn Bảo Trị. Ông Bích nói rằng hàng ngày các sĩ quan trong bộ tham mư­u đều thảo luận về "đường dây ông cụ’’  tức là con đ­ờng liên lạc và chuyển vận ng­ời cũng như­ là vũ khí chiến cụ của Cộng sản từ Bắc vào Nam. Ông Bích cho biết một hôm trong phiên họp tham mư­u, ông hỏi "ông cụ nào vậy?”  th́ Trung tá Nguyễn Bảo Trị cư­ời rồi nói "th́ đó là Hồ Chí Minh chứ c̣n ai vào đây " Từ đó "đ­ờng dây ông cụ” trở thành "đ­ường ṃn Hồ Chí MInh" và sau này đư­ợc ngư­ời Mỹ gọi là ('Hochíminh  trail."

Nhờ những nỗ lực và vận động của Phan Văn Đăng, Lê Duẩn đồng ư cho mời Phạm Hùng và Trần Văn Trà đến tư­ dinh để thảo luận thêm.

Trần Văn Trà hỏi Lê Duẩn lư do tại sao Hà Nội không chấp thuận kế hoạch tấn công quận Đôn Luân thuộc tỉnh Ph­ước Long do B2 đề nghị và đ­ợc Lê Duẩn cho biết BộTổng Tham Mư­u đă phúc tŕnh lên Lê Duẩn rằng nếu mở cuộc tấn công này th́ những đơn vị chủ lực của chiến trư­ờng B-2 sẽ phải đư­ợc tung hết vào cuộc chiến từ lúc khởi đầu, nếu bị thất bại th́ sẽ tổn thất rất nhiều về nhân lực, vũ khí, đạn dư­ợc và chiến cụ. Sự tổn thất này sẽ ảnh h­ởng quan trọng đến tiềm lực của Trung Ư­ơng Cục Miền Nam dành cho các cuộc tấn công dự trù vào năm 1975 và cuộc tổng tấn công tại Miền Nam dự trù vào năm 1976. Lê Duẩn nói rằng chính v́ lư do đó mà kế hoạch tấn công Đôn Luân không thích hợp.

Phạm Hùng và Trần Văn Trà, hai đệ tử thân tín của Lê Duẩn thời Nam Bộ Kháng chiến, đă thuyết phục Lê Duẩn rằng quân lực của Việt Nam Cộng Hoà trong vùng Phư­ớc Long rất yếu kém, miền Nam không có đủ khả năng để tiếp viện nếu Phư­ớc Long bị tấn công và quốc lộ 13 bị cắt đứt. Sau cùng th́ Lê Duẩn bị Phạm Hùng Trần Văn Trà thuyết phục và chính Lê Duẩn lại đứng ra vận động với Bộ Chính Trị về việc tấn công Ph­ớc Long” *40

Trong cuốn hồi kư Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 3O Năm, Tượng Tư­ớng Trần Văn Trà có cho biết rơ hơn về chuyện này:

"Nhân lúc anb phạm Hùng nói về triển vọng ta thắng lơi nhiều trong mùa khô này vừa dừng lại, tôi bỏi anh Ba (Lê Duẩn): “Vừa rồi anb điện vào không cho đánh Đồng Xoài, v́ nguyên do thế nào?”

Anh Ba trả lời: Bộ Tổng Tham Mưu  báo cáo với tôi là các anh tung cả chủ lực ra đánh ngay từ đầu mùa khô. Đánh Đồng Xoài và tiếp theo một loạt các trần đánh lớn khác, như vậy không phù hợp. Cần phải đánh thế nào để giữ ho giai sức, trong t́nh h́nh hiện nay phải luôn nắm trong tay một lực lự­ơng sung sức để khi thời cơ, anb mới có điều kiện dành thắng lơi."

Tôi lại tŕnh bày với anh về ư định của chúng tôi và về cách sử dụng lực lư­ợng. Tôi nói:

" Trong đợt đầu mùa khô chúng tôi vẫn nắm một lực lự­ơng dự bị mạng là Sư đoàn 9 và một số trung đoàn khác."

---------------------------------------------------------------------------------

*40 The Fall of the South, trang 17.

---------------------------------------------------------------------------------

Anh Phạm Hùng nói thêm vào: “Đánh Đồng  Xoài không cầ lực lụ­ơng lớn đâuu chúng tôi chắc thắng, chúng tôi cũng đă cân nhắc kỷ”

Anh Ba nói: "Nếu đúng như vậy th́ cứ đánh chứ có vấn đề ǵ đâu”

Tôi tư­ởng tai ḿnh không nghe rơ, liền hỏi lại cho chắc: "như vậy anh cho chúng tôi giải quyết Đồng Xoài­ để có hành lang thông về phía đông như kế hoạch chúng tôi đả dự định?”

Anh Ba nói: Nhưng chắc thắng và không được xử dụng lực lượng lớn” 41*

Ngay sau khi đ­ợc Lê Duẩn đổi ư kiến cho phép đánh Đồng Xoài, Trần Văn Trà đánh điện ra lệnh cho lê Đức Anh và vào ngày 14 tháng 12 năm 1974 th́ Việt Cộng khởi sự tấn công quận Đức Phong, mở đầu cho chiến dịch tấn công Ph­ớc Long. Tuy nhiên, dù đă đ­ợc Lê Duẩn chấp thuận như­ng dư­ờng như­ phe Văn Tiến Dũng và các t­ướng lănh của Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội - mà Trần Văn Trà châm biếm gọi là "lính nhà vua"- cũng c̣n t́m cách chống đối. Trần Văn Trà cho biết rằng ngay hôm đó, Trà viết một mệnh lệnh gửi cho Lê Đức Anh Ở B2 nhờ bộ tham mư­u của Văn Tiến Dũng gửi đi, như­ng đến chiều hôm đó th́ Lê Ngọc Hiền mang trả lại, không chịu gửi với lư do là v́ trong bức điện Trà đă cho phép dùng xe tăng và pháo lớn mà những giới hạn mà Quân Ủy' không cho phép. Trắn Văn Trà nói rằng ông ta giận dữ và nói với Lê Ngọc Hiền rằng: " Việc sử dụng vủ khí lớn tôi đă xin phép rồi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Yêu cầu đông chí cho điện đi và đồng chí sẽ phải chịu tráh niệm nếu điện của tôi chậm trễ, lỡ thời cơ”. Sau khi hăm dọa như vậy th́ Lê Ngọc Hiền mới cho đánh bức điện của Trần Văn Trà vào Nam ra lệnh cho Lê Đức Anh khởi sự cuộc tấn công Phước Long”*42

--------------------------------------------------------------------------------

41 Trần Văn Trà: kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Nhà xuất bản Văn Nghệ, TPHCM, 1982, trang 170.

---------------------------------------------------------------------------------

Frank Snepp nhận định rằng quyết định gia tăng các cuộc tấn công quân sự tại miền Nam cũng gặp phải nhiều sự chống đối của phe “bồ câu” và phe ôn hoà trong Bộ Chính Trị Đảng Lao Động v́ họ vẫn c̣n e ngại việc Hoa Kỳ tái can thiệp và những trở ngại trong việc tái thiết sau này. Tuy nhiên, chính Tổng Bí thư Lê Duẩn đă thuyết phục họ với lập luận rằng quốc hội Hoa Kỳ đang thảo luận về viện trợ cho miền Nam và các cuộc tranh luận này cho thấy rất ít có cơ hội mà người Mỹ sẽ tái can thiệp ở Việt Nam, do đó

mà dù Bắc Việt có gia tăng các cuộc tấn công th́ cũng chẳng có ǵ phải lấy làm lo ngại cho lắm. Để trấn an những phần tử c̣n thận trọng trong Bộ Chính Trị, Lê Duẩn đồng ư sẽ lấy vụ tấn công Phước Long làm một thí nghiệm: nếu Hoa Kỳ mà không can thiệp để cứu tỉnh này th́ điều đó chứng tỏ rằng ông ta đă đúng, c̣n nếu mà Hoa Kỳ có can thiệp th́ Bắc Việt vẫn c̣n có đủ th́ giờ để rút lui.

Sau cùng th́ Lê Duẩn thuyết phục đ­ợc Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động và chính Lê Duẩn, nhân danh Bộ Chính Trị, ra lệnh cho khởi sự cuộc tấn công tỉnh Ph­ước Long. Lê Duẩn đă ra khẩu lệnh cho Phạm Hùng và Trần Văn Trà trư­ớc khi hai ngư­ời này lên đ­ờng trở về miền Nam: "các đồng chí phải chắc rằng chúng ta sẽ chiến thắng ở Phước Long

 

*42 Trần Văn Trà : sđd, trang 178

---------------------------------------------------------------------------------

Chiên Dịch Ph­ước Long

 

Đầu tháng 12 năm 1974, Cộng sản cho mở một vài cuộc tấn công gần Tây Ninh để nhử cho VNCH gởi các đơn vị trừ bị đến tăng c­ờng cho tỉnh này rồi đến ngày 13 tháng 12, Cộng sản khởi sự tấn công vào tỉnh Ph­ớc Long.

Theo Đại t­ớng Cao Văn Viên th́ đầu tháng 10 năm 1974 qua tin tức thâu thập tử t́nh báo, phản gián hồi chánh viên và tù binh, Bộ Tổng Tham Mưu đă biết đựơc kế hoạch Cộng sản Bắc Việt chuẩn bị đánh chiếm Phước Long. Tin tức nầy đă đựơc chuyển đến  Đoàn Đoàn IIiTiểu khu Phư­ớc Long. Cuộc tấn công của Cộng sản vào Phước Long không phải là một sụ bất ngờ ngoài sự uớc đoán của chúng ta.

Tư­ớng Viên cho biết rằng lực l­ợng pḥng thủ toàn tỉnh Phước Long gồm có 5 tiểu đoàn Địa Ph­ơng Quân khoảng 4,000 ng­ười, 48 trung đội nghĩa Quân khoảng 1,000 ngư­ời và 4 pháo đội (đại đội) Pháo Binh. Như­ vậy th́ trong khu vực tỉnh này, chỉ có những lực lư­ợng địa Ph­ơng Quân và nghĩa Quân đảm trách việc pḥng thủ, không có một đơn vị tác chiến nào của Chủ Lực Quân cả, cho đến khi một số tiền đồn của ta bị rơi vào tay địch th́ Quân Đoàn III mới tăng viện cho Phư­ớc Long một tiểu đoàn thuộc Sư­ đoàn 5 Bộ binh cùng với hai pháo đội và 3 đại đội trinh sát.

Trong khi đó th́ Cộng sản Bắc Việt đă sử dụng Quân đoàn 4 do Tư­ớng Hoàng Cầm làm tư­ lệnh và Đại tá Bùi Cát Vũ làm chính ủy gồm có ba sư­ đoàn, lúc đó đ­ợc gọi là "Công tr­ường 7 và 9 cùng với hai trung đoàn cao-xạ pḥng không và nhiều đơn vị pháo binh cũng như­ là xe tăng tấn công vào 5 mục tiêu trong tỉnh Phư­ớc Long.

Theo Đại Tá William E. Leggro, cựu Trư­ởng Pḥng T́nh Báo của Pḥng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ (DAO) tại Sài G̣n th́ lúc đó, ngoài những đơn vị tác chiến kể trên, trong vùng lănh thổ tỉnh Ph­ước Long, Cộng sản c̣n đặt căn cứ

 

------------------------------------------------------------------------------------------------------------

*43 cao văn viên: sđd, trang 99-100.

---------------------------------------------------------------------------------

của nhiều bộ chỉ huy chiến thuật và tiếp vận nữa: đồn điền Bù Dốp-Bố Đức là bản doanh của bộ chỉ huy M-26 của 3 tiểu đoàn chiến xa cách phi tr­ờng Sông Bé khoảng 45 cây số, bộ chỉ huy của các đơn vị công binh chiến đấu cũng gồm khoảng 3 tiểu đoàn, ngoài ra c̣n có các đơn vị khác  nữa như­ quân xa, huấn luyện và hậu cần v.v .. *44

Ngày hôm sau, 14 tháng 12 năm 1974, Cộng sản đă chiếm được hai tiền đồn là hai quận Bố Đức và Đức Phong, tuy nhiên Quận Đôn Luân do một tiểu đoàn Địa Phư­ơng Quân trấn giữ đă anh dũng đẩy lui đ­ược đợt tấn công đầu tiên của Cộng sản. V́ quốc lộ 14 đă bị Cộng quân cắt đứt. Không quân VNCH phải vận tăi tiếp liệu và di tản thư­ơng binh cùng th­ờng dân bằng phi cơ C-130 và trực thăng CH- 47, như­ng sau đó Cộng quân đă pháo kích vào phi trư­ờng Phư­ớc B́nh, tiêu hủy một chiếc C-130, làm hư­ hỏng một chiếc khác và phi trư­ờng Phư­ớc B́nh đă bị Cộng quân pháo kích hàng ngàn trái đạn do đó không c̣n sử dụng đư­ợc.

            Ngày 26 tháng 12 năm 1974, sau 13 ngày anh dũng chống trả lại các cuộc tấn công biển ngư­ời của Cộng sản, tiền đồn Đôn Luân bị thất thủ sau khi bị Cộng quân pháo kích hàng ngàn đạn pháo binh rồi sử dụng chiến xa và quân bộ chiến tràn ngập quận ly này. Lúc đó, trừ quận ly Ph­ước B́nh và thành phố Phư­ớc Long, toàn thể tỉnh này đă hoàn toàn rơi vào sự kiềm soát của Cộng sản.

Sau khi quận Đôn Luân bị thất thủ, một phiên họp khẩn cấp đă đ­ợc triệu tập tại Dinh Độc Lập d­ới sự chủ tọa của Tổng Thống Thiệu và sự hiện diện của Phó Tổng Thống Trần Văn H­ương, Thủ T­ướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tư­ớng Đặng Văn Quang, Phụ tá An Ninh và Quốc Pḥng, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tư­ớng Trần văn Minh, Tư­ Lệnh Không Quân, Trung Tướng Quốc Đống, Tư­ lệnh Quân Đoàn III và Trung Tướ­ng Đồng Văn Khuyên, Tham Mư­u Tr­ởng Liên Quân kiêm Tổng Cục Tr­ởng Tổng Cục Tiếp Vận. Mục đích của phiên họp này là thảo luận để đi đến quyết định là Sài G̣n có nên tăng viện cho Pư­ớc Long hay không và nếu tăng viện th́ tăng viện nư­ thế nào về vũ khí, về nhân sự.

 

--------------------------------------------------------------------------------

*44 william E. Le Gro: Vietnam.from Cease-fire lo Capitulation. Washington D.C.: US Army Center of Military History, 1981, trang 133

---------------------------------------------------------------------------------

Trong cuốn The Final Collapse, Đại Tư­ớng Cao Văn Viên cho biết trong phiên họp này, Trung Tư­ớng Dư­ Quốc Đống, Tư­ Lệnh Quân Đoàn III đă tŕnh bày về t́nh h́nh Phư­ớc Long và đề nghị xin một sư­ đoàn bộ binh hay sư­ đoàn Nhảy Dù lên tăng viện cho Phư­ớc Long và đồng thời ông xin đư­ợc từ chức viện cớ là ông đă không đủ khả năng giải quyết được t́nh h́nh quân sự của vùng này. Lời yêu cầu của Tướ­ng Dư­ Quốc Đống bị Tổng Thống Thiệu bác bỏ.

Tư­ớng Cao Văn Viên cho biết sau khi nghiên cứu t́nh h́nh th́ kế hoạch tăng viện cho Ph­ước Long bị hủy bỏ dựa vào những lư do sau đây: Bộ Tổng Tham Mư­u không c̣n đủ quân trừ bị, hai sư­ đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang trấn đóng Ở Vùng I và t́nh h́nh chiến sự ở đây không cho phép rút bất cứ đơn vị nào để tăng viện cho Phư­ớc Long; tại Vùng III, hai sư­ đoàn cơ hữu là Sư­ đoàn 18 và 25 cũng không thể đ­ưa lên tăng viện cho Phư­ớc Long v́ c̣n phải được dùng để án ngữ khu vực Tây Ninh ngăn chân hai ư­ đoàn Cộng sản 5 và 9 tiến về Sài G̣n; nếu giả thử như­ có thể gửi một sư­ đoàn tăng viện cho Phư­ớc Long th́ phải mất từ 5 đến 7 ngày mới đến nơi và lúc đó th́ chư­a chắc quân trú pḥng Phư­ớc Long c̣n cầm cự đư­ợc trư­ớc sự tấn công của các lực lư­ợng Cộng sản đông gấp mấy lần; về tiếp tế th́ cần phải sứ dụng Không quân và Bộ Tổng Tham Mưu phỏng định là không quân sẽ bị thiệt hại rất nặng trư­ớc lực lư­ợng pḥng không của Cộng sản mà sự thiệt hại này sẽ không đư­ợc thay thế v́ ngân sách dành cho không quân không c̣n nữa và sau cùng, lư do quan trọng nhất là về các phư­ơng diện chiến lư­ợc, kinh tế, chính trị và dân số, Phư­ớc Long không quan trọng bằng Tây Ninh, Pleiku hay là Huế. Theo Bộ Tổng Tham Mưu th́ trong thời điểm mà ngân quỹ quốc pḥng đang phải đối diện với một sự thiếu hụt ngặt nghèo, nếu phải giữ đất th́ nên củng cố lực lư­ợng để giữ Tây Ninh hay Huế hơn là Phư­ớc Long. Buổi họp đi đến quyết định là chỉ sử dụng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù để tăng viện cho Phư­ớc Long như­ đă dùng đơn vị này để tiếp viện cho An Lộc hồi năm 1972.*45

Như­ vậy th́ sự tiên đoán của Phạm Hùng và Trần Văn Trà nói rằng Việt Nam Cộng Hoà sẽ không có đủ khả năng để tăng viện cho mặt trận Phư­ớc Long nếu tỉnh này bị tấn công là không may sai sự thật. Và điều này cũng chứng tỏ cho thấy rằng VNCH không c̣n có đủ quân để tăng viện cho Phư­ớc Long chứ không phải như­ nh­ững lời đồn đại, những lời bàn luận mà ng­ời Sài G̣n hồi đó th­ờng gọi là “lời bàn Mao Tôn Cư­ơng” nói rằng khi quyết định không tăng viện cho Phư­ớc Long, Tổng Thống Thiệu đă chơi tṛ "tháu cáy” cố t́nh để mất tỉnh này vào tay Cộng sản cốt là để thử xem ngư­ời Mỹ có giữ đúng sự cam kết là sẽ can thiệp nếu Bấc Việt mở các cuộc tấn công ở miền Nam sau Hiệp Định Paris hay không. Sau phiên họp này, lư do thời tiết cũng như­ là chiến sự, đến sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, không quân mới thực hiện được 60 phi vụ oanh tạc để dọn băi đáp ở phía bắc thành phố và đến 3 giờ chiều th́ khoảng 250 quân nhân thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nbảy mới hoàn tất đ­ợc cuộc đổ bộ và tiếp xúc đư­ợc với quân trú pḥng d­ưới những cơn m­ưa pháo mănh liệt của Cộng quân.

Các đơn vị của Quân Lực VNVH đă chống trả các cuộc

---------------------------------------------------------------------------------

*45 cao văn viên: sđd, trang 106-109.

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 85 đến trang 94

tấn công biển người của 3 sư­ đoàn Cộng quân với sự yểm trợ của chiến xa T-54 và đại pháo 13O ly trong hơn 10 ngày. Biệt Cách Nhảy Dù đă chiến đấu vô cùng gan lỳ và dũng cảm trong nổ lực phản công tái chiếm lại những mục tiêu đă mất, tuy nhiên sức người có hạn, hơn một nửa tổng số các chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Dù đă anh dũng hy sinh trong các trận đánh này. Hơn nữa, Cộng sản đă cho thiết kế gắn thêm vào hông xe tăng của họ những cái “khiên kim loại”  mới được biến chế khiến cho các loại súng chống chiến xa loại M-72 cũng như là súng không giật 90 ly của Hoa Kỳ chế tạo không c̣n hữu hiệu nửa.

Sự chiến đấu gan dạ của các chiến sĩ 81 Biệt Cách Nhảy Dù cùng các đơn vị Địa Phương Quân trong thị xă Phước Long đă khiến cho cuộc tấn công của Cộng quân phải chùn lại. Trần Văn Trà đang họp ở Hà Nội cho biết:

"Bỗng một bôm trong lúc đang họp, một đồng chí trong Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham Mưu đưa đến và đọc một bức điện từ chiến trường báo cáo rằng: “v́ địch đă tăng viện được Lử 81 Biệt Kích Dù vào thị xă, chúng đă cố thủ nên chúng tôi tạm cho dẫn bộ đội ra chấn chỉnh để nghiên cứu đánh lại "

“Tôi sửng sốt, không tin. tôi ngồi gần như đối diện với anb Ba (Lê Duẩn,) khi nghe đọc xong, anh ngó thẳng vào tôi có vẻ hỏi tại sao vậy. Trước đây, khi xin đựơc đánh Phước Long và đựơc sử dụng một ít pháo lớn và xe tăng, tôi đă khẳng định với anh Ba rằng ta đánh chắc thắng và địch không thể tăng viện đựơc. Nay nếu đánh không nổi tỉnh lỵ Phước Long th́ mọi việc đánh giá khác của tôi sẽ khó mà tin đụơc là đúng. Tŕnh độ tác chiến của quân chủ lực ta ở miền Đông rơ ràng sẽ chứng tỏ c̣n thấp kém. *46

        Tuy nhiên sức ng­ười có hạn, đến nửa đêm hôm 6

------------------------------------------------------------------------
*46 Trần Văn Trà : Sđd, trang 189.
------------------------------------------------------------------------

tháng 1 năm 1975, sau khi các vũ khí hạng nặng và trang bị truyền tin bị pháo binh và chiến xa của cộng sản phá huỷ hoàn toàn, với biển người trên 3O,OOO quân Cộng sản tấn công ào ạt, một số mấy trăm chiến sĩ thuộc các binh chủng Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù, Địa Phương Quân và nghĩa Quân thuộc tỉnh Phước long đă rút được vào những khu rừng rậm quanh tỉnh lỵ Phước B́nh. Trong tổng số 5,400 chiến sĩ bảo vệ cho toàn tỉnh Phước Long, chỉ có khoảng 1,000 người trong đó có 121 quân nhân Biệt Cách Nhảy Dù đă thoát được và trở về tŕnh diện Quân Đoàn III. Tỉnh trưởng Phước Long, Quận trưởng Phước B́nh, một số tiểu đoàn trưởng cùng khoảng trên 3,OOO quân nhân thuộc các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đă được ghi nhận là mất tích và tử vong.

        Kể từ khi Cộng quân khởi sự tấn công vào ngày 13 tháng 12 năm 1974 cho đến khi tỉnh Phước Long bị thất thủ vào ngày 6 tháng Giêng năm 1975, khoảng trên 5 ngàn Địa Phương quân và Nghĩa quân đă anh dũng cầm cự được với 3O ngàn quân Cộng sản trong 23 ngày th́ đó cũng là một cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng đáng ca ngợi của các chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vào những ngày đầu của cuộc tổng tấn công miền Nam Việt Nam.

        Theo nhận định của một quân nhân thuộc lực lượng Biệt Kích Nhảy Dù có tham dự cả hai trận An Lộc hồi năm 1972 và Phước Long năm 1975 th́ trong trận Phước Long địch quân đánh không giỏi và gan dạ như chúng ta nghĩ. Vấn đề là địch đông quá. Pháo binh của họ mạnh và chính xác hơn là ở An Lộc. Xe tăng của địch đuợc trang bị khác hơn, súng M-72 của ta không ngăn chận đươc. Khi bị trúng đạn, xe tăng địch khựng một chút rồi tiếp tục tiến lên.Yểm trợ của không quân không hữu hiệu v́ phi cơ bay quá cao. Chỉ có B-52 như ở An Lộc th́ chúng ta mới có thể thắng đư­ợc , *47

        Nhưng năm 1975 th́ không có B-52, ngược lại về phía Hoa Kỳ, không hề có một phản ứng nào, không có một phản kháng nào đối với việc Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công chiếm tỉnh Phước Long.

        Trong cuốn The Final Collapse, Đại Tướng Cao Văn Viên nhắc lại rằng " Trong dịp sang Sài G̣n vào ngày 18 tháng 10 năm 1972 để trao cho TT Nguyễn Văn Thiệu bản sơ thảo viết bằng Anb Ngữ của hiệp địnb Paris, cố vấn Kissinger nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giữ các căn cứ tại Thái Lan và hạm đội Mỹ ở ngoài khơi Việt Nam để ngăn chận các cuộc xâm lăng của Cộng sản ..."*48

        Trong thời gian Cộng sản tấn công Phước Long, Tiến sĩ Kissinger đang làm Ngoại Trưởng Hoa Kỳ và lúc đó có một hạm đội Hoa Kỳ đang hoạt động trong vùng biển Á châu, nhưng ông ta đă không nhắc nhở ǵ với tân Tổng Thống Ford về lời hứa của ông gần hai năm về trước tại Sài G̣n để cho Tổng Thống Gerald Ford có thể ra lệnh cho một lực lượng đặc nhiệm hải quân trong đó có hàng không mẫu hạm nguyên tử Enterprise đang hoạt động trong vùng Thái B́nh Dương tiến vào vùng hải phận gần bờ biển Việt Nam, nhưng thay v́ ở lại chung quanh vùng biển này như là một h́nh thức để ủng hộ một cách tượng trưng cho Việt Nam Cộng Hoà th́ hạm đội này lại được lệnh đi thẳng sang...Phi Châu. ' '

 

      Từ Hà Nội: Chiến Dịch 275

----------------------------------------------------------------------- 
*47 Cao Văn Viên: sđd, trang 113
*48 Cao Văn Viên: sđd, trang 39
------------------------------------------------------------------------

         Theo Tư­ớng Trần Văn Trà th́ trong kế hoạch quân sự tại Miền Nam năm 1975 của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Bắc Việt, có một kế hoạch tấn công Quận Đức Lập thuộc tỉnh Quảng Đức, một quận ly gần biên giới cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng 50 cây số về phía tây-nam. Theo kế hoạch này, Bắc Việt sẽ sử dụng 3 sư đoàn quân chủ lực của B3 với sự yểm trợ của một tiểu đoàn xe tăng và một tiểu đoàn pháo binh 13O ly để tấn công quận Đức Lập. Mục tiêu của Bắc Việt trong trận tấn công này là để khai thông con đường tiếp vận cho miền Nam và thu hút quân đội VNCH đến giải vây mà tiêu diệt.

Khi nghe nói về kế hoạch này, Trần Văn Trà đă nói rằng: "Tôi không đồng ư. Tôi đă cười và nói vui: "Thật các anh là những lính “nhà vua”. “Các anh đă đánh và luôn nghĩ đánh theo kiểu dồi dào lực lựơng và súng đạn, khác xa với chúng tôi là nững lính nhà nghèo ở chiến trường xa và khó khăn, từng viên đạn một, vừa thèm thuồng nh́n các anh. "

          Trần Văn Trà bày tỏ ư kiến rằng Đức Lập chỉ là một chi khu, một quận lỵ chẳng có ǵ quan trọng cho lắm, nhưng nếu B3 đă huy động một lực lượng hùng hậu lên đến 3 sư đoàn như vậy th́ tại sao lại không tấn công thẳng vào Ban Mê Thuột, tỉnh lỵ và cũng là Tiểu Khu Darlac quan trọng hơn nhiều?

           Trần Văn Trà lập luận rằng: "đánh giải phóng Ban Mê Thuột là ta chiếm được một mục tiêu có giá trị chiến dịch chiến lược  quan trọng, rung động toàn Tây Nguyên và tự khắc hành lang của ta được mở rộng vững chắc. Với lực lựơng của ta đủ sức đánh Ban Mê Thuột v́ ở đây địch có nhiều sơ bở, chỉ xem như một hậu cứ của các sư đoàn, trung đoàn. Tuy là tỉnh lớn nhưng đia h́nh thuận lợi, pḥng thủ yếu, lực lượng ít và nhất là địch không nghĩ rằng ta chủ trương đánh Ban Mê Thuột như vậy …. . .

              “Theo tôi đánh Kontum và Pleiku là đánh vào nơi địch cứng nhất. Chúng ta chuẩn bị pḥng thủ từ lâu. Là đánh vỗ đầu địch. Lâu nay địch luôn phán đoán ta sẽ đánh vào Kontum trước nên dồn lực lựợng và mọi sự chú ‎‎ vào đây, tuy ta có điều kiện tập trung lực lượng lớn và chuẩn bị mọi mặt thuận lơi, nhưng địch đă đề pḥng, ta không phải dễ dàng trong tấn công. Có đánh vào Ban Mê Thuột là đánh đ̣n bất ngờ hoàn toàn đối với địch, đánh vào phía sau không đươc pḥng bị của địch. Chúng sẽ bị tiêu diệt và tan vỡ mau chóng, ta không cần phải sử dụng lực lựơng nhiều . . . Tôi ví đánh chiếm Ban Mê Thuột đối với các tỉnh Tây Nguyên c̣n lại giống như đốn một cây gỗ lớn từ gốc toàn bộ tàn lá và thân cây phải  đổ. Đánh như vậy mới là đ̣n hiếm về chiến dịch chiến lược, đám bảo đảm chắc thắng và thắng to."* 49

         Dường như sau khi Việt Cộng chiếm được tỉnh Phước Long th́ ư kiến của Trần Văn Trà trở nên có giá trị hơn và được nhiều người đồng ư hơn, cho nên vào ngày 8 tháng 1 năm 1975 tức là hai ngày sau khi Việt Cộng chiếm được tỉnh Phước Long tại miền Nam, Tổng Bí Thư Lê Duẩn đại diện cho Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương đă đọc một "Bản kết luận đợt hai Hội Nghị Bộ Cbính Trị”  tóm tắt lại những điều đă được thảo luận trong hội nghị Bộ Chính Trị vừa qua, trong đó ư kiến tấn công Ban Mê Thuột của Trần Văn Trà đă được chấp thuận.

         Sau phần nhận định về t́nh h́nh tại miền Nam hai năm sau Hiệp định Paris, trong phần nói về "Nhiệm vụ, Kế Hoạch Tác Chiến" của các đơn vị tại miền Nam trong hai năm 1975 và 1976, Lê Duẩn nhấn mạnh đến 5 điểm quan trọng:

------------------------------------------------------------------------
*49 Trần Văn Trà : sđd., trang 181-183.
------------------------------------------------------------------------

“1/ thực hiện tiến công và nổi dạy trên quy mô lớn;

2/ mở những chiến dịch hợp đồng binh chủng;

3/ kết hợp với đ̣n tiến công vào quân chủ lực ngụy và đ̣n đánh phá b́nh định nông thôn, thực hiện bao vây uy hiếp cá thành thị lớn, nhất là Sài G̣n, phát triển phong trào đấu tranh chính trị lên quy mô rộng lớn, đ̣i ḥa b́nh, ḥa hợp dân tộc. Nếu Mỹ lật Thiệu th́ nhanh chóng phát động quần chúng nổi dậy đánh đỗ ngụy quyền, xách động chính quyền cách mạng ở các cấp bên dưới, đấu tranh lập chính phủ liên hiệp bên trên;

4/ đẩy mạnh công tác binh vận;

5/ phá bủy các cơ sở hậu cần và phương tiện chiến tranh của địch.

       Một điểm vô cùng quan trọng là trong điểm thứ 3 chỉ thị của Bộ Chính Trị nói rơ rằng nếu TT Thiệu bị lật tức là không c̣n nắm chính quyền nữa th́ "đấu tranh chính lập chính phủ liên hiệp bên trên”. Như vậy th́ vào đầu tháng 1 năm 1975, khi chưa chiếm được Ban Mê Thuột, Cộng sản Bắc Việt c̣n có dự định “lập chính phủ liên hiệp bên trên” với miền Nam.

         Bản kết luận nói thêm rằng kế hoạch trong năm 1975 chỉ ra nhiệm vụ cho từng chiến trư­ờng:

         -Chiến trường Nam Bộ có ba nhiệm vụ quan trọng: ‘'đánh phá b́nh định"; đánh phá quân chủ lực ngụy, vây ép thành thị. Để đánh phá b́nh định" mà trọng điểm là ở đồng bằng sông Cửu Long, phải sử dụng hai đến ba vạn quân chủ lực ở miền Đông Nam Bộ đánh xuống đồng bằng, kết hợp với những cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng quân sự chính trị tại chỗ, mở vùng giải pbóng liên hoàn nối miền Đông với Khu VIII, Khu IX, đồng thời ép mạnh về phía Mỹ Tho, Sài G̣n nhất là Sài G̣n tạo thế cho quần chúng ở đây nổi dậy. Để góp phần vây ép Sài G̣n, quân chủ lực ta phải tiêu diệt cho đựơc một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy ở miền Đông.

          -Chiến trư­ờng Khu V, Tây Nguyên: dùng 3 sư đoàn chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực cơ động nhanh vào miền Đông phối hợp với quân chủ lực Miền để tiến đánh Sài G̣n. Mở trận đánh đầu chiếm Ban Mê Thuột, thọc thẳng xuống Tuy Ḥa, Phú Yên, cắt đồng bằng Khu V ra làm đôi, tạo thêm một huớng nữa để tiến nhanh vào phía Nam Sài G̣n.

           -Chiến tưrờng Trị Thiên: đánh chiếm đồng bằng làm chủ vững chắc từ Nam thành phố Huế trở vào, chia cắt Huế với Đà Nẵng, vây ép hai thành phố nầy không cho địch co cụm về phía nam, thúc đẩy binh biến ly khai miền Trung.

           Trên đây là những đ̣n tiến công quân sự chủ yếu trong kế hoạch chiến lược năm 1975. Chúng ta đều nhất trí về kế hoạch đó.

           Kế hoạch tiếp theo cho năm 1976 sẽ do kết quả thực hiện kế hoạch năm 1975 quyết định. Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực." *50

            Qua những chi tiết trong chỉ thị ngày 8 tháng 1 trên đây th́ kế hoạch quân sự năm 1975 của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản chưa có dự trù tấn công và chiếm giữ một tỉnh nào Ở miền Nam trừ Ban Mê Thuột và Hà Nội dự trù nếu kế hoạch 1975 đạt được kết quả tốt th́ sẽ tiến tới tổng tấn công vào năm 1976. Kế hoạch này không dự trù tổng tấn công "dứt điểm" để chiếm trọn miền Nam Việt Nam trong năm 1975.

             Không thấy Hoa Kỳ có phản ứng ǵ sau khi tỉnh Phước Long của VNCH bị Cộng sản chiếm, được sự khuyến khích và tăng viện của Liên Xô, theo tinh thần của phiền họp

------------------------------------------------------------------------
*50 văn kiện Đảng: trang 21-30.
------------------------------------------------------------------------

                 Trung Ương Đảng kết thúc vào ngày 8 tháng 1 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt chấp thuận cho thi hành kế hoạch thứ hai, đó là chiến dịch 275 tức là chiến dịch nhằm tấn công và nếu có thể được th́ chiếm một số tỉnh trong khu vực chiến trường B3 tức là vùng Cao Nguyên và chiến trường B4 tức là vùng phía Nam sông Thạch Hăn thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Cộng sản Bắc Việt đề cử Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vào Nam để đích thân chỉ huy chiến dịch này.

            Trần Văn Trà cho biết ngày 15 tháng 1 năm 1975, Phạm Hùng và ông ta c̣n gặp Lê Duẩn trước khi lên đường về Nam. Lê Duẩn chỉ thị: "Lănh đạo chỉ đạo chính trị ở Sài G̣n sắc bén lắm mới đựơc v́ chính trị thay đổi rất nhanh, từng ngày từng giờ phải kiên quyết và sắc sảo như Lenin.  Dành đựơc chính quyền đă khó, nhưng giữ đựơc chính quyền c̣n khó gấp trăm cho nên ngay từ giờ phút này phải suy nghĩ lo tổ chức ngay. Phải quyết tâm và tin tư­ởng thắng lơi to năm 1975

           Sau đó hai người gặp Lê Đức Thọ và được cho biết: " Tôi đă đến dự cuộc họp thường trực Quân Ủy Trung Ương, đă truyền đạt quyết tâm của Bộ Chính Trị là đánh Ban Mê Thuột. Chỉ chấp hành lệnh không thảo luận ǵ nữa”.*51

          Tại Hà Nội, các cấp lănh đạo đă nắm chắc được rằng Hoa Kỳ sẽ không c̣n dám can thiệp quân sự tại Đông Dương nhất là sau khi Quốc Hội Mỹ thông qua đạo luật War Powers Act hồi cuối năm I973 cấm tổng thống Hoa Kỳ không được sử dụng quân đội nếu không được sự chấp thuận của quốc hội và nhất là đa số dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ thuộc Đảng Dân Chủ đang có khuynh hướng chống lại việc ủng hộ cho VNCH. Hai ngày sau khi Phước Long bị

------------------------------------------------------------------------
*51 Trần Văn Trà : sđd. Trang 197.
------------------------------------------------------------------------

thất thủ, Phạm Văn Đồng đă tuyên bố với các ủy viên trong Bộ Chính Trị của Đảng Lao Động rằng:

       "Bây giờ th́ dù bằng cách nào, người Mỹ cũng không c̣n có thể gởi quân đội sang tham chiến tại Việt Nam đựơc nữa. Họ có thể yểm trợ bằng không quân hay hải quân, tuy nhiên hai quân chủng nầy cũng không thể đem lại sự chiến thắng cũng như là thất bại.

        "Nói chơi cho vui nhưng mà cũng đúng sự thật là dù có cho ăn kẹo, người Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam. " *52

         Thực ra th́ điều này không có ǵ đáng ngạc nhiên v́ vào tháng 8 năm 1973 hai nghị sĩ Hoa Kỳ là Frank Church và Clifford Case đă đệ tŕnh một dự thảo luật ra trước thựợng nghị viện cấm tất cả mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Dương nếu không được sự thoả thuận của Quốc Hội. Dự thảo luật này đă được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua và Tổng Thống Richard Nixon ban hành thành luật vào tháng 12 năm 1973.  Như vậy, sau khi đạo luật Case-church Amendment được ban hành th́ bất cứ một vị tổng thống Hoa Kỳ nào muốn can thiệp vào Đông Dương bằng quân sự, chẳng hạn như ra lệnh oanh tạc bằng pháo đài bay B-52, đều phải xin phép Quốc Hội và Quốc Hội hồi năm 1975 th́ hoàn toàn do đảng Dân Chủ kiểm soát, mà đa số đảng viên Đảng Dân Chủ th́ lại chống việc Đảng Cộng Hoà tiếp tục ủng hộ cho Việt Nam Cộng Hoà, do đó dù có muốn trợ giúp cho Việt Nam, Tổng Thống Ford cũng khó ḷng mà đạt được sự thoả thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ.

 --------------------------------------------------------------------------------------------------
*52 Oliver Todd: Cruel Avril, trang 88. Trần Văn Trà: s đd trang 188
-----------------------------------------------------------------------------------------------------

            Nghị Quyết ngày 20 tháng 1 năm 1975

Sau hội nghị của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng vừa kết thúc ngày 8 tháng 1 năm 19775, chưa đầy hai tuần sau đó, Bộ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam lại thông qua một bản nghị quyết ngày 20 tháng 1 năm 1975 về "Quyết  Tâm Hoàn Thành Cách Mạng Dân Tộc Dân Cbủ ở Miền Nam."

         Bản nghị quyết này dài 34 trang, gồm có 3 phần:

        - phần đầu là phần nhận định về t́nh h́nh tại miền Nam từ sau ngày Hiệp định Ba Lê được kư kết dài 11 trang trong đó có đoạn thú nhận rằng "ta đă chủ trương kư kết Hiệp Định Pa-ri, đuổi đựơc đội quân viễn chinh Mỹ  và chư hầu ra khỏi nước ta, mà ta vẫn duy tŕ củng cố hơn nửa (1/2) lực lượng của ta ở miền Nam làm cơ sở để phát triển tấn công, lơi dụng t́nh b́nh suy yếu của quân ngụp sau khi Mỹ rút đi để từng bước làm thay đổi so sánh (tương quan) lực lựơng về mọi mặt, tiến tới tiêu diệt và đánh đổ chúng."

Phần nhận định này đă kết luận nh­ sau:

Lực lương của ta là lực lựơng độc lập dân tộc của cả nước gắn liền với lực lương xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc, v́ vậy chưa bao giờ ta  có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lựợc to lớn thuận lơi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới ḅa b́nh thống nhất Tổ quốc giũa lúc phong trào ba nước Đông Dương đang trên đà tấn công mạnh mẽ dành thắng lơi ngày càng to lớn."

-phần thứ hai dài 12 trang nói về Quyết tâm Chiến lược: Bộ Chính trị hạ quyết tâm động viên những nỗ lực lớn nhất củaa toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện tương quan lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lơi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo
 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 95 đến trang 104

điều kiện chín mùi tiến hành tổng công kích, tổng khởi ngbiă, tiêu diệt và làm tan ră ngụy quân, đáng đổ ngụy quyền từ trung ư­ơng đến địa phư­ơng, dành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thực hiện một miền Nam Việt Nam ḅa b́nh, độc lập, dân chủ, trung lập, phồn vinh tiến tới thực hiện ḅa b́nh thống nhất nư­ớc nbà”.

-phần thứ ba dài 9 trang nói về việc nắm vững phư­ơng hư­ớng một số công tác lớn:

“'Kế hoạch chiến lư­ợc năm 1975 là thể hiện 3 đ̣n chiến lược: đ̣n chủ lực, đ̣n phá b́nh đinh và đ̣n đô thị, nhằm tạo điều kiện đầy đủ để tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

"Kế hoạch năm 1975 có ư nghĩa rất quan trọng là kế hoạch “bản lề”, chuyển nhanh tư­ơng quan lực lự­ơng có lơi cho ta, sẵn sàng nắm thời cơ và tạo điều kiện đầy đủ cho tổng khởi nghĩa.

Năm 1976: Khi đă có đủ điều kiện và thời cơ, ta phát động tổng công kíc, tổng khởi nghĩa, sử dụng toàn bộ lực l­ựơng của ta ở miền Nam, có kế hoạch sử dụng lực lự­ơng dự bị chiến lự­ợc ở miềnn Bắc, tập trung lực lự­ơng cao nhất, họp lư nhất ở hướng chủ yếu, tập trung ưu thế binh hỏa lực tiêu diệt từng sư­ đoàn ngụy, vây hám tập kích thành phố, làm tan rả chính quyền địa phương tiến đến thành lập chính quyền cách mạng ở trung ư­ơng. "

-phần thứ tư­ dài chỉ có 4 trang nói về Tập trung Chỉ đạo. Trong phần này, bản nghị quyết nói rằng "Bộ chính Trị cần có kế hoạch trực tiếp theo dơi t́nh h́nh  và chỉ đạo phối hợp các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, động viên nhân lực v.v. Bộ Chính Trị cũng theo dơi và chỉ đạo về tinh thần và tư­ ưt­ởng của tất cả cán bộ cũng như là tổ chức và sắp xếp cán bộ và sau cùng là lệnh cán phải tuyệt đổi giữ bí mật về kề hoạch này "

Bản nghị quyết này do chính Lê Duẩn kư nhân danh là bí Thư Thứ Nhất  thay mặt cho BỘ Chính Trị Đảng Lao Động Việt Nam. *53

Bản nghị quyết ngày 20 tháng 1 là một văn kiện vô cùng quan trọng của BỘ Chính Trị, lập tr­ường cứng rắn hơn so với bản nghị quyết ngày 8 tháng 1, tuy nhiên trong bản nghị quyết này, nhóm lănh đạo Hà Nội vẫn c̣n nhắc đến mục tiêu năm 1976 và có thể qua đến năm 1977 " Về xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang: chuẩn bị lực lượng cho năm 1975, năm 1976 và sẳn sàng cho cả năm 1977." Như vậy th́ vào thời gian đó, Hà Nội vẫn c̣n chưa có định tổng tấn công để chiếm trọn Miền Nam vào năm 1975.

Trận Ban Mê Thuột

Nắm chắc đ­ược yếu tố ngư­ời Mỹ sẽ bỏ rơi Miền Nam, Cộng sản Bắc Việt thi hành Chiến dịch 275 dư­ới quyền chỉ huy của Thượng Tư­ớng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mư­u Trư­ơng Bộ Tổng Tư­ Lệnh Quân Đội Nhân Dân vừa mới đư­ợc cử vào Miền Nam cùng với bộ tham mư­u gồm có Đinh Đức Thiện, Trần Ngọc Hiền v.v. mang bí danh là Đoàn A-75. Vào ngày 10 tháng 3 năm l975, Cộng sản tung năm s­ư đoàn 312, 316, 320, 341 và F-10 chính quy của Cộng sản Bắc Việt tấn công vào Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư­ Lệnh của Sư­ Đoàn 23 Bộ Binh của VNCH cùng với các đơn vị yểm trợ, tuy nhiên các trung đoàn chủ lực của sư đoàn này th́ đang trấn đóng chung quanh Pleiku.

Theo Đại Tư­ớng Cao Văn Viên th́ vào đầu năm 1975, Pḥng 2 T́nh báo của Quân Đoàn II có đủ ư­ớc tính về hoạt động và mục tiêu của địch vào giữa tháng 2 năm 1975, theo

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
*53 văn kiện Đảng : trang 32-70.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đó th́ có ít nhất là 5 sư­ đoàn chính quy của Cộng sản Bắc Việt đang hiện diện trong vùng chung quanh Ban Mê Thuột và Pleiku. Tuy nhiên các tin tức t́nh báo này tư­ờng tŕnh lên cho Quân Đoàn không đ­ược Thiếu Tư­ớng Phạm Văn Phú lưu tâm và cứu xét v́ trong thâm tâm th́ vị Tư­ Lệnh Quân Đoàn II cho rằng các hoạt động của Cộng sản chung quanh Ban Mê Thuột chỉ là chiến thuật nghi binh, Ban Mê Thuột chỉ là diện và Tư­ớng Phú nghĩ rằng Pleiku mới là điểm, Pleiku mới chính là mục tiêu của Cộng sản Bắc Việt. Với quan niệm như­ vậy, Tư­ớng Phú giao nhiệm vụ pḥng thủ Ban Mê Thuột cho một liên đoàn Biệt Động Quân cùng với các lực lư­ợng Địa Ph­ơng Quân và Nghĩa Quân mà phần lớn là ngư­ời Thượng.

            Theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́: "Đầu tháng 3 năm 1975, khi nhận được tin sư đoàn 320 của Bắc Việt đang di chuyển về hư­ớng Ban Mê Thuột, Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Pḥng 2 Quân Đoàn II đă khẩn cầu Tư­ớng Phú đưa toàn bộ 3 trung đoàn của S­ư đoàn 23 về pḥng thủ Ban Mê Thuột, như­ng vào phút chót nghe theo lời cố vấn của vị tư lệnh Sư đoàn 23 là Chuẩn T­ướng Lê Trung Tường, Tướng Phú mới ra lệnh chỉ cho một trung đoàn, Trung Đoàn 53, từ Pleiku về tăng cường phỏng  thủ cho Ban Mê Thuột.*54

Một nhân vật khác tại Vùng II là Trung Tá Ngô Văn Xuân có kể lại cho biết chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng biết rơ về dự định tấn công này của Cộng sản đúng một tháng trư­ớc ngày Ban Mê Thuột bị tấn công. Trung tá Xuân là Trung Đoàn Trử­ơng Trung Đoàn 44 thuộc Sư­ Đoàn 23 cho biết rằng " vào dịp Tết Ất Măo, ngày 11 tháng 2 năm 1975, nhân dịp  Tổng Thống Nguyễn Văn Thíệu viếng thăm các chiến sĩ ngoài mặt trận, tại Bộ chỉ huy hành quân của trung đoàn 44 trong căn cứ 801, Trung Tá Điều

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
*54 Nguyễn Kỳ Phong : sđd. Trang 122-123.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngọc Chuy, Trư­ởng Pḥng 2 Sư­ đoàn đă có tŕnh bày và nhấn mạnh đến việc khai thác một hàng binh Cộng sản là Thượng sĩ Sính thuộc Sư­ đoàn 320 của cộng sản Bắc việt, anh ta cho biết là Bắc Việt sẽ tấn công vào Ban Mê Thuột với 4 sư­ đoàn: Sư đoàn 320, 968, F10 và một sư­ đoàn không rơ danh hiệu (về sau th́ biết rơ đó là Sư­ đoàn 316) cùng với sự yểm trơ của 1 trung đoàn chiến xa, 2 trung đoàn pháo binh và 1 trung đoàn đặc công. "

Sau khi ngbe như­ vậy th́ TT Thiệu quay sang hỏi Tướg Phạm Văn Phú và Tướng Phú đáp rằng: "Có thể Cộng sản đưa ra kế trá bàng nhằm đánh lạc bhướng ta. " Theo Tướng Phú th́ Ban Mê Thuột chỉ là diện " c̣n Pleiku mới là "điểm " v́ Pleiku có cơ sở đầu năo, nếu địch tiêu diệt đ­ược th́ chúng sẽ dễ dàng chế ngự toàn thể vùng Cao nguyên .

Sau khi ngbe nư  vậy, TT Thiệu ra lệnh cho Tư­ớng Phú đư­a toàn bộ Sư­ đoàn 23 BB và 1 chi đoàn chiến xa M 48 về Ban Mê Thuột và hứa sẽ tăng cư­ờng cho Quân Đoàn II một liểu đoàn Biệt Động Quân. như­ng không hiểu v́ lư do ǵ mà măi cho đền ngày 1 7 tháng 2, Bộ Tư Lệnh Sư­ đoàn 23 mới thi hành lệnh của TT Thiệu: Bộ Tư lệnh Sư đoàn và Trung đoàn 45 sẽ di chuyển trư­ớc về Ban Mê Thuột, c̣n trung đoàn 44 th́ sẽ ở lại chờ bàn giao khu vực trách nhiệm cho Biệt Động Quân rồi sẽ rút sau. Vào khoảng 11 giờ ngày 18 tháng 2, trong lúc đoàn xe của Bộ Tư­ lệnh Sư­ đoàn tại Hàm Rồng sắp sửa di chuyển th́ Tướng T­ường đư­ợc: lệnh của Quân đoàn hủy bỏ kê hoạch tái phối trí. Đến 12 giờ trưa Tư­ớng Tư­ờng gọi điện thoại nói cho Trung Tá Xuân biết rằng Tướng Phú vẫn giữ nguyên lập luận cho rằng Ban Mê Thuột chỉ là “diện”,  Pleiku mới chính là “điểm " của các cuộc tấn công của Cộng sản." *55

Như­ vậy th́ cả hai nguồn tín này đều cho thấy Thiếu
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
*55 Hà Mai Việt: Thép và Máu, tác giả xuất bản, Texas, 2005, trang 172
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tướng Phạm Văn Phú đă mắc vào kế “nghi binh" của Cộng sản cho nên quá tin tư­ởng vào lập luận Ban Mê Thuột là diện, Pleiku mới là điểm cho nên khi Cộng sản tấn công th́ ta chỉ có một Trung đoàn 53 Bộ Binh pḥng thủ thành phố này.

Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Darlac có cho biết thêm rằng ông "đă nhiều lần xin tăng cư­ờng quân chính quy về pḥng thủ Darlac như­ng đến ngày 4 tháng 3 th́ Tướng Phú mới bằng ḷng cbo Trung đoàn 45BB về Ban Mê Thuột. Lệnh di chuyển đă đựơc ban hành, bai giờ chiều cùng ngày, toàn thể các đơn vị thuộc Trung Đoàn 45 đă lên xe chờ lệnh của Tướng Tường là chuyển bánh. Không ngờ nga lúc đó, Cộng quân PHáo kích vào thị xă Pleiku và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Tướng Phú đang ở Nha Trang đựơc báo cáo về vụ pháo kích này đă gọi cho Tư­ớng Tường và không ngần ngại hét lên trong máy: “tôi ra lệnh cho Trung Đoàn 45BB không di chuyển về Ban Mê Thuột nữa, ở lại Pleiku v́ mặt trận Pleiku dă bùng nổ rồi”

Đại Tá Luật cũng cho biết là vào ngày 9 tháng 3, một ngày tr­ước khi Cộng sản tấn công, Tư­ớng Phạm Văn Phú đă đến Ban Mê Thuột để duyệt xét t́nh h́nh. Khi Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư­ Lệnh Phó Sư­ đoàn 23 tŕnh bày về kế hoạch pḥng thủ Ban Mê Thuột với những đơn vị như­ trung tâm Huấn luyện Sư­ đoàn 23 Bộ Tư­ Lệnh Sư­ đoàn 23BB, Bộ Chỉ huy Chi Khu Ban Mê Thuột, hậu cứ của Thiết đoàn 3 Ky Binh, kho đạn Mai Hắc Đế và Trung đoàn 53 làm trừ bị đóng ở Phi trư­ờng Phụng Dực. Ông cho biết rằng “nghe xong, Tướng phú có vẻ bài ḷng, không chê trách cũng bông có chỉ thị đặc biệt nào."

Đại Tá Luật cho biết thêm là trung Đoàn 53 do Trung Tá Vơ Văn Ân chỉ huy lúc đó đóng ở phi tr­ường Phụng Dực tuy gọi là trung đoàn như­ng trên thực tế chỉ có bộ Chỉ huy tru­ng đoàn và một tiểu đoàn bộ binh cùng với sự yểm trợ của một trung đội pháo binh 105 ly mà thôi. Nư­ vậy th́ khi Cộng quân tấn công vào Ban Mê Thuộc, lực lư­ợng pḥng thủ thị xă này chỉ có một tiểu đoàn bộ binh đóng tại phi tr­ờng Phụng Dực tức là bên ngoài thành phố, một vài tiểu đoàn Địa ph­ơng quân và một số đơn vị tiếp vận và hành chánh, một số tân binh đang ở trong thời kỳ huấn luyện, với một lực lư­ợng èo uột như­ vậy, làm sao mà Ban

Mê Thuột lại có đủ khả năng chiến đấu chống lại sự tấn công của 5 sư­ đoàn Bắc Việt với sự yểm trợ của chiến xa và trọng pháo?

Không hiểu sau khi nghe tư­ờng tŕnh về sự pḥng thủ Ban Mê Thuộc, một thành phố quan trọng nhất tại Cao Nguyên với một lực lư­ợng như­ vậy, tại sao mà vị Tư­ Lệnh Quân Đoàn II lại có thể hài ḷng đ­ợc? *56

Theo tài liệu của Đại Tư­ớng Vơ Nguyên Giáp trong cuốn sách " Tổng hành Dinh Trong Mùa Xuân Toàn Thắng” th́ vào lúc đó Cộng sản Bắc Việt đang có 4 s­ư đoàn 10, 316, 320 và 968 cùng với 4 trung đoàn bộ binh 95A, 95b, 25 và 271 trong vùng Ban Mê Thuộc. Ngoài ra c̣n có 5 trung đoàn cao xạ pḥng không và pháo binh, một trung đoàn xe tăng, một trung đoàn đặc công, hai trung đoàn công binh, một trung đoàn truyền tin và các đơn vị hậu cần và vận tăi cùng với sự có mặt của Sư­ đoàn 3 thuộc Quân khu 5 của Cộng sản làm nghi binh. Bộ Tư­ lệnh của mặt trận này đ­ợc mang bí danh là A. 75 đ­ược đặt d­ới quyền chỉ huy trực tiếp của Th­ượng Tư­ớng Văn Tiến Dũng và hai tư­ớng lănh khác là Đinh Đức Thiện, em ruột của Lê Đức Thọ và Lê Ngọc Hiền. Trong cuốn "Đại thắng mùa Xuân," T­ướng Văn Tiến Dũng sau này cho biết vào đầu tháng 3 năm 1975, khi Quân ủy Hội của cộng sản Bắc Việt đang họp ở Hà Nội để thảo luận chi tiết về việc đánh Ban Mê Thuột th́ Lê Đức Thọ, Ủy

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
56 Hà Mai việt: sđd, trang 334-335
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Viên Bộ Chính Trị, đă bước vào pḥng họp và nghiêm khắc phê b́nh các cấp chỉ huy quân sự như sau: “Chún ta có 5 sư đoàn mà không đánh đựơc Ban Mê Thuột là thế nào?'

Ngoài nhũng đơn vị tác chiến nói trên, Cộng sản Bắc Việt c̣n có thêm một lực lư­ợng pháo binh vô cùng hung hậu để tham dự vào trận tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột. Trong cuốn sách pháo binh xuẩn 1975," Tướng Doăn Tuế, tư­ lệnh pháo binh của Bắc Việt cho biết rằng họ có hai trung đoàn pháo binh 675 và 40, thêm vào có c̣n có một trung đoàn pháo của Sư­ đoàn 316, một trung đoàn pháo của Sư­ đoàn 10, như vậy là tổng cộng tất cả là 4 trung đoàn pháo binh, quân số c̣n đông hơn cả một sư­ đoàn. Tướng Doăn Tuế cho biết rằng trong ba tiếng đồng hồ, từ 2 giờ rư­ỡi cho đến 5 giờ r­ỡi sáng ngày 10 tháng 3 năm l(975, khi Cộng sản mở màn cuộc tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột, pháo binh của họ đă bắn 500 viên đạn và sau đó từ 8 giờ r­ỡi sáng cho đến tối ngày 10 tháng 3 họ đă bắn thêm 5,000 viên đạn. T­ướng Cộng sản Doăn Tuế cho biết thêm rằng sau đó, cho đến khi họ hoàn toàn chiếm được Ban Mê Thuột, th́ pháo binh của họ c̣n bắn thêm 6000 viên đạn nữa và như vậy th́ thành phố Ban Mê Thuột nhỏ bé này đă lănh tất cả là trên 11 ,000 viên đạn đại bác của

Cộng sản trong ṿng một tuần lễ.

Tại vùng Kontum-Pleiku-Ban Mê Thuột thuộc Vùng II Chiến Thuật, về quân số th́ Việt Nam Cộng Hoà chỉ có 1 s­ư đoàn bộ binh với 3 trung đoàn bộ binh và 7 liên đoàn Biệt Động Quân, tổng cộng vào khoảng 10 trung đoàn, trong khi đó về phía Cộng sản th́ họ có 5 sư­ đoàn, mỗi s­ư đoàn có tới 4 trung đoàn, như­ vậy th́ tổng số lên đến 20 trung đoàn. Nếu cộng thêm với những đơn vị pháo binh, chiến xa, pḥng không và hậu cần khác, tất cả vào khoảng 15 trung đoàn nữa th́ tổng số lực lư­ợng của Cộng sản Bắc Việt trong cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột lên tới khoảng 35 trung đoàn.

Trong vùng Ban Mê Thuột, về phía Việt Nam Cộng Hoà chỉ có một trung đoàn " trừ ‘' v́ thực sự chỉ có 1 tiểu đoàn bộ binh, đó là Trung Đoàn 53 đóng tại phi trư­ờng Phụng Dực, một liên đoàn Biệt Động quân chừng vài ba tiểu đoàn đóng ở Buôn Hô, cách Ban Mê Thuột chừng hơn 30 cây số về hướng bắc cộng với một số đơn vị Địa Phương Quân và nghĩa Quân, một số các đơn vị yểm trợ như­ Quân Y, Quân Cụ, Quân vận, Quân Nhu, truyền ~in v.v. theo ước tính của ngư­ời Mỹ th́ tổng số binh sĩ trong các đơn vị tiếp vận không tác chiến này đ­ược chừng vào khoảng hai tiểu đoàn.

Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng "ngày 6 tháng 3, sau khii Cộng quân đánh chiếm Thuần Mẫn trên quốc lộ 14 và cắt dứt quốc lộ 21 ở bắc Khánh Dươg th́ Tướng Pbú mới bắt đầu nghĩ lại vấn đề. Tuy lo lắng về những biến chuyển, nhung Tư­ớng Phú vẫn chưa dứt khoát với những định kiện của ḿnh về mục tiêu thật của Cộng quân. Tướng Phú cho liên đoàn Biệt Động Quân đến Ban Mê Thuột không phải để bổ sung cho quân trú pḥng mà là để truy lùng và bảo vệ Buôn Hô, một địa điểm các Ban Mê Thuột khoảng 30 cây số về hư­ớng bắc. Đích thân tTướng Phú đến Ban Mê Thuột vào ngày 8 tháng 3 để thị sát vị trí pḥng hủ và kế hoach  ứng chiến của thành phố. Tướng Phú ra lệnh phân phối vũ khí chống chiến xa như súng M 72 và bỏa tiễn TOW. Để đề pḥng thêm, ông ra lệnl di chuyển sồ đạn dựơc trong kho ra nhiều nơi."*57

Như vậy th́ tỷ lệ quân tác chiến tại Ban Mê Thuột là khoảng 1 trung đoàn của Việt Nam Cộng Hoà phải chiến đấu chống lại một số quân Cộng sản Bắc Việt đông gấp 20 lần. Tuy nhiên, dù bị tấn công với một lực l­ợng quá hung hậu như­ vậy, Trung Đoàn 53 (trừ) cũng đă cầm cự và gây


-----------------------------------------------------------------------------------
*57 cao văn viên: sđd, trang 122-123.
---------------------------------------------------------------------------------------

tổn thất nặng nề cho các đơn vị cộng sản tại phi trường Phụng Dực khiến cho mũi tấn công vào khu vực nầ bị khựng lại, các tổ kháng cự khác như kho đạn tại trại Mai Hắcc Đế cũng đả anh dũng đẩy lui các cuộc tấn công của bộ binh và xe tăng Cộng Sản cho đến khi vị đại úy chỉ huy kho đạn nầy bị thương vào trưa ngáy 10 tháng 3. Bộ chỉ huy tiểu khu Ba Mê Thuột chống trả rất mănh liệt các cuộc tấn công bằng bộ binh và chiến xa của địch cho đến khi trung tâm hành quân bị đch5 phá hủy hoàn toàn và không c̣n lien lạc được với bên ngoài, do đó mà tiểu khu phải di tản sang bộ tư lệnh tiền phương của Sư Đoàn 23. Xe tăng và bộ binh của Cộng Sản Bắc Việt bao vây tứ bề bộ tư lệnh Sư Đoàn 23, tuy nhiên các chiến sĩ pḥng vệ đă chống trả vô cùng mănh liệt cho đến tối hôm đó. CS đă cho tăng viện thêm sư đoàn 316 nhằm tấn công đứt điểm bộ chỉ huy tiền phương Sư Đoàn 23, tuy nhiên, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 đă yêu cầu không Quân oanh tạc vào quân Bắc Việt sát ṿngd9ai pḥng thủ khiến cho nhiều chiến xa bị hủy diệt. Chẳng may một trái bom của ta rơi trúng ngay Bộ Chỉ Huy khiến cho tất cả hệ thống truyền tin bị tiêu hủy và Bộ Tư Lênh Quân Đoàn II cũng như các đơn vị không c̣n lien lạc được với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương và kể từ sang ngày 11 tháng 3 th́ Ban Mê Thuột bị xem như thất thủ. Đại Tá Vũ Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 và Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Darlac sau đó bị CS Bắc Việt bắt làm tù binh.

            Ngày 14 tháng 3, Trung Đoàn 45 và một tểu đoàn của Trung Đoàn 44 của Sư Đoàn 23 được trực thăng vận từ Pleiku xuống Phước An, một quân lỵ cách Ban mê Thuột chừng 30 cây số về huớng đông với mục đích giải tỏa cho Ban Mê Thuột. Tuy nhiên Phước An là nơi hang ngàn người tỵ nạn từ Ban Mê Thuột và các vùng phụ cận chạy về, hang ngàn binh sĩ thất lạc đơn vị cũng chạy vế tập trung tại đó khiến cho t́nh trạng trở nên thiếu trật tự và hỗn loạn. Ngày 18 tháng 10, Cộng sản tấn công và tràn ngập Phước An và sau đó th́ toàn tỉnh Darlac bị xem như­ là hoàn toàn rơi vào tay quân Cộng sản.

Nhận định về việc Ban Mê Thuột bị thất thủ, trong cuốn The Final Collapse, cựu Đại Tưởng Cao Văn Viên nói răng

“Ban Mê Thuột mất v́ chúng ta không đủ quân để pḥn  thủ khii dịch tấn công. Cộng quân không những có những ưu điểm bất ngờ về chiến thuật, họ có luôn thế thượng phong về quân số với 5 sư­ đoàn bộ binb và các trung đ̣an xe tăng và pháo binh yểm trợ.. Khi Cộng quân tấn công Ban Mê Thuột, chúng ta không đủ quân để cầm cự với quân của Trung đoàn 53 (trừ), Địa Phương Quân và Nghiă Quân, lực lượng đó không đủ để dối đầu với 3 sư đoàn Cộng sản Bắc Việt và các lực lượng thuộc. Kbi quân Đoàn II quyết định đem quân về giải vây Ban Mê Thuột th́ quá trễ: quân tăng viện đến từng toán nhỏ, đường tiến về Ban Mê Thuột hoàn toàn bị cô lập”* 58

Sau Phước Long, Darlac là tỉnh thứ nh́ của Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản Bắc Việt thôn tính, tuy nhiên về phía Hoa Kỳ th́ vẫn không hề có một sự phaản kháng chính thức nào trước những vi phạm nghiêm trọng đối với bản Hiệp Định Paris mà Bắc Việt đă kư kết với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà vào năm 1973.

Ngày 11 tháng 3 năm 1975, Hà Nội gửi một bức điện văn mang số 01/TK của “anh chiến" tức là Vơ Nguyên Giáp gửi cho "anh Tuấn" tức là Văn Tiến Dũng chuyển lời khen ngợi của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung ­Ương về việc chiếm được Ban Mê thuột và kèm theo một số chỉ thị như sau: “Cần phải có tinh hần khẩn trương và mạnh bạo, kịp


----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
58 cao văn viên: sđd. trang 121-123.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Từ trang 105 đến trang 114

Cuộc Tríệt Thoải Bi Thảm

           Ban Mê thuật bị chính thức xem nh­ là hoàn toàn thất thủ từ ngày 18 tháng 3, vào thời gian đó trong 4 vùng chiến thuật trên toàn quốc, chỉ có Vùng III th́ bị mất tỉnh Phư­ớc long vào đầu tháng Giêng năm 1975 và Vùng II th́

------------------------------------------------------------------------------------------------------------
59 văn kiện Đảng: trang 111-112
------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 

mới bị mất tỉnh Darlac, c̣n hai Vùng I và Vùng IV th́ c̣n ḥan toàn nguyên vẹn. Hỗn loạn chỉ xảy ra sau khi Quân Đoàn II tại Pleiku được lệnh di tản ra khỏi vùng Cao Nguyên Trung Phần, ngày nay được Cộng sản cải danh là vùng Tây Nguyên.

Người đă ra lệnh di tản Cao Nguyên là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, với tư­ cách là Tổng Tư­ Lệnh tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, tuy nhiên sau đó th́ lại có những nghi vấn, những điều bàn căi, tranh luận về vấn đề ai là ng­ười phải chịu trách nhiệm trong vụ thảm bại Ở Cao Nguyên. Trong số năm nhân vật tham dự phiên họp này tại Cam Ranh th́ Thiếu Tư­ớng Phạm Văn Phú đă tử tiết vào ngày 3O tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă từ trần vào cuối năm 2001, Đại Tư­ớng Trần Thiện Khiêm

và Trung Tớng Đặng Văn Quang không hề tuyên bố hay nói một điều ǵ một cách công khai, chỉ có Đại T­ớng Cao Văn Viên là người duy nhất có tiết lộ một vài điều trong cuốn The Fỉnal Collapse đ­ược xuất bản lần đầu tiên vào năm 1983.

Để t́m hiểu về vấn đề này, ngư­ời viết chỉ tham khảo một số tài liệu của một vài nhân vật về phía Việt Nam và của một cựu nhân viên t́nh báo cao cấp của CIA tại Sài G̣n. Những tài liệu này đư­ợc xem như­ là có giá trị và đáng tin cậy v́ họ là những nhân chứng sống đă có những lien hệ trực tiếp hay gián tiếp trong vụ di tản đầy bi thảm này. 

Frank Knepp của CIA:

            Frank Knepp là một phân tích gia t́nh báo chiến lược của cơ quan t́nh báo CIA tại Sài G̣n. Ông là phụ tá của Thomas Polgar, Giám Đốc Trú sứ của Văn Pḥng CA tại Việt Nam và cũng là người thân cận của Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin v́ ông là người đă soạn thảo những bản báo cáo về chính trị và quân sự cho ông đại sứ. Trong thời gian xảy ra vụ di tản Cao Nguyên th́ Frank Snepp là một trong những người ở ṭa đại sứ đă liên lạc trực tiếp với đại diện của các cơ quan và hội thiện nguyện Hoa Kỳ tại các tỉnh Vùng II để lo việc di tản cho họ v́ phía người Mỹ không hề được một thông báo nào của Việt Nam về quyết định di tản này.


 

Trong cuốn sách Decent Interval xuất bản vào năm 1977, Frank Snepp cho biết rằng vào ngày 14 tháng 3 năm 1975, rổng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă bay ra Cam Ranh chủ tọa một phiên họp đặc biệt về quân sự với các Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Trung t­ớng Đặng Văn Quang và Thiếu Tướng Phạm Văn Phú. Frank Snepp nói rằng tối hôm trước, ông Thiệu đă tham khảo với ông “thầy tử vỉ” của ông và Chuẩn Tướng người Úc hồi hưu Ted Sarong đang làm cố vấn cho ông về chiến lược quân sự, ngư­ời đă đề nghị với Tổng Thống Thiệu từ năm 1974 là nên triệt thoái ra khỏi những vùng “xôi đậu” và chỉ nên giữ những vùng duyên hải mà thôi. Trong khi ông thầy tử vi chỉ đưa ra những y’ kiến mơ hồ, Tướng Sarong cho ông Thiệu biết rằng đă quá trễ rồi, nếu bây giờ mới triệt thoái th́ không c̣n kịp nữa. Snepp nói rằng số phận của vùng Cao Nguyên và có lẽ số phận của cả miền Nam Việt Nam sau đó sẽ nằm trong tay của ông Thiệu. .

Theo Frank Snepp th́ Thiếu Tướng Phạm Văn Phú phúc tŕnh lên Tổng Thống Thiệu về t́nh h́nh tại Ban Mê Thuột, ông ta nói rằng ông ta bảo vệ được Cao Nguyên trong ṿng một tháng nếu Quân Đoàn II được tăng viện về quân số, vũ khí và yểm trợ của không quân. Nghe như vậy Tổng Thống Thiệu đă trả lời rằng "chính phủ sẽ chẳng có Cung cấp sự tăng viện nào về quân số cũng như là vũ khí chiến cụ ǵ cả. Quân đội đă phân tán quá mỏng một cách rất là nguy hiếm trên toàn quốc và các các kho vũ khí chiến  cụ th́ cần phải được giữ ở gần những nơi nào có thể đựơc bảo vệ một cách dễ dàng. Do đó mà không thể nào có khả năng dồn hết lực lượng cho Pleiku và Kontum. Giải pháp duy nhất là bỏ hai tỉnh này và dùng những lực lượng đó để tăng cường cho vùng duyên hải và yểm trợ cho cuộc phản công tái chiếm Ban Mê Thuột. "

Frank Snepp cbo biết rằng Tướng Phú ngồi nghe trong im lặng không có phản ứng ǵ. Có thể ông ta đă gật như có vẻ đồng y’ nhưng chỉ có vậy thôi. Ông ta không đặt câu hỏi nào cũng như là không phản đối lại

Thấy đă đặt đươc vấn đề chính, Tổng Thống Thiệu sau đó quay qua vấn đề kế tiếp vô cùng quan trọng, đó là con đường để triệt thoái. Dù rằng Quốc Lộ 19 từ Pleiku đến Quy Nhơn và Quốc LỘ 1 từ Ban Mê Thuột đi về lănh thổ Vùng III đều đă bị cộng sản cắt đứt, nh­ưng vẫn c̣n có hy vọng là đoàn quân triệt thoái có thể vươt qua được, vậy  Tướng Phú muốn sử dụng đường nào?"

Đến đây Đại Tướng Cao Văn Viên ngắt lời và cho biết rằng cả hai con đường này đều không đủ điều kiện để cbo một đoàn quân, như quân của Tướng Phú hiện đang có, s dụng để triệt thoái, như ­ vậy th́ chỉ c̣n lại Liên Tỉnh lộ 7B chạ  từ phiá nam Pleku qua tỉnh Phú Bổn về Tuy  Hoà. Đây chỉ là một con đường nhỏ lâu nay chỉ đựơc giới “xe be" tức là xe chở cây và gỗ sử dụng, tuy nhiên ta sẽ có được hai lợi điểm: thứ nhất là không có sự hiện diện của quân cộng sản mà ta đă biết và thứ hai là Cộng sản không thể ngờ đựơc rằng ta sẽ dùng con đường đó. Khi Tướng Cao Văn Viên hỏi Tướng Phú ông ta nghĩ như thế nào về sự chọn lựa này th́ vị Tư Lệnb Quân Đoàn II lại cũng chỉ gật đầu” *60

Như vậy th́ theo Frank Snepp, Tổng Thống Thiệu đă

------------------------------------------------------------

*60 Frank Snepp: Sđd. trang 193.
---------------------------------------------------------------------

ra lệnh triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum và một cách gián tiếp Tướng Cao Văn Viên đề cập đến con đường duy nhất c̣n có thể dùng được là liên tỉnh lộ 7B. Frank Snepp cũng như không có một người Mỹ nào khác đă tham dự phiên họp tại Cam Ranh này, tuy nhiên sự tường thuật của Frank Snepp có thể tin ­đưôïc v́ một trong 5 vị tướng lănh dự phiên họp này là người của quan t́nh báo CIA của Hoa Kỳ. Frank Snepp cho biết rằng: “Ngày hôm sau 15 tháng 3, Polgar có một cuộc tiếp xúc ngắn ngủi với Trung Tửớng Đặng Văn Quang, một "cộng tác viên tại Dinb Độc Lập (palace contact)*61. Trong một đoạn khác, Frank Snepp cho biết thêm rằng: “Cơ quan Tinh Báo CIA đă trả lương và nâng đỡ ông Quang trong bao nhiêu năm và đă bảo đảm giúp  cho ông ta có một địa vị (Phụ Tá Tổng Thống  về An ninh) bên cạnh ông Thiệu” *62

Hội nghị Cam Ranh xảy ra trước khi miền Nam rơi vào tay Bắc Việt hơn một tháng rư­ỡi và trong thời gian đó cơ quan t́nh báo CIA có rất nhiều th́ giờ để làm "debriefing" (rút ưu khuyết điểm) với những nhân viên địa phương (local contacts,) tức là những người Việt Nam làm việc cho họ, trong đó có cả những nhân vật cao cấp như là Tướng Quang, do đó mà những sự tường tŕnh của Frank Snepp có thể nói không phải là không có căn cứ và xa sự thật là bao nhiêu.

Phạm Huân, Tùy  viên của Tướng Phú:

Nhân vật thứ hai có nói về phiên họp tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975, tuy cũng có mặt tại Cam Ranh

---------------------------------------------------------------
61 Frank Snepp: Sđd. trang 196
62 Frank Snepp: Sđd.. trang 495
-----------------------------------------------------------------

nhưng không được tham dự cuộc họp, đó là Thiếu Tá Phạm Huấn, cựu tùy viên báo chí của Tướng Phú. Ông Phạm

Huấn cho biết rằng “Ngay sau khi phiên họp chấm dứt, Tướng Phú nói với tôi: “những quyết địnb trong buổi bọp vừa qua, tôi sẽ nói cho anh hay. Anh là người duy nhất (ngoài 5 vị tướng lănh trong buổi bọp) biết những điều đó v́ ngay cả vợ tôi tôi cũng không tiết lộ cho biết." Như vậy th́ theo ông Phạm Huấn, dù Tướng Phú đă tự vẫn nhưng trước  đó đă có kể lại những chi tiết về buổi họp này cho ông Phạm Huấn biết.

Trong cuốn sách Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975  xuất bản vào năm 1987, ông Phạm Huấn cho biết rằng ông đă được lệnh đi theo Tưởng Phạm Văn Phú từ Nha Trang vào Cam Ranh vào sáng ngày 14 tháng 3 năm 1975. Buổi họp được diễn ra tại “Toà Bạch Dinh" ở Cam Ranh, ngôi nhà do quân đội Hoa Kỳ xây cất để đón tiếp Tổng Thống Lyndon Johnson khi ông ghé Cam Ranh để thăm viếng và ủy lạo binh sĩ Hoa Kỳ vào năm 1966. Trong phiên họp này,

Tổng Thống Thiệu nói rằng:

“Tôi đă tham khảo y’ kiến với các ­tướng lănh hiện diện (Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang) trong quyế dịnh “tái phối trí” lại các lực lương chính quy QL VNCH để  pḥng thủ và chống trả hữu hiệu các cuộc tốn công khác của Cộng sản Bắc Việt trên bai chiến trường Quâ Kbu I Quân Kbu II. .

“ngừng một chút, Tứ­ơng Thiệu bỏi tướng Phú: '’Thiếu Tướng Phú, nếu anh được lệnh mang tất cả Chủ Lực Quân, chiến xa và pháo binh của Quân Đoàn II về pḥng  thủ và bảo vệ những tỉnh đông dân cư vùng duyên hải, anb sẽ tổ chức, điều động ra sao?”

Tuớng Phú h́nh như đă chờ đợi sẵn để trả lời c hỏi này của Tướng Thiệu:

-Thửa Tổng Thống, cho tôi được “tử thủ " Pleiku, giữ Cao nguyên.

“Tướng Thiệu cười nhạt:

-Tử thủ? Với quân số, đạn dược hiện có, liệu anh chiến đấu được bao nhiêu ngày  với Cộng Sản?

-Thưa Tổng Thống từ 40 đến 60 ngàỳ

-Rồi sao nữa?

            - Tôi sẽ chiến đấ đến cùng, cho đến khi không c̣n được  tiếp  tế súng đạn, lương thực nữa. "

“Tứớng Thiệu lấy diếu x́ gà thứ ba chấm hút rồi chậm răi nói:

-“Tôi ra lệnh cho anh mang chủ lực quân, chiến xa, đại bác, máy bay về pḥng thủ duyên hải và tổ chức hành quân tái chiếm Ban Mê Thuột. Lệnh này từ cấp tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng trở xuống không được biết. Có nghiă là các lực lượng Địa Phương Quân vẫn ở lại chiến đâú. Các cơ sở hành chánh 3 tỉnh Pleku, Kontum, Phú Bổn vẫn tiếp tục làm việc cùng với tỉnb trưởng, quận trưởng như thường lệ.

“ngừng một lát, Tướng Thiệu kéo một bơi thuốc thật dài. Mặt ông tự nhiên đanb lại nh́n vào các Tướng Khiêm, Viên rồi dơng dạc nói:

-Quyết định mang tất cả chủ lực quân, chiến xa, pháo binh, máy bay của Quân Đoàn II khỏi Pleiku, Kontum, tôi đă thảo luận với các tướng lănh. Đây là một quyết định chung của Hội Đồng Tướng Lănh, như quyết định bôm qua cho Tướng Trưởng ngoài Quân Đ̣anI.

- Thưa Tổng Thống, nếu Chủ Lực Quân , Thiết Gáp Pháo Binh rút đi, làm sao mà Địa phương Quân chống đỡ nổi khi Cộng sản đánh? Hơn 1OO,OOO dân bai tỉnh Pleiku, Kontum và gia đ́nh anb em binh sĩ?

-Th́ cho “thằng Cộng sản " số dân đó! Với t́nh h́nh nặng nề hiện tại, ḿnh phải lo pḥng thủ, giữ đựơc nhũng vùng dân cư đông đúc màu mỡ bơn là bị “kẹtt” quá nhiều quân trên vùng Cao Nguyên.”

Ông Phạm Huấn cho biết thêm rằng:
           
*13 giờ 03 phút ngày 14 tháng 3 năm 1975, lệnh triệt thoái Cao Nguyên coi như được hợp thức hóa và ban hành. Không một tướng lănh nào chống đối hoặc phát biểu thêm về lệnh nầy. Khi được Tướng Thiệu hỏi về Quốc Lộ 19 và Quốc lộ 21 để rút quân th́ Tướng Viên cho biết QL 19 và QL 21 coi như là không thể xử dụng được bởi v́ QL 14, khoảng giữa Pleiku-Ban Mê Thuột địch đă cắt. Lực lượng CS Bắc Việt hiện có 3 sư đoàn quân chính qui tại chiến trường Ban Mê Thuột. Đoàn quân triệt thoái sẽ không sẽ không thể nào thoát đi được để xử dụng để xử dụng QL 21 từ Ban Mê Thuột về Nha Trang.

"QL 19 nối liền Pleiku-Quy Nhơn, nếu lựa chọn, cũng khó thành công. Hai phía đông và tây deo An Khê đă bị cắt. Lực lượng CS Bắc Việt hiện có 3 sư đoàn quân chnh1 quy tại chiến trường Ban Mê Thuột. Đoàn quân triệ thoái sẽ không thể nào thoát đi được để xử dụng QL-21 từ Ban Mê Thuột về Nha Trang.

"QL-19 nối liên Pleiku-Quy Nhơn, nếu lựa chọn, cũng khó thành công.Hai phía đông và tây đèo An Khê đă bị cắt, địch quân "đóng chót" nhiều nơi. Trong cuộc ciến tranh giữa Pháp và Việt Nam trước đây, nhiều chiến đoàn lưu động Pháp bị đánh tan trê đeo nầy và không có một cuộc rút quân nào trên QL 19 thành công. Tướng Thiệu quay nh́n Tướng Phú đổi giọng thân mật:

-Thế nào Phú? Toa có ư kiến ǵ không?

Tướng Phú:

-Tŕnh Tổng Thống và quí vị tướng lănh, để giữ được yếu tố bất ngờ, tôi xin đề nghị chọn "đường số 7" để rút quân khỏi Cao N v́ trên trục lộ nầy không có chủ lực quân Bắc Việt.

Tướng Thiệu:

-Anh nói "đường Liên tỉnh  lộ số 7" nối liên Pleiku-Phú Bổn-Phú yên?

-Tŕnh Tổng Thống, đúng vậy!

-Đường liên tỉnh lộ số 7, h́nh như đă lâu không được xử dụng. Có nhiều cầu bị hư và ḿn, bẫy do các lực lưỡng Đồng Minh gài từ trước chưa được gỡ bỏ.

Tương Phú:

-Tŕnh Tổng Thống, ngay từ ngày đầu lên Quân Đoàn


 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 115 đến trang 124

thủ duyên bải và tái chiếm Ban Mê Thuột (?) V́ tính các vô cùng quan trọng của cuộc hành quân nàv và để giữ đựơc yếu tố bất ngờ với địch, anh chỉ cbo các tướng lănh, cấp hỉ huy dưới quyền được biết từng phần của lệnh này và ra lệnh tuyệt đối giữ bí mật với dân chúng.

“Tửớng Thiệu đứng dậy. Trước khi rời pḥng họp, ông bắt tay Tướng Pbú:

Cố gắng nghe Phú! Phải cbuẩn bị, tổ chức, tính toán hết sức cẩn thận “plan " thời gian cho thật đúng để giữ đựơc yếu tố bất ngờ. Nếu không, bị quân chính quy Cộng sản Bắc Việt kéo tới đánh, một người lính anh cũng không  mang ra được khỏi Cao Nguyênn.

            Tướng Pbú đứng nghiêm chào Tướng Thiệu:

-Xin tuân lệnb Tổng Thống . Tôi hiểu y’ Tổng Th ống dạy "

Phiên bọp lịch  sử về “quyết định Canh Ranh 14 tháng 3 năm l975” chấm dứt lúc 13 giờ 29. tổng cộng 11 7 phút!!!”

“Trong phần ghi chú, tác giả Phạm Huấn ghi rằng: “Quyết Địnb Cam Ranh 14-3-1975” đựơc viết qua tiết lộ của Tướng Phạm Văn Phú . " *63

Đại Tướng Cảo Văn Viên

Nhân vật thứ ba được xem như là một nhân chứng quan trọng nhất v́ ông là một trong 5 vị tướng lănh đă tham dự phiên họp tại Cam Ranh ngày l4 tháng 3 năm 1975, đó
--------------------------------------------------------------------

63 Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoát Cao nguyên l975. tác giả xuất bản, San Jose, 1987. Trang 84~89.
------------------------------------------------------------------------

Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Trong cuốn sách The Final Collapse, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng vào ngày 11 tháng 3 năm 1975 - một ngày sau khi Ban Mê Thuột bị tấn công Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă mời Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn về An Ninh Quốc gia và Đại Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đến ăn sáng tại Dinh Độc Lập.

Trong buổi họp này, sau khi đề cập đến t́nh h́nh nguy kịch trên đất nước, Tổng Thống Thiệu đă nói rằng: " Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chác chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lănh thổ chúng ta muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên “tái phối trí" lục lựơng và bảo vệ nhưng vùng đông dân, trù phú v́ những vùng đất đó mới thật sự quan trọng

“Quyết đinh của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết địnb ông đă suy xét thận trọng. H́nh như Tổng Thống Thiệu đă ngần ngại về quyết địnb đó và bấy giờ chỉ thổ lộ ra cho ba ngưới chúng tôi trong bữa ăn sáng TT Thiệu phác họa sơ những vùng  ông nghĩ là quan trọng, gồm Vùng III và IV miền duyên hải và thềm lục địa. Một vài vùngđất quan trọng đang bị Cộng sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắnng lấy lại bằng mọi giá. Những vùng đất cần chiếm lại là nơi đông dân, trù phú có giá trị về lâm sản, nông sản và kỷ nghệ, nhất là vùng duyên hải, nơi thềm lục địa vừa được khám phá ra dầu hỏa. Cuối cùng là vùng đất mà chúng ta không thể nào để mất là Sài G̣n, các tỉnh lân cận và đồng bằng sông Cửu Long."

Tướng Cao Văn Viên nói rằng " TT Thiệu b́nh thản tiếp tục độc toại về địa lư chính trị của miền Nam. Chỉ vào vùng Cao Nguyên Trung phần, TT Thiệu nói: Ban Mê Thuột quan trọng hơn bai tỉnh Pleiku và Kontum nhạp lại v́ tài nguyên và dân số của Ban Mê Thuột , “Như vậy, chỉ sau vài lời sơ khảo, TT Thiệu đă đi đến một quyết đinh quan trọng. Hậu quả của quyết đinh đó như thế nào th́ chưa biết đựơc nhưng nh́n về quan điểm quân sự, quyết định của TT Thiệu có nhiều vấn đề. Tướng Viên nói thêm rằng: cố vấn quân sự của Tổng thống tôi bắt buộc phải có y’ kiến  về quyết định của TT Thiệu. Tuy nhiên tôi tránh phát biểu ǵ thêm v́ tôi thấy TT Thiệu đă quyết định nên ông ta không  muốn nghe những y’ kiến trái ngựơc. Đă là tổng thống, ông Thiệu có thẩm quyền và trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến: ông ta phải biết ông đang làm ǵ."

Về phiên họp 3 ngày sau đó tại Cam Ranh, Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng sau khi Tướng Phú phúc tŕnh về t́nh h́nh quân sự tại Quân Khu II, “ Tổng Thống Thiệu Chỉ hỏi một câu quan trọng nhất: Tướng Phú có thể nào chiếm lại đựơc Ban Mê Thuột không? Câu trả lời của Tướng Phú không xác định mà cũng không phủ định, ông chỉ xin tổng thống Thiệu thêm quân tiếp viện. TT Thiệu quay  qua Tướng Viên: chúng ta c̣n bao nhiêu quâ trứ bị có thể cung cấp cho Tướng Phú? Tướng Viên nói rằng Hỏi nhưng chắc chắn TT Thiệu đă biết câu trả lời: bây giờ thật sự chúng ta không c̣n đơn vị trừ bị nào để tăng viện cho Tướng Phú. “

“Đến lựơt TT Thiệu phát biểu. Dứng trước tấm bản đồ miền Nam Việt Nam, trong khi Tướng Phú lắng ngbe chăm chú, TT Thiệu nói đến một chiến lựơc mới cần đựơc áp dụng . Dùng tay chỉ  rơ những vùng đất Tướng Phú cần phải giữ, ông nói Ban Mê Thuột quan trọng bơn Pleiku và Kontum nhập lại về phương diện kinh tế, dân số. Nhiệm vụ của Quân Đoàn II là tái phối trí các đơn vị cơ hữu của quân đoàn để chiếm lại Ban Mê Thuột. Và đó là lệnh của tổng thống. Sau đó TT Thiệu hỏi Tướng Pbú tái phối trí ra sao và dùng đường nào để đem quân trở lại Ban Mê Thuột?

Theo Tướng Phú th́ quốc lộ 19 đă bị cô lập. Quốc lộ 14 từ  Pleiku xuống Ban Mê Thuột cũng bị cô lập, do đó không tbể sử dụng đựơc .Quốc lộ 21 về Nha Trang. Tưóng Phú dự định sử dụng Liên tỉnh lộ 7B, một con dường phụ  tách khỏi quốc lộ 14 khoảng 32 cây số ở phía Nam Pleiku, chạy qua hướng đông nam qua Phú Bổn (Cheo Reo) về Tuy Hoà ở miền duyên hải. Liên tỉnh lộ 7B là một con đường nhỏ, lồi lơm, bị bỏ hoang từ lâu. Trừ một đoạn ngắn bắt đầu từ nhánh chẻ quốc lộ 14 về Hậu Bổn có thể sử dụng được, tất cả các đoạn dường c̣n lại không ai biết t́nh trạng như thế nào. Nhưng có hai chi tiết chúng ta biết chắc là cầu  bắc qua sông Ba phiá nam Cùng Sơn bị phá hủy không c̣n xử dụng được và  đoạn đường chót đi vào Tuy Hoà rất nguy  hiểm v́ quân dội Đại Hàn đă gài ḿn phong toả trong thời gian bọ pḥng ngự vùng nầy.

Tướng Phú nói yếu tố bất ngờ về chiến thuật là quan trọng và sự chọn lựa của ông đặt nặng vào yếu tố bất ngờ đó. Tướng Phú chỉ xin Bộ Tổng Tham Mưu cung cấp vật liệu tiền chế để làm cầu vựơt Sông Ba và Tướng Cao Văn Viên chấp thuận ngay yêu cầu đó của Tướng Phú." *64

Như vậy th́ người ra lệnh "tái phối trí các lực lựơng của Quân Đoàn II là  y' là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và theo ông Phạm Huấn cũng như là Đại Tướng Cao Văn Viên th́ người đề nghị sử dụng liên tỉnh lộ 7B để triệt thoái các đơn vị này là Thiếu Tướng Phạm Vàn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II chứ không phải là Đại Tướng Viên như là Frank Snepp đă nói.

Hai ngày sau cuộc họp tại Cam Ranh, vào ngày 16 tháng 3 th́ các đơn vị của Quân Đoàn II bắt đầu rút ra khỏi Pleiku và trong hai ngày đầu tiên th́ không gặp trở ngại ǵ . Đến ngày 18 tháng 3 khi đoàn quân đến Hậu Bổn, tỉnh
-----------------------------------------------------------------------
64 Cao Văn Viên: sđd., trang 129-142
-----------------------------------------------------------------------

Phú Bổn, th́ bị Việt Cộng pháo kích và tấn công vào đoàn người và đoàn xe đang bị kẹt. Quân lính và thường dân bị chết và bị thương nằm la liệt, một số binh sĩ người Thượng thuộc địa Phương quân và Nghĩa quân đào ngũ, cướp giật khiến cho t́nh h́nh chung quanh Hậu Bổn hoàn toàn náo loạn, không c̣n trật tự ǵ nữa. Trong khi đó cây cầu qua Sông Ba vẫn chưa được hoàn tất khiến cho đoàn người bị mắc nghẽn và Cộng Sản Bắc Việt đă ra lệnh cho hai sư đoàn 320 và 968 liên tục tấn công và pháo kích vào đoàn quân và dân chúng, do đó con số thương vong lại càng gia tăng gấp bội. Ngày 22 tháng 3 cây cầu Sông Ba được ráp xong nhưng v́ xe và người tràn lên cầu quá đông khiến cho cầu sập Phải mất thêm một thời gian nữa để sửa cầu và cho đến ngày 27 tháng 3 th́ đoàn người này mới về đến Tuy Hoà vào khoảng 9 giờ đêm.

Theo Đại Tứơng Cao Văn Viên th́ "nh́n từ quan điểm quân sự, cuộc triệt thoái hoàn toàn thất bại, hầu như tấtcả các đơn vị rút về Kontum-Pleiku đều bị thất bại. Theo Đại Tá Lê Khắc Lư,  Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, chỉ có 5 ngàn quân trong số 20 ngàn quân nhân trong các đơn vị yểm trợ, tiếp vận về được Tuy Hoà. Chỉ có 900 người trong số 5 liên đoàn Biệt Động Quân về tŕnh diện ở Nba Trang. Trong số 200,000 dân chúng hai tỉnh Pleiku và Kontum di tản, chỉ có khoảng 60,OOO người về đựơc Tuy Hoà và Nba Trang.

            “'Cuộc triệt thoái Cao Nguyên là một thất bại chiến  lựơc về phương diện quân sự: 75 phần trăm lực lương của Quân Đoàn II gồm Sư  Đoàn 23, Biệt Động Quân, Thiết Kỵ, Pháo Binh, Truyề Tin và Công binh bị tiêu diệt chỉ trong ṿng có 10 ngày. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê thuộT cũng thất bại v́ quân đoàn không c̣n quân. Cộng sản chiếm được Kontum và Pleiku mà không tốn một viên đạn. Với chiến thắng này, 3 sư đoàn F10, 316 và 320 càng phấn khởi đánh mạnh bơn. Đến lúc đó, cộng sản biết rơ Quân Đoàn II chỉ c̣n có Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù là lực lựơng cuối cùng ngăn cản bước tiến của họ ở Khánh Dương.”

               Tướng Viên nói thêm rằng "Sự tan ră của quân đội chúng ta ở Vùng II là một ác mộng cho quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà về phương diện tâm ly' và chính trị. Trong thâm tâm, mọi người cảm thấy nghi ngờ, lo lắng, trách móc và đổ lỗi cho nbau về sự thất bại. Lời đồn đại về việc nhường đất cho Cộng sản đựơc loan truyền ra và một làn sóng người t́m mọi cách rời Vùng II t́m về vùng đất chưa bị Cộng sản chiếm đóng. Vùng I ở hướng bắc cũng bị ảnh hưởng từ những chấn động đó. Dân chúng rồi lính thất lạc hay bỏ ngũ ùn ùn kéo nbau về hứơng Nam. Họ đến Phan Rang, rồi Phan Thiết, rồi từ đó về Sài g̣n. *65

Một số sĩ quan cao cấp thuộc Quân Đoàn II c̣n sống sót sau trận Ban Mê Thuột và cuộc di tản bi thảm này cũng đă chỉ trích Tướng Phạm Văn Phú về cuộc hành quân triệt thoái đó về tổ chức cũng như là hệ thống chỉ huy Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Ban Mê thuột nói rằng Tướng Phú đă bị lừa để mất Ban Mê Thuột v́ không biết địch sẽ tấn công ở đâu và nếu ông biết đọc truyện " Tàu' đời xưa th́ đă biết được trận đánh giữa Hàn Tín với Hạng Vơ.

Đại Tá Nguyễn Văn Đồng, T­ lệnh Lữ đoàn 2 Kỵ Binh là người đă di tản trên quốc lộ 7B và ông gay gắt chỉ trích đích danh Tướng Phạm Văn Phú đă “nằm trong pḥng lạnh ở Nha Trang mà chỉ huy một quân đoàn lối 100 000 tay sung đang bị bao vây tại Phú Bổn." Đại Tá Đồng nói rằng:  Suốt 4 ngày đạn rơi  máu chảy ở Cheo Reo Phú Bổn, tôi, Đại tá Nguyên Văn Đồng, Tư lệnh Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh đang cùng với các chiến sĩ của Tây Nguyên và Liên đoàn 4 Biệt Động Quân từ Cần Thơ ra tăng cườg, nhưng tuyệt đối tôi không thấy hoặc nghe một tiếng nói nào của Bộ Tư Lệnh Quân

---------------------------------------------------------------------
65 Cao Văn Viên: sđd, trang 153-155.
-----------------------------------------------------------------------

Đoàn II  kcả Thiếu Tứớng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân đoàn. tôi không nhận đựơc một lệnh hành quân, không có một phóng đồ hành quân, không có phụ bản tổ chức lực lựơng, không có tin tức t́nh báo, không có kế hoạch yểm trơ, không có quân trừ bị .Quân đoàn II chỉ áp dụng luật rừng, vô tổ chức, vô kỷ luật, không dự trù, không tính toán, không bọp bàn, không t́m đường lối hành động tốt nhất để điều quân. Tất phải đi đến chỗ thảm bại ê chề, nhục nbă."”*66

Có lẽ Đại Tướng Cao Văn Viên cũng có nhận xét không có ǵ trái ngược lắm với những ư kiến của Đại Tá Nguyễn Văn Đồng. Trong phần nói về Ban Mê Thuột, Đại Tướng Cao Văn Viên dường như đă nói một cách khéo léo ám chỉ rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột đưa đến việc mất cả Vùng II và Quân Đoàn II bắt nguồn từ việc thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn bởi Thiếu Tướng Phạm Văn Phú. Tướng Cao Văn Viên nói rằng:

“Thiếu Tướng Phạm Văn Phú về tay Trung Tướng Nguyên Văn Toàn làm Tư lệnh Vùng II/ Quân Khu II vào tháng 12 năm 1974. Thiếu Tướng Phú từng giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở Vùng I từ tháng 10 năm 1970 cho đến tháng 7 năm 1972. Từ năm 1972 cbo đến khi nhận nhiêm vụ mới, Tướng Phú chỉ huy Trung tâm huấn luyện Quang Trung.

         "Phó Tổng Thống Trần Văn  Hương đề nghị thay Tướng Toàn v́ Tướng Toàn bị tố cáo tham nhũng. Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm Tướng Phú theo sự khẩn nài của Phó Tổng Thống Hương dù giết rằng Tướng Toàn là một sĩ quan có khả năng tác chiến . Tướng Toàn rời Vùng II về chỉ huy Thiết Giáp vào tháng 2 năm 1975 và sau khi Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chưc Tư lệnh Vùng III th́ Tướng Toàn đựơc bổ nhiệm vào luôn chức vụ đó. Sự thay đổi chức vụ tư lệnh Vùng II/

--------------------------------------------------------------------
*66 Hà Mai Việt: sđđ. Trang 342-347.
-----------------------------------------------------------------------

Khu II là một trong những biến cố đưa đến sự thất thủ Ban Mê Thuột và một thời gian ngắn sau, một cả Vùng II. *67

Tuy ông Cao Văn Viên không nói rơ nhưng ai cũng có thể hiểu rằng khi ông viết cuốn The Final Collapse tại Hoa Kỳ sau năm 1975 th́ đoạn văn trên đây cho thấy ư của ông muốn nói: chính Tướng Phạm Văn Phú là người chịu trách nhiệm về vụ thất thủ vùng II để sau đó Vùng I cũng thất thủ theo trong ṿng tháng 3 năm 1975 và một tháng sau đó là cả miền Nam bị rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt.

Đại úy Nguyễn Văn Nhựt, cựu sĩ quan tùy viên của Tổng Thống Trần Văn Hương có tiết lộ cho người viết biết rằng hồi cuối tháng 4 năm 1975, Thiếu Tường Phạm Văn Phú có gửi lên Cụ Hương một lá thư­ " rất dày” nhưng Cụ Hương không mở ra đọc và ra lệnh cất lá thư đó vào tủ sắt. Trước khi cụ Hương từ chức để “trao quyền" lại cho Dương Văn Minh, Đại úy Nhựt có nhắc với cụ Hương về lá thư của Tướng Phú th́ cụ Hương ra lệnh đem đốt đi. Đại úy Nhựt hỏi cụ Hương tại sao trước khi đốt Cụ không mở ra đọc để cho biết Tướng Phú nói ǵ th́ cụ Hương nghiêm giọng nói rằng: “Tướng Phạm Văn Phú đang bị điều tra về tội đă có trách nhiệm trong việc Quân Đoàn II tan ră, cuộc điều tra chưa kết thúc do đó nếu Tướng Phú cần nói điều ǵ th́ nên nói thẳng với Ủy Ban Điều Tra chứ một người đang giữ vai tṛ lănh đạo đất nước như cụ th́ không nên nghe hay đọc những ǵ mà ông ta viết." Đại úy Nhựt cho biết vào ngày cuối cùng, chính ông đă đốt lá thư đó trước mặt cụ Hương.

Tưởng cũng nên nhắc lại chính Thủ Tướng Trần Văn Hương là người đă đề nghị, đă yêu cầu gần như "ép" Tổng Thống Thiệu thăng Đại Tá Phạm Văn Phú lên chuẩn tướng khi ông đang giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu 44 vào năm 1969 sau trận Tà Nu. Ông Thiệu không hề dự định thăng tướng

----------------------------------------------------------------------
67 cao văn viên: sđd., trang 1 14.
--------------------------------------------------------------------

cho Đại Tá Phú vào dịp đó nên không có sẵn sao, nhưng v́ nể Thủ Tướng trần Văn Hương nên ông đă lấy hai sao trên cổ áo của Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi để gắn cho ông Phú.

Nhận xét về cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân Đoàn II VNCH, tướng Việt Cộng Trần Văn Trà nói rằng: " như trên kia tôi đă ví như cây bị đón từ gốc, Ban Mê Thuột mất th́ toàn bộ Tây Nguyên không thể nào giữ được. Thiệu không ra lệnh rút bỏ ngay hai tỉnh Pleiku và Kontum, mong lấy quân về gíữ các tỉnh ven biển th́ không lâu đâu, hai tỉnh ấy cũng sẽ bị mất trôi."

Vùng I Tan Ră

Sau khi Tướng Phú nhận được lệnh di tản Quân Đoàn II ra khỏi vùng Cao Nguyên th́ giới lănh đạo Bắc Việt thấy rằng đây là một cơ hội mà Trần Văn Trà gọi là “ngh́n năm có một” v́ thấy rằng như vậy là họ đă chiếm được trọn vùng này, từ đó đánh thọc xuống vùng duyên hải để cô lập vùng I ở miền Trung.

Ngày 15 tháng 3,  “anb Chiến” Vơ Nguyên Giáp lại gửi cho “anb Tuấn " Văn Tiến Dũng bức diện văn số 11-ĐB nói rằng đă hội ư với Lê Duẩn và Lê Đức Thọ và chỉ thị cho Văn Tiến Dũng phải tập trung lực lượng đầy đủ trong vùng Ban Mê Thuột để đề pḥng VNCH tái chiếm tỉnh này, đồng thời ra lệnh chuyển lên tiêu diệt địch ở Cheo Reo và bao vây Pleiku. Vào thời gian đó Hà Nội chưa biết được Quân Đoàn II đang sắp sửa triệt thoái ra khỏi thành phố nầy. Ngoài ra, trong bức điện văn này, Vơ Nguyên Giáp cũng cho biết sẽ ra lệnh cho bộ đội Trị-Thiên tăng cường hoạt động. *68

----------------------------------------------------------------------
*68 văn kiện Đảng: trang 146.
----------------------------------------------------------------------

Tại vùng địa đầu giới tuyến, ngày 8 tháng 2 năm 1975, Lê Đức Thọ thay mặt cho Bộ Chính Trị đă kư nghị quyết số 2328-NQ-NS/TW cho thành lập Đảng Ủy Mặt Trận Trị-Thiên với Lê Tự Đồng làm bí thư và 10 ủy viên để lănh đạo mặt trận Trị-Thiên.

Ngày 10 tháng 2, Vơ Nguyên Giáp đại diện cho Quân ủy trung ương lại gửi thêm điện lăn số 727 nói về nhiệm vụ của Quân khu Trị-Thiên và Quân đoàn 2. Trong phần nói về nhiệm vụ, Quân ủy chỉ thị Quân khu Trị-thiên phải chuẩn bị cắt ngang quốc lộ số 1 giữa Huế và Đà Nẵng tại khu vực đèo Hải Vân và đặc biệt là tiên liệu trường hợp VNCH có thể bỏ Huế để rút về Đà Nẵng. Ngoài ra trong bức điện văn nạy, Quân ủy trung ương đă chỉ thị cho Quân khu Trị-Thiên: “luôn luôn có lực lựơng dự bị để vừa tranh thủ rèn luyện nâng cao sức chiến dấu, vừa sẵn sàng nắm thời cơ phát triển thuận lợi. Ngày nổ súng chậm nhất là ngày 5 tháng 3 năm 1975

"Trong đợt 2, vào mùa thu, tháng 7 và 8 năm 1975 chiến trường Trị -Thiên và chiến trường khu V có điều kiện đánh lớn.*69

Ngày 5 tháng 3 đă qua đi nhưng vẫn không có biến chuyển ǵ trên chiến trường Trị-Thiên, tuy nhiên khi Quân Đoàn II bắt đầu cuộc di tản th́ Hà Nội liền cướp thời cơ, ra lệnh cho Đảng ủy Trị-Thiên mở cuộc tấn công hai tỉnh địa đầu giới tuyến. Ngày 17 tháng 2 năm 1975, Quân ủy trung ương đă gửi điện văn mang số 860 do Vơ Nguyên Giáp kư gửi cho Thường Vụ và Quân Khu B4 (Trị-Thiên) và Thường vụ Đảng ủy B5 (Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên v.v. ) để "chỉ dạo Trị-Thiên khẩn trương đẩy


***
từ trang 125 đến trang 134

mạnh hoạt động mọi mặt."

Điện văn này nói rằng " Ta thắng to, t́nh h́nh phát triển nhanh và thơi cơ lớn đang đến sớm hơn ta dự kiến, Quân Ủy Trung Ương ra  lệnh Trị Thiên đẩy mạnh tấn công để chia cắt chiến lược giữa Huế-Đà Nẵng, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân ở vùng ven Huế, đẩy mạnh binh vận .v.v.”*70

Vào đầu tháng 3 năm l975, t́nh h́nh tại Vùng I tương đối chưa có ǵ trầm trọng v́ vùng này đang đ­ược bảo vệ bởi một lực lượng trên 5 sư đoàn: Sư đoàn 1 Bộ Binh, Sư đoàn Nhảy Dù và Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến chiệu trách nhiệm pḥng thủ từ Huế ra Quảng Trị, tại vùng Quảng Nam-Đa Nẵng và Quảng Ngăi Quảng Tín có hai sư đoàn 23 Bộ Binh cùng với 2 lừ đoàn Thủy Quân tục chiến, 4 liên Liêàn Biệt Động Quân và 1 lữ đoàn thiết ky. Về phía Cộng sản, có các sư đoàn 341, 325C, 324B, 711 và nhiều trung đoàn độc lập như­ trung đoàn 52, 4, 5, 6, 27, 31, 48, 51, 270 và 271 cùng với 3 trung đoàn đặc công 4, 5, 126, ba trung đoàn xe tăng 202, 203 và 573 thêm vào đó c̣n có 12 trung đoàn cao xạ pḥng không và 8 trung đoàn pháo binh. Như vậy, về quân số th́ cán cân lực lượng đă nghiêng về phía Bắc Việt, nhưng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I rất lạc quan v́ ông tin tưởng rằng các đơn vị của ông có đủ khả năng để đương đầu với quân Cộng sản.

Tuy nhiên t́nh h́nh thay đổi rất bất ngờ sau khi Cộng sản chiếm Ban Mê Thuột: v́ Bộ Tổng Tham Mưu không c̣n quân trừ bị, Tổng Thống Thiệu ra lệnh rút Sư­ Đoàn Nhảy Dù từ Vùng I về Sài c̣n. Ngày l3 tháng 3 Trung Tướng Trưởng về Sài G̣n tham dự một phiên họp tại Dinh Độc Lập dưới sự chủ tọa của TT Thiệu và sự hiện diện của Thủ

-------------------------------------------------------------------
*7o Văn kiện Đảng: trang 148.
----------------------------------------------------------------------

Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Đặng Văn Quang và Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư Lệnh Vùng III.

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́ trong phiên họp này, “TT Thiệu đă phân tích t́nh h́nh chung và những khó khăn của VNCH trong vấn đề quân viện. TT Thiệu thú nhận ông không tin Hoa Kỳ sẽ can thiệp dù cho Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào miến Nam. Ông tỏ y’  thông cảm về t́nh trạng thiếu thốn, khó khăn ở các quân đoàn. Ông cho biết trong thời gian gần đây ông ban nhiều quân lệnh nhưng ông cũng biết là các tư lệnh gặp nhiều khó khăn khi thi hành

“TT Thiệu tuyên bố rằng trong hoàn cảnh nầy, quân đội Đang trong hoàn ảnh này quân đội không làm ǵ khác hơn là thay đổi chiến lược, tái phối trí lực lự­ơng để giữ các vùng đất đai đa phi nhiêu  có nbiều tài nguyên. Nếu chúng ta phải bỏ một số rừng núi cho Cộng sản để giữ lại những vùng màu mỡ, nhiều khoáng sản gồm có thềm lục địa th́ chúng ta cũng phải chấp nhận. Thà vậy c̣n hơn phải đứng chung một chính phủ liên hiệp với Cộng sản. Vùng đất mà TT Thiệu nói  đến là Đà Nẵng.

“Về vấn đề tái phối trí quân - chuyện này tủ tự TT Thiệu nghĩ ra  một ḿnh, chưa hề tiết lộ trong một buổi bọp nào – Sư Đoàn Nbảy Dù sẽ rời Vùng I, kế đó là Sư  Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nếu t́nh b́nh pḥng thủ của Vùng I bông bị ảnh hưởng khi hai đợn vị trên rút đi. Rút hai đơn vị trên ra khỏi Vùng I sẽ cho phép quân đội tái lập các lực lượng tổng trừ bị.

Cùng với việc rút quân khỏi Vùng I, TT Thiệu cũng cho phép Trung Tướng Toàn rút quân ra khỏi An Lộc và sử dụng lực lư­ơng đó vào những kế hoạc pḥng thủ nơi nào cần nhất Ở Vùng III."

Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết thêm là 6 ngày sau, 19 tháng 3 Dinh Độc Lập lại gọi Tướng Trưởng về họp thêm lần nữa với thành phần nh­ lần trước, tuy nhiên lần này c̣n có thêm sự hiện diện của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Tướng Trưởng tŕnh bày hai kế hoạch rút quân:

1/ Sử dụng Quốc lộ 1 làm trục chính  và cùng lúc rút

quân từ Huế về Đà Nẵng và từ  Cbu Lai về Đà Nẵng.

2/ Giả định Cộng quân cắt đứt quốc lộ 1, trong trường hợp đó ta sẽ rút về 3 cú điểm Chu Lai, Huề và Đà Nẵng, tuy nhiên Chu Lai và Huế chỉ là những nơi tập trung quân, từ đó dùng phương tiện Hải quân về Đà Nẵng. Đà Nẵng sẽ là điểm pḥng thủ chính với 4 sư đoàn bộ binh và 4 liên đoàn Biệt Động Quân.

Trong hai kế hoạch này th́ kế hoạch 1 gặp  nhiều khó khăn v́ Cộng sản gia tăng hoạt động đóng chốt quốc lộ 1 và làn sỏng dân tỵ nạn cũng ùn ùn chạy về Đà Nẵng, quân đội khó bề di chuyển. Do đó, theo Tướng Trưởng th́ chỉ c̣n một sựchọn lựa, đó là kế hoạch 2 và chúng ta phải thi hành trước khi quá trễ.

Sau đó Tướng Trưởng cũng hỏi thẳng TT Thiệu về tin đồn ông muốn đ­a S­ư đoàn Thủy Quân Lục Chiến về Vùng III ông muốn biết y’ định của TT Thiệu v́ nếu đó là sụ thật th́ kế hoạch của ông sẽ bị ảnh hưởng.

TT Thiệu ở trong t́nh trong t́nh trạng kho xử v́ ông là người ra lệnh di tản và cuộc di tản ở Cao Nguyên là một  thất bại, gây nao núng cho tinh thần quân đội v́ cũng có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch khác. Do đó ông không nhắc ǵ đến chuyện di tản mà chỉ ra lệnh cho Tưuo71ng Trưởng giữ những phần đất nào ông c̣n có thể giữ được với số quân dưới tay ông, kể cả S­ư đoàn Thủy Quân Lục Chiến..

Sau khi tránh trả lời câu hỏi của Tướng Trưởng, TT  Thiệu ra lệnh cbo Trung Tứơng Quang soạn cho ông một bài diễn văn để ông đọc trên đài phát thanh cho toàn dân biết y’ định của ông: ông muốn trấn an dân chúng, cho bọ biết là chính phủ VNCH sẽ bảo vệ Huế đến cùng. TT Thiệu không nhắc ǵ đến vấn đề dân tỵ nạn hay di tản. Ông và Thủ Tướng Khiêm không đá động ǵ đến vấn đề của Tướng Trưởng đặt ra về tỵ nạn. *71

Tuy nhiên theo tin của người Mỹ th́ Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm sau đó đă nói riêng cho Trung Tướng Trưởng biết rằng quả thực có kế hoạch rút sư­ đoàn Thủy Quân Lục Chiến về Sài G̣n.*72

Khi Tướng Trưởng về đến Đà Nẵng vào lúc 6 giờ chiều ngày 19 tháng 3 th́ Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư­ Lệnh Phó Quân Đoàn I báo cáo cho ông biết là Bộ Tư­ Lệnh Tiền Phương của ông tại Huế đang bị Cộng quân pháo kích và quân Cộng sản đă tiến qua sông Thạch Hăn mở các cuộc tấn công vào các đơn vị ở Quảng Trị.

Vào ngày 17 tháng 3, vốn là những người đă có quá nhiều kinh nghiệm với Cộng sản trong những ngày đầy chết chóc năm Mậu Thân, với sự pháo kích vô nhân đạo vào người thường dân chạy loạn trên "Đại Lộ Kinh hoàng” trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, khi đoán biết Việt Cộng sắp sửa mở cuộc tổng tấn công, người dân Quảng Trị đă ùn ùn chạy vào Huế và Đà Nẵng khiến cho sự lưu thông trên quốc lộ số 1 bị kẹt và gây ra hỗn loạn tại nhiều nơi.

Ngày 19 tháng 3 Thường Vụ trung ­Ương Cục gửi điện văn TVFRO số 295/TV ngày 19 tháng 3 gửi các T (các tỉnh,) và P.10 (Sai g̣n-Gia Định) thông báo việc "địch đă bỏ chạy ra khỏi Quảng Trị tất cả các ty sở toàn tỉnh Quảng Trị chuyển cả về Huế. Quảng Trị nay đă trở thành thành “thành phố bỏ ngỏ”, bầu hết dân chúng ở Quảng Trị cbạy về Đà Nẵng và Huế. 40 phần trăm công chức Huế chạy vào Đà Nẵng và Sài G̣n. Dân t́nh Huế hoang mang và cũng chạy vào Đà

------------------------------------------------------------------------
*71 Cao Văn Viên: sđd. Trang 161-164.
*72 The Fall of the South: trang 69.
--------------------------------------------------------------------

Nẵng và Sài g̣n.*73

Tỉnh Quảng Trị rơi vào tay Cộng sản vào ngày 19 tháng 3 sau đó Quân Đoàn I ra lệnh cho các đơn vị thuộc Sư­ đoàn 1, Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân rút về lập tuyến pḥng thủ ở sông Mỹ Chánh, cách thành phố Huế chừng 10 cây số về phía bắc. Sáng ngày 20 tháng 3 Tướng Trưởng bay ra bộ chỉ huy của lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến và đă chủ tọa một phiên họp với các cấp chỉ huy chiến tr­ờng để bàn về kế hoạch pḥng thủ Huế như TT Thiệu đă ra lệnh phải giữ bằng mọi giá. Vào giờ phút đó, nói chung th́ tuy Quàng Trị bị thất thủ nhưng t́nh h́nh ở Huế vẫn chưa có ǵ quá bi quan và tinh thần quân sĩ cũng rất cao, nhất là sau khi Tổng Thống Thiệu đọc hiệu triệu vào lúc 1 giờ 30 ngày 20 tháng 3 trên đài phát thanh: Ông nhấn mạnh đến lệnh tử thử Huế bằng mọi giá.

Theo Tướng Cao Văn Viên th́ khi Tướng Trưởng trở về Đà Nẵng vào buổi chiều ngày hôm đó th́ ông nhận được một quân lệnh mật của Dinh Độc Lập gửi khẩn cấp qua Bộ Tổng Tham Mưu: TT Thiệu ra lệnh cho Tướng Trưởng là nếu t́nh h́nh bắt buộc th́ chỉ cần bảo vệ Đà Nẵng mà thôi. TT Thiệu lư luận rằng Quân Đoàn I không đủ quân để bảo vệ ba cứ điểm Chu Lai, Huế và Đà Nẵng cùng một lúc. Cũng trong lệnh này, TT Thiệu ra lệnh Sư­ đoàn Nhảy Dù phải về Sài G̣n ngay lập tức và ngay trong đêm đó, s­ư đoàn Dù lên đường về Sài G̣n.

Theo nguồn tin của Mỹ, cũng trong ngày 20 tháng 3 căn cứ vào những tin tức mà gián điệp Cộng sản trong Dinh

Độc Lập cung cấp, Bắc Việt đă biết rơ ư định rút quân về 3

cứ điểm Huế, Chu Lai và Đà Nẵng, do đó Hà Nội đă ra lệnh cho các đơn vị cấp tốc mở những cuộc tấn công để ngăn không cho các đơn vị VNCH từ Huế và Chu Lai rút về Đà

-------------------------------------------------------------------
*73 văn kiện Đảng: trang 152.
---------------------------------------------------------------------

Nẵng để bảo toàn lực lượng. Hai sư­ đoàn 324B và 325C bắt đầu tấn công mănh liệt vào các đơn vị pḥng thủ Huế, nhất là Sư­ đoàn 1 và liên đoàn 15 Biệt Động Quân. Ngày 21 tháng 3 Cộng sản đánh vào quận Phú Lộc ở giữa Huế và Đà Nẵng và tuy chống trả mănh liệt nhưng đến trưa ngày 22 tháng 3 th́ lực lượng VNCH bị đẩy lui. Cộng sản chiếm Phú Lộc làm cho sự lưu thông của đồng bào ty nạn trên quốc lộ 1 bị tất nghẽn khiến cho t́nh h́nh trở nên hỗ loạn. Đến ngày 23 tháng 3 th́ Huế hoàn toàn bị cô lập, không c̣n liên lạc được với Đà Nẵng bằng đường bộ. Thành phố Huế bắt đầu bị pháo kích lẻ tẻ, tuy không gây thiệt hại ǵ nhưng đă làm cho tinh thần dân chúng hoang mang kinh sợ và bắt đầu hỗn loạn. Người Mỹ ra lệnh di tản tất cả các cố vấn Mỹ c̣n lại vào Đà Nẵng bằng trực thăng.

Trong thời gian đó, t́nh h́nh ở các tỉnh phía nam Đà Nẵng cũng rất là bi quan: Cộng sản chiếm hai quận Hậu Đức và Tiên Phước của tỉnh Quảng Tín và sau đó th́ đến lượt hai quận Sơn Trà và Trà Bồng của tỉnh Quảng Ngăi phải di tản. Ngày 24 tháng 3 Sư­ đoàn 711 và trung đoàn 52 xe tăng của Cộng sản tấn công vào Tam Kỳ và sau đó th́ tỉnh Quảng Tín bị thất thủ. Hàng chục ngàn đồng bào tỵnạn ùn ùn kéo nhau về Đà Nẵng khiến cho t́nh h́nh vô cùng hỗn loạn. Cùng thời gian đó, Cộng quân tấn công vào tỉnh Quảng Ngăi và tỉnh này cũng bị rơi vào tay Cộng sản. Một số đơn vị thuộc Sư­ đoàn 2BB và Tiểu khu Quảng Ngăi phải rút về Chu Lai rồi từ đó di tản sang Cù Lao Ré cách bờ biển Chu Lai chừng 50 cây số.

Như vậy là vào ngày 24 tháng 3 hai tỉnh cực nam của Vùng I Chiến thuật là Quảng Tín và Quảng Ngăi và tỉnh cực bắc là Quảng Trị đă bị Cộng sản chiếm đóng, Vùng I chỉ c̣n có một phần tỉnh Quảng Nam, Huế và Đà Nẵng. Sáng hôm đó, Tướng Trưởng ra lệnh cho Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến rút về băi biển Thuận An dưới sự yểm trợ của một số đơn vị thuộc Sư­ đoàn 1BB. Từ Thuận An, Hải quân sẽ phụ trách di tản sư­ đoàn này về Đà Nẵng.

Đến ngày 25 tháng 3 lực lượng của Quân Đoàn I đă bị thiệt hại đáng kể, tinh thần binh sĩ xuống thấp v́ lo cho số phận gia đ́nh của họ.

Trong khi đó, Tứơng Trưởng lại nhận thêm một lệnh mới của TT Thiệu: dùng 3 s­ư đoàn cơ hữu để pḥng thủ Đà Nẵng, Sư­ đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ làm trừ bị. V́ quốc lộ 1 đă bị tràn ngập đồng bào tỵ nạn và Cộng sản đă cắt quốc ]ộ 1 tại Phú Bài và các vùng phía nam Huế, Tướng Trưởng ra lệnh cho Sư­ đoàn 1BB phải rút về Cửa Tư­ Hiền, tại đó Hải quân và Công binh sẽ bắc một cây cầu đi vào đất

liền và đoàn quân có thể đi bộ qua đèo Hải Vân về Đà Nẵng.

Mặc dù gặp nhiều trở ngại phải mất nhiều th́ giờ để tách ra khỏi đồng bào tỵ nạn bám sát theo họ, nhưng Lữ Đoàn 369 Thủy Quân lục Chiến vẫn đến được Thuận An để

được di tản bằng đ­ờng thủy. Phó Đề Đốc Hải Quân Hồ Văn Kỳ Thoại, cháu nội của nhà văn Hồ Biểu Chánh, dù chỉ mới nhận được lệnh tối hôm trước, nhưng ông đă thành công trong việc tổ chức di tản gần 50,000 người bằng 100 chiếc tàu đủ loại: tàu hải quân, ghe đánh cá, thuyền buôn, xà lan v.v., bất cứ ph­ơng tiện nào mà ông t́m đ­ợc Ở Đà Nẵng.

Sư­ đoàn 1BB theo sau Thủy Quân Lục Chiến không được may mắn như vậy. Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm, Tưlệnh Sư­ đoàn 1 đă tập họp một số sĩ quan và binh sĩ dưới quyền ông để nói vài lời từ biệt vô cùng cảm động và ông kết thúc với câu "manh ai nấy chay”,  sau đó th́ một số binh sĩ đă bỏ hàng ngũ để đi t́m thân nhân, gia đ́nh của họ, hàng chục ngàn binh sĩ và thường dân đă tranh nhau t́m đường thoát thân khiến cho con đ­ờng từ Thuận An vào phía nam trở thành hỗn loạn. Quân Cộng sản Bắc Việt đă biết được ư định của Sư­ đoàn 1BB t́m cách di tản vào Đà Nẵng cho nên họ đă gia táng pháo kích truy tập các đơn vị này và đă làm cho nhiều người bị thiệt mạng. Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm cũng bị thiệt mạng trong thời gian đó.

Thành phố Huế được xem như là bị bỏ ngỏ từ tối hôm 25 tháng 3 sau khi Sư­ đoàn 1BB rút về Thuận An và Cửa Tư Hiền.

Ngày 26 tháng 3 sóng to gió lớn tại vùng bờ biển tỉnh Thừa Thiên khiến cho việc di tản bằng đường biển gặp rát nhiều trở ngại, thủy triều lại dâng cao cho nên việc xây cầu tại Cửa Tư­ Hiền cũng không thể hoàn tất. Cộng quân pháo kích liên miên vào đám binh sĩ và người ty nạn lên tới gần 100 ngàn người bị kẹt lại tại đây do đó đă làm cho họ kinh hoàng và trở thành hỗn loạn không c̣n kiểm soát được. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết th́ chỉ có một phần ba tổng số quân về được đến Đà Nẵng nhưng khi về đến nơi th́ trừ các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, phần c̣n lại cũng không c̣n hữu dụng nữa v́ họ lo đi t́m thân nhân, gia đ́nh thất lạc tại các trại tỵ nạn chứ không c̣n theo hàng ngũ hay đơn vị nào nữa. Một nhân viên của pḥng TùyViên Quân Lực Hoa Kỳ DAO ghi nhận rằng ông ta nh́n thấy những người lính mặc quân phục theo ng­ời tỵ nạn từ các ghe thuyền đi xuống nhưng không hề có ai, không hề có đại diện của một đơn vị nào được tổ chức để đón tiếp họ và họ cũng trở thành ng­ời tỵ nạn.

Ngày 27 tháng 3 tất cả kế hoạch pḥng thủ Đà Nẵng

trở thành vô hiệu trước sự rối loạn và phẫn nộ của những người tỵ nạn. Trong khi đó, từ hướng bắc Đà Nẵng, hai s­ư đoàn 324B và 325C cùng với một trung đoàn xe tăng và hai

trung đoàn pháo binh của Cộng sản tiến theo thung lũng Núi Tượng bao vây hướng tây thành phố; từ hướng nam, Sư­ đoàn 711 phối hợp với Sư­ đoàn 304 và một số đơn vị yểm trợ đă đánh dọc theo sông Thu Bồn chiếm hai quận Đại Lộc và Dục Đức [Đức Dục]. Từ giây phút đó, Đà Nẵng nằm trong tầm đại bác của Cộng sản.

Ngày 28 tháng 3 Tướng Trưởng họp khẩn cấp với các chỉ huy trưởng và một số biện pháp đă đ­ưc áp dụng để văn hồi an ninh trật tự và tái trang bị các đơn vị di tản đang hiện diện trong thành phố Đà Nẵng. Một số quân nhân được xung vào Quân vụ Thị Trấn Đà Nẵng nhằm giữ trật tự, nhưng trật tự không thể nào văn hồi được v́ với làn sóng người tỵ nạn từ Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Tín Quảng Ngăi đổ về, thành phố Đà Nẵng lúc đó đă tăng lên trên hai triệu người. Thành phố Đà Nẵng đang ch́m trong hỗn loạn và vô luật pháp.

Sáng sớm ngày 28 tháng 3 ṭa Tổng Lănh sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng đă cho di tản tất cả nhân viên và ng­ời ngoại quốc c̣n lại xuống 2 chiếc xà lan và được tàu kéo đưa ra tàu chở hàng hóa Pioneer Contender đậu ngoài khơi Đà Nẵng. Kể từ khi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, đúng 10 năm 20 ngày sau đó th́ người Mỹ cuối cùng rời khỏi Đà Nẵng trong hỗn loạn.

Tối 28 tháng 3 Cộng quân pháo kích vào phi trường, căn cứ hải quân, Bộ Tư Lệnh Quân đoàn và các căn cứ quân sự rất mănh liệt và chính xác nhờ những đặc công trà trộn vào đám người ty nạn hướng dẫn tác xạ. Tướng Trưởng báo cáo với Bộ Tổng Tham M­ưu t́nh h́nh tại Đà Nẵng và ông cũng gọi cho TT Thiệu xin di tản ra khỏi Đà Nẵng bằng đường biển. Theo Tướng Cao Văn Viên th́ trong cuộc điện đàm này:

“TT Thiệu không cho Tướng Trưởng lệnh rơ ràng. TT Thiệu không nói thẳng là ông muốn Tướng Trưởng rút quân hay nằm lại tử thủ. Ông chỉ hỏi Tướng Trưởng có thể di tản bao nhiêu quân về nơi an toàn được trong tr­ờng hợp phải di tản. Có thể ông ta lo lắng về các sự việc đă xảy ra. Cuộc tái phối trí nầy có thể trở thành một thảm kịch như đă  diễn ra ở Cao Nguyên. Ông ta muốn tránh cho ḿnh các nỗi đau khổ khi phải ra lệnh như vậy một lần nữa."

Sau cuộc điện đàm, mọi liên lạc giữa Sài G̣n với Quân Đoàn I bị cắt đứt v́ pháo kích của địch. Tướng Trưởng lập tức ra lệnh triệt thoái quân khỏi Đà Nẵng khi thấy t́nh h́nh không c̣n hy vọng. Tướng Trưởng họp với Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư­ lệnh Hai quân Vùng I và các

chỉ huy trưởng để hẹn địa điểm rút quân. Ba địa điểm tập họp để xuống tàu là dưới chân đèo Hải Vân, núi Non N­ước và cửa khẩu Hội An.

Rạng sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975, sương mù bao phủ dọc theo bờ biển, ngoài khơi tàu Hải quân có mặt ở điểm hẹn, nhưng thủy triều xuống thấp nên tàu không tiến sát gần bờ được. Binh lính phải lội ra xa để lên tàu nhưng cuộc di tản không gặp nhiều trở ngại cho lắm cho đến khi quân Cộng sản nh́n thấy được quân ta đang rút lui cho nên đă pháo kích vào các điểm tập trung quân cũng như tàu đang đậu ngoài khơi làm cho rất nhiều binh sĩ bị chết v́ đạn đại bác cũng như là bị chết ch́m. Đoàn tàu của Hải Quân di tản được khoảng 6,000 Thủy Quân Lục Chiến, 3,000 quân nhân thuộc S­ư đoàn 1BB và một số quân nhân thuộc nhiều đơn vị khác. *74

Kể từ khi Cộng sản Bắc Việt khởi sự tấn công tỉnh Quảng Trị vào ngày 19 tháng 3 cho đến khi Đà Nẫng và toàn thể các tỉnh thuộc Vùng I Chiến thuật thất thủ vào ngày 29 tháng 3 năm 1975, chỉ vỏn vẹn có 10 ngày mà không hề có một trận đánh lớn nào xảy ra. Hai tướng lănh tại Vùng I là Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư­ Lệnh Sư­ đoàn Thủy Quân Lục Chiến phải lội bộ đến một khu bờ biển sỏi đá rồi bơi ra một tàu hải quân đang đậu ở ngoài bờ. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư

---------------------------------------------------------------­

*74 cao văn viên: sđd. Trang 172-174.

 

từ trang 135 đến trang 144

Lệnh Quân Đoàn I và vùng 1 Chiến Thuật phải lội xuống biển và nhờ một sĩ quan tùy viên nâng đỡ, ông mới leo lên được một chiếc tàu tuần tiễu rồi sau đó được đưa lên soái hạm của Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại.

Đại úy Nguyễn Văn Nhựt cho người viết biết rằng khi Đại Tướng Cao Văn Viên nhận lời tân Tổng Thống Trần Văn Hương ở lại giữ chức vụ Tổng Tư­ Lệnh Quân Lực VNCH sau khi ông Thiệu từ chức, ông có gửi một văn thư lên TT Trần Văn Hương đề nghị cử Trung Tướng Ngô Quang Trưởng giữ chức vụ Phó Tổng Tư Lệnh nhưng cụ Hương để hồ sơ đó sang một bên. Đại Úy Nhựt nói rằng mấy ngày sau, ông cố ư để hồ sơ đó trước mặt cụ Hương một lần nữa nhưng Cụ lại gạt sang một bên và nói với Đại úy Nhựt rằng: "Trung Tướng Ngô Quang Trưởng cũng đang bị điều tra về trách nhiệm ở Vùng I cho nên cho đến chừng nào mà cuộc điều tra chưa kết thúc th́ không thể giao cho ông ta một chức vụ nào cả."

 

Từ  Washington

 

Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau khi những tỉnh thuộc Vùng I và II lần lượt bị Cộng sản Bắc Việt thôn tính, trong khi t́nh h́nh ngày càng trở nên nguy kịch và đầy tuyệt vọng th́ theo Đại Tướng Cao Văn Viên "với tất cả biến động nguy ngập xảy ra, miền Nam vẫn c̣n trông đợi, hy vọng một phép nhiệm mầu nào đó sẽ xảy ra để có thể cứu văn được t́nh h́nh."

Người miền Nam và nhất là Tổng Thống Nguyễn  Văn Thiệu lúc đó dường như ai nấy cũng đều đặt hết hy vọng vào một phép lạ nào đó, vào một sự thay đổi chính sách nào đó hay vào những sự hứa hẹn hoặc cam kết nào đó từ phía Hoa Kỳ từ phía Hoa Thịnh Đốn.

Trước việc VNCH bị mất 4 tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku và Kontum rồi ngay đến Vùng I chiến thuật và những tỉnh ở miền Trung sau đó, Hoa Kỳ không hề có một sự phản đối nào. Ngoại Trưởng Kissinger đang bù đầu về vấn đề Trung Đông, Tổng Thống Gerald Ford họp với bộ tham mưu của ông để nghiên cứu xem Tổng Thống Hoa Kỳ có thể làm được những điều ǵ có thể giúp cho VNCH mà không vi phạm đạo luật War Powers Act. Toà Bạch Ốc được bộ tham mưu này phúc tŕnh cho biết rằng Hoa Kỳ không thể làm được bất cứ điều ǵ để can thiệp tại Việt Nam, không thể dùng phi cơ của Không lực để can thiệp nhằm yếm trợ và cứu một số quân đội của VNCH. Tuy nhiên, trong đạo luật War Powers Act lại có những “khe hở” (loopholes) và nhờ đó mà chính phủ Hoa Kỳ có thể được phép thuê mướn một số thương thuyền và phi cơ dân sự để di chuyển quân đội và chiến cụ cho VNCH ra khỏi những vùng nguy hiểm cũng như là cứu người ty nạn ở ngoài hải phận quốc tế mà thôi.

Đối với t́nh h́nh Việt Nam vào tháng 3 năm 1975, không phải là Washington không biết ǵ về t́nh h́nh đang nguy ngập, một số tài liệu được giải mật sau này cho thấy ngược lại là đằng khác.

 

"Những Diễn Tiến Tồi Tệ Ở Việt Nam "

 

Hai ngày sau khi Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột, vào ngày 12 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Kissinger đă nhận được một bản phúc tŕnh đặc biệt về Việt Nam do Hội Đồng An ninh Quốc Gia soạn thảo. Bản phúc tŕnh này mang số 1509 của National Security Council với đề mục " Ominous Developments in Vietnam" (Những Diễn Tiến Tồi Tệ Ở việt Nam) do ông William L. Stearman kư tên đă phúc tŕnh với Ngoại Trưởng Kissinger một số điểm như sau:

“Một số diễn tiến quân sự và chính trị quan trọng ở Việt Nam gần đây đă cho thấy một điềm rất xấu về chiến lựơc và y’ đồ của Bắc Việt trong những tháng sắp tới. Những gia tăng về các hoạt động quân sự của Bắc Việt từ ngày 10 tháng 3 năm 1975 đă chứng tỏ rằng quan điểm nầy là đúng.

Những diễn tiến mới này là:

-Vào tháng 12 năm 1974 Đại Hội khoáng Đại Kỳ Thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam đă thông qua một bản nghị quyết mang tên là Nghị Quyết số 23. Nghị quyết này có thể là quyết định về một chính sách mới đối với miền Nam.

-Vào cuối tháng hai và đầu tháng 3 năm 1975, có nuiều phái đoàn cao cấp của Liên Xô và Trung Cộng đă lần lượt đến viếng thăm Hà Nội. Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô là Nicolay Firyubin là người cầm đầu phái đoàn Xô Viết. Sự hiện diện của phái đoàn Trung Cộng cùng với phái đoàn Fiyubin tại Hà Nội có thể là hậu quả của một sự thay đổi về chính sách rất quan trọng của Bắc Việt đối với cuộc chiến tranh tại miền Nam việt Nam.

Các nguồn tin t́nh báo viễn thông (communications in telligence) cbo biết kể từ ngày 10 tháng 3 năm 1975, dường như Bắc Việt đă cho phối trí một phần lớn lực lương mà danh tính cũng như là câp số của đơn vị này chúng ta chưa được biết. Đó là chưa kể đến sự xâm nhập của Sư đoàn 341 của Bắc Việt từ Quảng B́nh ở Bắc Việt tiến qua vùng Phi Quân Sự vào tỉnh Quảng Trị và Sư Đoàn 968 từ Lào vào vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Những đơn vị tiền phương của Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN) đă gia tăng các liên lạc vô tuyến và ít nhất là đă liên lạc thường xuyên với 3 sư­ đoàn cùng một số đơn vị biệt lập trong vùng Tây Ninh-Mỏ Vẹt. Bộ tư lệnh tiền phương này có lẽ sẽ trở thành một bộ tham mưu cao cấp trong việc chỉ huy và phối hợp các tấn công trong Vùng III Chiến thuật của Việt Nam Cộng Hoà. Sự hiện diện của những dợn vị nói trên là bằng chứng hiển nhiên về dự định tấn công với lực lựơng gồm nhiều trung đoàn của Cộng sản trong vùng này

            -Mức độ xâm nhập của Bắc Việt trong mùa khô năm nay đă gia tăng gấp đôi so với mức xâm nhập nầy trong mùa khô 1973-1974. Nếu mức xâm nhập nầy được tiếp tục với mức độ như hiện nay th́ sự xâm nhập vào năm nay sẽ tương đương với  mức độ cao nhất hồi năm 1968. (Năm 1975: 125,900 người, năm 1968: 13O,300 người).

-Một chương tŕnh tổng động viên đang được thực hiện tại Bắc Việt và chương tŕnh huấn luyện tân binh được rút ngắn từ 4 đến 6 tháng chỉ c̣n lại khoảng 1 tháng mà thôi. Chương tŕnh huấn luyện rút ngắn này đă giúp cho quân đội Bắc Việt có thể động viên, huấn luyện và gửi vào miền Nam chỉ trong ṿng 1 tháng. Các tân binh được huấn luyện vào tháng Hai th́ đến tháng Ba đă lên đường xâm nhập vào Nam Việt Nam.

-Quân đội Cộng sản Bác Việt tiếp tục chuyên chở một sổ lượng vô  cù ng lớn lao về vũ khí và đạn dược vào vùng cán chăo Bắc Việt (Vùng Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng b́nh) trong sổ đó có rất nhiều đại bác 130 ly. Những vũ khí này sẽ được gửi đi đâu th́ chưa được biết nhưng mà gần như chắc chắn rằng những vũ khí đó đang trên đường đựơc đưa vào miền Nam. “

-Các chiến đấu cơ phản lực MIG đă được di cuyển trở lại về vùng phía nam của Bắc Việt. Các loại chiến đấu cơ phản lực MIG-17 hiện đang đựơc bố trí tại phi trường Đồng Hới và các loại MIG-21 tối tân hơn th́ được bổ trí tại Vinh. Các lực lượng phi cơ MIG nầy về bản chất th́ chỉ đựơc sử dụng với mục đích  tự vệ, tuy nhiên loại MIG17 th́ có thể đựơc dùng để tấn công các lực lựơng bộ binh trong khi loại MIG-21 th́ có thể đựơc dùng để bảo vệ trên không.

-Các binh sĩ của Cộng sản Bắc Việt đă đựơc học tập một cáhc rất tích cực mà trọng tâm của sự học tập nầy là nhắm vào mục tiêu chuẩn bị tinh thần cho việc chiến đấu trong năm 1975 sẽ vô cùng nguy hiểm. Những khẩu hiệu mà đảng Cộng sản đang sử dụng để động viên tinh thần binh sĩ là:

-“Tái diễn 1968”

-“Tấn công như năm 1972”

“Đạt cho đựợc thắng lợi như là Điện Biên Phủ”

Tóm lại, nếu tổng kết tất cả những diễn tiến nói trên th́ đó là những dấu hiệu cho thấy cuộc tổng tấn công vào mùa Xuân năm 1975 của Cộng sản Bắc việt là cực kỳ nghiêm trọng và có lẽ nhắm vào mục đích làm thay đổi hoàn toàn cán cân lực lượng tại miền Nam Việt Nam. Nhiều nhà phân tích t́nh báo cho rằng cuộc tổng tấn công này là những bước mở màn cho những sự thương thuyết nhằm thực thi hiệp định Paris theo những điều kiện mà Cộng sản Bắc Việt đưa ra.

            Có lẽ chiến lược của Cộng sản Bắc Việt là chiếm được nhiều lănh thổ trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân và mùa Hè năm 1975 rồi sẽ đề nghị một cuộc ngưng bắn trước khi mà Việt Nam Cộng Hoà có đủ th́ giờ để tái phối trí những lực lượng đă mất. Lúc đó th́ sẽ có những áp lực rất mạnh từ phía Quốc Hội Hoa Kỳ đ̣i phải chấp nhận những điều kiện của Bắc Việt đưa ra tại v́ phía quốc hội sẽ xem như đó là một cơ hội nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh và giảm thiểu viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Gần như chắc chắn rằng miền Nam Việt Nam sẽ không sẵn sàng chấp nhận những đề nghị  của Bắc Việt, tuy nhiênHà Nội sẽ làm áp lực với chúng ta qua quốc hội Hoa Kỳ để nhằm ép buộc Tổng Thống Thiệu phải nhượng bộ.

Do đó, rất có thể chúng ta sẽ phải đương đầu với một t́nh thế mà có rất nhiều áp lực nặng nề đối với ngành hành pháp để buộc tổng thống (Gerald Fordphải chấp nhận những đề nghị của Hà Nội. Có lẽ những đề nghị này sẽ nhắm vào việc thành lập một Hội Đồng Hoà Giải Hoà Ḥa Hợp Dân Tộc với nhiều quyền hạn như là một chính phủ và sẽ cho phép Cộng sản được hoàn toàn can thiệp vào số dân chúng đang sống trong vùng do chính phủ Việt Nam Cộng Hoà kiểm soát. *75

Như vậy th́ tử tháng 3 năm 1975, trước khi Cộng sản Bắc Việt khởi động các cuộc tổng tấn công tại miền Cao Nguyên và vùng Bắc Trung Phần, chính phủ của Tổng Thống Ford đă biết rằng t́nh h́nh Việt Nam đă trở thành vô vọng v́ Hành pháp Hoa Kỳ đă bị bó tay bởi đạo luật War Powers Act và Quốc Hội th́ đă dứt khoát không cứu xét đề nghị viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Hoà nữa. Tuy nhiên lúc đó lại có một tia sáng hy vọng mong manh đối với vấn đề trợ giúp cho miền Nam Việt Nam phát xuất từ vùng sa mạc Trung Đông.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------

*75 National Security Council: Ominous Del'elopment.s in Vietnam, March 12.1975. Hồ sơ tối Mật" được giải mật ngày 6 tháng 1 năm 2000. Hồ sơ này đang được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Gerald Ford, Folder-7501-509.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

Quốc Vương Faisal
        Muôn Viện Trợ Cho VNCH

Theo Frank Snepp th́ trong những cuộc th­ơng thuyết con thoi giữa các nước Trung Đông nhằm giải quyết hoà b́nh giữa các nước Ả Rập và Do Thái, vào ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Henry Kissinger ghé thăm nước Ả Rập Saudi (Saudi Arabia,) quốc gia sản xuất dầu hỏa hang đầu của thế giới. Ngày 23 tháng 3 trước khi rời Riyad, thủ đô Saudi Arabia, Ngoại Trưởng Kissinger vô cùng ngạc nhiên khi Quốc Vương Faisal, vốn là một người rất mến phục và ủng hộ Tiến sĩ Kissinger, đă nói riêng với ông là Quốc Vương muốn dành cho Ngoại Trưởng Hoa Kỳ một ân huệ cá nhân.

Quốc Vương Faisal nói rằng ông rất kính phục ḷng can đảm của nhân dân Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do cho chính họ. Vua Faisal nói rằng v́ cảm t́nh đối với nhân dân miền Nam Việt Nam và một phần cũng v́ cảm t́nh với Ngoại trưởng Kissinger, nhà

vua và chính phủ Ả-Rập Saudi sẳn sàng bảo đảm cho việc viện trợ cho vay một số tài khoản ”vĩ đại” (a huge grant-in-

aid) cho chính phủ Sài G̣n nhằm bù đắp cho việc viện trợ của Hoa Kỳ bị cắt giảm. Ngoại Trưởng Kissinger ngạc nhiên và vui mừng cho đến độ sững sờ v́ đây là một “phép lạ trên sân khấu” (deus ex machina) mà ông hằng mong đợi sẽ xảy ra để giúp cho ông ta thực hiện được chiến lược về ngoại giao của ông tại Đông Dương.

Nhưng bất hạnh thay, đề nghị viện trợ của Ả Rập Saudi cũng trở thành vắn số và phù du như những môn thuốc giải độc khác trước đây nhằm chữa chạy cho cuộc chiến tranh Đông Dương trong gần 30 năm. Chỉ có ba ngày

sau khi đưa ra đề nghị này với Kissinger, Quốc vương Faisal lại bị một người cháu giết chết v́ ganh tức và hy vọng viện trợ cho Việt Nam cũng bị chôn vùi cùng với cái chết của Vua Faisal nước Ả Rập Saudi.

Frank Snepp cũng cho biết thêm rằng trong khi tiếp xúc với Ngoại trưởng Kissinger mấy tuần trước đó, chính Đại sứ Martin đă đưa ra ư kiến nên t́m cách vận động yêu cầu xin viện trợ từ nước Ả Rập Saudi. Tuy nhiên sau cùng th́ chính Quốc Vương Faisal là người đă xúc tiến dự án đề nghị này. Ngay cả sau khi Quốc Vương Faisal từ trần, Đại sứ Martin vẫn c̣n thúc đẩy Ngoại trưởng Kissinger tiếp tục vận động cho kế hoạch viện trợ này nhưng chẳng có đi đến đâu v́ người kế vị c̣n phải chú trọng đến những vấn đề khác. *76

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng Trưởng Phát Triển trong những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà cũng có cho biết thêm về chuyện này như sau:

“Cuộc viếng thăm của phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 2 năm 1975 đă cho thấy sự thật hiển nhiên là sự viện trơ của Hoa Kỳ đang đỗ vỡ và sau đó lại c̣n có thêm nhiều diềm xấu tiếp diễn: những thất bại tại Cao Nguyên, sự thất thủ của các tỉnh nền Trung cùng Đà Nẵng và việc Hoa Kỳ cúp viện trợ là những dấu hiệu tồi tệ nhất.

“Thêm vào đó lại c̣n có vụ Quốc Vương Saud al Faisal của nước Ả Rập Saudi bị ám sát ngày 25 tháng 3 năm 1975. Vua Faisal đă tỏ cảm t́nh và niềm ngưỡng phục về công cuộc chiến đấu chống Cộng sản của nhân dân miền Nam Viiệt Nam và ông đă đề nghị trơ giúp cho Việt Nam. Vào đầu năm 1975, Quốc Vương Faisal đă chấp thuận trên nguyên tắc sẽ cbo việt Nam vay một số ngân khoản “nhiều trăm triệu” mỹ kim. Số tiền này sẽ được sử dụng nhằm đẩy mạnh nền kinh tế của miền Nam Việt Nam đồng thời cho phép Tổng Thống Thiệu mua nhiên liệu và vũ khí đạn dựơc của bất cứ quốc gia nào muốn bán cbo Việt Nam. Một giải pháp

-------------------------------------------------------------------

*76 Frank Snepp: Sđd. trang 216. 143
--------------------------------------------------------------------

khác được đề nghị cho kế hoạch cho vay này của Quốc Vương Faisal là Ả Rập Saudi sẽ bảo đảm cho việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nghiêng về phiá bảo đảm cho vay hơn là v́ điều này sẽ loại trừ đự­ơc những vấn đề khó khăn có thể xảy ra nếu phải mua những vũ khí chiến cụ của Mỹ ở ngoài thi trường Hoa Kỳ. Sự thật là toàn bộ guồng máy những vũ khí trong chíến tranh Việt Nam đều đựơc sản xuất tại Hoa Kỳ (made in USA) do dó mà không thể nào mua sắm vũ khí đạn dược từ một nước ngoại quốc nào khác.

“Tiến sĩ Nguyễn Tiến H­ưng nhớ lại rằng “ lẽ dường như là một điều kỳ cục nếu liên kết dầu hoả của Ả RậpSaudi với sự sống c̣n của miền Nam Việt Nam trong nổ lực t́m kíếm viện trợ về quân sự, tuy nhiên trong những ngày đen tối nhất của tháng 4 năm 1975 th́ chẳng có chuyện ǵ là kỳ cục cả. Khi người ta đang sắp sửa bị chết trôi thi ai cũng đều cố gắng nắm vào cái ǵ đang nổi trên mặt nước”.

Người Việt Nam tin rằng số phận của họ đă đến chỗ tuyệt cùng: khi mà kế hoạch của Quổc Vương Faisal sắp sửa đựơc thực hiện th́ nhà vua lại bị một người cháu giết chết. Tổng Thống Thiệu đă gửi một bức công điện phân ưu đến Hoàng Gia Ả Rập Saudi và đồng thời khẩn nài chính phủ Ả Rập tiếp tục kể hoạch viện trợ của cố quốc vương Faisal. Chính phủ Ả Rập Saudi trả lời rằng họ sẽ cứu xét đề nghị này và Tổng Thống Thiệu đă gửi Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc sang thăm viếng Ả Rập Saudi. Người Việt Nam t than th rằng chính số của họ là sẽ bị bỏ rơi.”*77

Trong một cuốn sách mới xuất bản vào năm 2005, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nói thêm về việc này và cho đăng nguyên văn bức điện văn của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc gửi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phúc tŕnh

-------------------------------------------------------------------------

*77 Nguyễn Tiến H­ng & Jerrold Schecter: Sđd, trang 306.

-------------------------------------------------------------------- ---------------------

về việc này như sau:

Vừa vào pḥng, ông Thiệu đưa cho tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 năm l975 do Ngoại Trưởng Bắc gửi từ Luân Đôn về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi Luân Đôn. Chuyến đi của ông có mục đích xin Quốc Vương Haled Crown (tiếng Anh là Khalid), vừa kế vị Quốc Vương Faisal, đồng y’ cho Việt Nam Cộng Ḥa vay tiền như phụ vương của ông đă bị ám sát.

“Luân Đôn ngày 14 tháng 3 năm 1975

“Công tác tôi đi Saudi Arabia đă được kết thúc thành công. Tôi được tiếp kiến Vua Haled Crown, Hoàng tử Rabed và Hoàng tử Abdullab (cũng là thủ tướng) Đệ Nhất và Đệ Nhị Phó Thủ Tướng. Tất cả, đặc biệt là vua Haled đă cho tôi những bảo đảm vững chắc về việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Ḥa. Tôi đă thảo luận kỷ càng với Hoàng tử Rudal Faisal (Bộ trưởng Ngoại giao,) Hoàng tử Massoud (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và ông Amant (Tổng Trưởng Dầu Lửa và Tài Chánh).

“Về viện trợ sắp tới tôi đă cung cấp cho chính phủ Saudi một bản giác thư tŕnh bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và t́nh h́nh tại Miền Nam. Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và pương thức của viện trợ sẽ được chính phủ Saudi cứu xét sớm” *78

Bức điện văn này đề ngày 14 tháng 4 năm l975 và chỉ một tuần sau đó th́ Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu từ chức, nửa tháng sau đó th́ Miền Nam rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên vào những ngày tháng 4 năm 1975, việc nước Ả Rập Saudi hứa sẽ trợ giúp cho Việt Nam Cộng Ḥa cũng phải được xem như là một “phép lạ," dù rằng đó chỉ là một phép lạ trong ảo tưởng mà thôi.

----------------------------------------------------------------------

*78 Nguyễn Tiến H­ng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, CƠ sở Xuất Bản Hứa Chấn Minh, San Jose, Califoria, 2005, trang 310-311.
 

 VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 145 đến trang 154

Sau 1975, người viết có cơ hội làm việc tại Jeddha, nước Ả Rập Saudi, trong một thời gian và có nghe nói đến việc nầy. Một vài người Ả Rập của người viết cho biết rằng vào khoảng cuối năm 1974, Việt Nam Cộng Ḥa có tham dự một cuộc triễn lăm quốc tế tại thành phố hải cảng Jeddha, lúc bấy giờ là thủ đô thương mại và ngaoi5 giao của Vương Quốc Ả Rập Saudi. Trong cuộc triển lăm nầy, Việt Nam đă gởi sang trưng bày những bức tranhcũng như là một sô bàn ghế sơn mài, đa số là của cng6 ty Thành Lễ và những sản phẩm này đă được dân chúng, nhất là giới thương lưu giàu có trong hoàng gia nhiệt liệt tán thưởng, nhờ đó mà họ có cảm t́nh với Việt Nam Cộng Hoà. Quốc vương Faisal là một trong những người đó. Họ cũng xác nhận chuyện Vua Faisal có ư định viện trợ cho Việt Nam Cộng Hoà tuy nhiên v́ phía Việt Nam quá chậm chạp trong việc xúc tiến kế hoạch này cho nên sau khi nhà vua bị ám sát th́ vị hoàng thái tử (crown prince) là Kbalid ibn Abdulaziz lên nối ngôi không biết ǵ nhiều về việc này, do đó mà kế hoạch đă không được xúc tiến và bất thành.

Dường như đó cũng là vận nước cho nên miền Nam đă bỏ lỡ mất cơ hội có một không hai này. Số phận của Việt Nam Cộng Ḥa cũng gặp nhiều sự không may v́ Quốc Vương Khalid (1975-l982) là người có đầu óc bảo thủ, không chú trọng nhiều đến những vấn đề bên ngoài thế giới Ả Rập cho nên ông ta không để ư đến việc Quốc vương Faisal đă có quyết định trợ giúp cho miền Nam Việt Nam chống lại Cộng sản. Tuy nhiên sau khi lên ngôi, Quốc vương Khalid lại chọn Hoàng Tử Fabd ibn Adulaziz làm Hoàng Thái Tử kể vị th́ ông này lại là người không những am tường về các vấn đề quốc tế mà lại c̣n là người chống Cộng sàn rất tích cực. Sau khi Vua Khalid băng hà vào năm 1982, Hoàng Tử Fadb ibn Abdulaziz trở thành Quốc Vương trị v́ n­ớc Ả Rập Saudi từ năm 1982 cho đến đầu tháng 8 năm 2005. Trong thời gian trị v́, Vua Fadh đă việ trợ vô cùng tích cực cho phong trào kháng chiến A-Phú-Hăn chống lại Cộng sản Liên Xô trong mấy thập niên và sau cùng th́ Liên Xô phải triệt thoái ra khỏi A-Phú-Hăn.

Nếu Quốc vương Fahd lên ngôi thay cho quốc vương Faisal ngay từ năm l975 th́ biết đâu t́nh h́nh Việt Nam lại chẳng có thể một vài thay đổi?

Từ Bắc Kinh: Hoa Kỳ Đă Quyết Định BỎ

Rơi VNCH Từ Năm 19 71

Việc người Mỹ bỏ rơi miền Nam Việt Nam sau này th́ ai cũng đều biết rơ, nhưng có rất ít người biết đ­ược rằng Hoa Kỳ đă có ư định rút ra khỏi Việt Nam từ năm 1967 dưới thời Tổng Thống Lyndon johnson và vào năm 1971 thời Tổng Thống Richard Nixon mà người đă thực hiện chính sách này không ai khác hơn là liến sĩ Henry Kissinger lúc bấy giờ là Cố vấn về An Ninh Quốc Gia và sau đó trở thành Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ của TT Nixon và Tổng Thống Gerala Ford.

Sứ Mạng của Đại sứ Bunker.

Rút Ra Khói Việt Nam

Trong một cuốn sách được dịch ra tiếng Việt và xuất bản vào năm 2000 tại California, Tiến sĩ Stephen B. Young đă dựa vào những mối liên hệ giữa ông với ông Ellsworth Bunker, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm l967 cho đến 1973 cũng như là những tài liệu riêng mà ông Bunker để lại và viết thành một cuốn sách mang tựa đề Cuộc Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ nói về những diễn biến chính trị tại miền Nam Việt Nam.

Tiến sĩ Stephen B. Young cho biết rằng lúc c̣n sinh tiền, cựu đại Sứ Ellsworth Bunker đă tiết lộ cho ông biết rằng vào tháng giêng năm 1967, Tổng Thống Lyndon Johnson đă bổ nhiệm ông Bunker làm Đại Sứ Koa Kỳ tại Sài G̣n với một niệm vụ bí mật: chuẩn bị việc Hoa Kỳ rút quân chiến đấu ra khỏi miền Nam việt Nam."

Stephen Young nói rằng khi ông hỏi Đại sứ Bunker tại sao ông lại được Tổng Thống Johnson chọn làm đại sứ tại Sài G̣n th́ ông Bunker đă cho ông biết rằng đó là tại v́ nước Cộng Hoà Doninican. Vào mùa xuân năm 1965, Tổng Thống Johnson đă gửi 25,000 quân Hoa Kỳ sang Cộng Hoà

Dominican để ổn định t́nh h́nh sau khi một nhóm quân nhân thân Fidel Castro, chủ tịch nước Cộng sản Cuba, sắp sửa c­ớp được chính quyền. Gởi quân sang th́ dễ nhưng triệt thoái quân đội trở về mà phe thân Cộng sản không nắm được chính quyền mới là chuyện rất khó. Đại sứ Hoa Kỳ tại Dominican Republic lúc đó là Ellsworth Bunker đă thực hiện được việc khó khăn đó: phe thân Castro bị thua phe dân chủ, t́nh h́nh được ổn định và quân đội Hoa Kỳ triệt thoái về nước.

Ông Stephen Young nói rằng: "Tương tự như vậy, năm 1967, Tổng Thống Jobnson muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh Đông dương và yêu cầu t́m ra giải pháp.

“Jobnson tránh xác địnb và tập trung nỗ lực vào công

việc chấm  dút chiến tranh. Tổng thống Jobnson chỉ muốn

ông Bunker hoàn tất sứ mạng của Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam. Bắt đầu là rút quân chiến đấu Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu do cuộc chiến đ̣i hỏi, ưu tiên hàng đầu là phải tăng cường quân số và quấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam để họ có thể chịu trách nhiệm và thay thế những nơi mà quân dội Hoa Kỳ sẽ trệt thoái Khi quân dội miền Nam lớn mạnh và đủ khả năng, chừng ấy mới bắt đầu rút các dợn vị chiến đấu Hoa Kỳ *79

Kíssinge: Hoa Kỳ Sẽ Rút Khỏi VN và Sẽ

"Không bao giờ Trở Lạí"

Vào năm 1968, Tổng Thống Johnson không ra tái tranh cử và ông Richard Nixon lên nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ vào tháng Giêng năm 1969. Tân Tổng Thống Nixon được mọi người xem nư­ là một nhân vật chống Cộng hàng đầu, tuy nhiên ít có người biết là ông ta cũng theo đuổi đường lối về việc giải kết chiến tranh Việt Nam mà Tổng Thống Johnson đă vạch hối năm 1967 và vẫn giữ ông Ellsworth Bunker làm đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n cho đến sau Hiệp Định Paris vào năm 1973. Mặt khác cũng có rất ít người, kể cả người Mỹ, lại biết được rằng 2 năm trước khi kư Hiệp Định Paris, chính phủ Nixon đă tiết lộ cho thủ tướng Trung Cộng Chu ân Lai biết rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà và sau khi quân đội Mỹ triệt thoái th́ sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam.

Trong cuốn sách The Vietnam War Files: Uncovering the Secret History of Nixon-Era Strategy (Hồ Sồ chiến Tranh Việt Nam: Tiết Lộ những Bí mật Lịch Sử  Về chiến Lựơc Thời Đại Nixon) xuất bản vào năm 2004, dựa vào những hồ sơ "tối mật” mới được giải mật, tác giả Jeffrey Kimball" đă cho biết rằng từ tháng 7 năm 1971, Tiến Sĩ Henry Kissinger, Cố vấn về An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Hoa Kỳ', đă thông báo cho Trung Cộng biết rằng Hoa Kỳ sẽ không lưu

*79: Stephen B.Young: Cuộc Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ, Nguyễn Vạn Hùng dịch, Thời Luận, Califomia xuất bản 2001. Trang 53-55.

giữ lực lượng quân sự nào tại Nam Việt Nam để bảo vệ choTổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trong trang 5, phần "Indochina" của "tài liệu hướng dẫn" (briefing book) được ban tham mưu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia soạn thảo để tiến sĩ Kissinger thảo luận với Thủ Tướng Chu ân Lai vào hai ngày 9 và 10 tháng 7 năm 1971, Tiến sĩ Kissinger đă nói với Thủ Tướng Trung Hoa Cộng sản Chu ân Lai rằng:

"Nhân danh Tỏng Thống Nixon, tôi muốn đảm bảo với Thủ Tướng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng chuẩn bị một sự giàn xếp mà trong đó mọi diễn biển về chính trị tại Miền Nam Việt Nam sẽ do người Việt Nam quyết định với nhau. Chúng tôi sẵn sàng trệt thoái các lực lựơng quân sự của Hoa Kỳ qua nhưng4 lịch tŕnh được ấn đnh5 rơ ràng và để cho những “thực tế khách quan” (objective realities) hoạch định cho tương lai chính trị. “Chúng tôi muốn có một khoảng thời gian vừa phải (decent interual.) Chúng tôi xin bảo đảm với Thủ Tướng  như vậy.

"Nếu hính phủ Việt  Nam muốn tự quyết định thay đổichinh1 phủ hiện tại của họ th́ chúng tôi sẽ chấp nhận điều đó. Nhưng mà chúng tôi sẽ không quyết định về việc dó cho họ.

“Như Tổng Thống Nixon đă nhiều lần tuyên bố, chúng

tôi tin t­ởng rằng những nguyên tắc sau đây sẽ là những điểm quan trọng hàng đầu cho một sự ǵan xếp chính trị tại cbmb trị miền Nam Việt Nam:

-Một giải pháp chính trị phải phản ảnh nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam và cho phép họ được quyết định tương lai của họ mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.

-Một giải pháp chính trị hợp lư phải phản ảnh những mối lien hệ hiện nay giữa các lực lượng chính trị tại miến Nam Việt Nam

-Chúng tôi sẽ tôn trọng những kết quả của diễn tiến chính trị đă đươc thỏa thuận.”

Một điều cần phải chú ư là khi người Mỹ ṇi về các Lực lượng chính trị tại miền Nam” có nghĩa là các lực lượng chính trị hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Cộng Hoà, các lực lượng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cả các lực lượng từ Bắc Việt xâm nhập vào cùng với mấy trăm ngàn bộ đội Bắc Việt, điều đó có nghĩa là ngay từ tháng 7 năm l971, chính sách của Tổng Thống Nixon là triệt thoái quân đội Mỹ mà không nhất quyết đ̣i hỏi Cộng sản Bắc Việt cũng phải rút quân đội về Bắc như lập trường đang được đ̣i hỏi tại cuộc ḥa đàm ở Paris.

Trong một phóng ảnh chụp lại trang số 5 của bản “briefing book” này, bên lề phía tay trái, tiến Sĩ Kissinger có ghi thêm với chính thủ bút của ông nư­ sau: "Chúng tôi

muốn có một khoảng thời gian vừa phải”. Chúng tôi cam kết với Thủ Tướng như vậy (We want a decent interual. You have our assurance.)

Tác giả Jeffrey Kimbal cho biết thêm rằng: “khi Kissinger và Cbu ân Lai thảo luận về vấn đề Việt Nam trong hai ngàn 9 và 10 tháng 7 năm 1971, Kissinger đưa ra “chiến lựơc lien kết” (stratagem of linkage) bay là “củ cà-rốt và cây gậy” nhưng ông ta cũng nói rơ giải pháp “ một thời gian vừa phải" (decent interval solution) dành cho tương lai của miền Nam Việt Nam. Chẳng hạn như  Kissinger đă nói với Chu ân Lai rằng: “điều mà chúng tôi cần đ̣i hỏi là một giai đoạn chuyển tiếp (transition period) giữa sự triệt thoái (của quân đội Hoa Kỳ) và mọi diễn biến về chính trị (political evolution.)

Chu ân Lai hỏi Kissinger. “Vấn đề triệt thoái toàn thể

quân lực Hoa Ky ra khỏi Việt Nam có thể nào loàn tấ được chậm nhất là vào năm tới (1972) hay không? Ông Cố Vấn vừa mới rời Sài G̣n?”

Kissinger: “ Tôi đă đề nghị như sau nhân danb Tổng Thống Richard Nixon:Thứ nhất, chúng tôi sẽ ấn định ngày tháng triệt thoái ra khỏi Việt Nam”

Chu ân Lai: “Ngàỳ tháng triệt thoái toàn diện?”

Kissinger: “Đúng vậy. Thứ hai, như là một phần của sự giàn xếp, cần phải có một cuộc ngưng bắn trên toàn lănh thổ Đông Dương. Thứ ba, cần phải có sự trao trả tất cả mọi tù binh. Thứ tư, cần phải tôn trọng hiệp định Genève.

“Nhân danh Tổng Thống Nixon, tôi muốn thưa  với thủ tướng một cách vô cùng long trọng rằng trước hết, chúng tôi chuẩn bị triệt thoái toàn diện ra khỏi Đông Dương và đưa ra một hạn kỳ nhất định, nếu có một cuộc ngừng bắn và trao trả tù binh. Thứ hai, chúng tôi sẽ để cho giải giải pháp chính trị dành cho Việt tự  diễn tiến và dành cho người Việt Nam giải quyết với nhau mà thôi”

"Chúng tôi thừa nhận rằng một giải pháp phải pản ảnh nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam và cho phép họ tự quyết định tương lai của chính họ mà không có một sự can thiệp nào cả. Chúng tôi sẽ không bao giờ trở lại ( reenter) Việt Nam và sẽ tôn trọng mọi diễn tiến chính trị. "

"Tổng Thống Nixon đă chỉ thị cho tôi nói với Thủ tướng rằng Hoa Kỳ tin rằng đă đến lúc cần phải có ḥa b́nh. Dĩ nhiên là chúng tôi không thể nói với Thủ tướng là Trung Quốc phải làm ǵ, tuy nhiên chúng tôi tin tưởng rằng cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc t́ sẽ thúc đẩy việc cải thiện mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trong bất cứ t́nh huống nào, điều mà chúng tôi mong ước là nhân dân Đông Dương có thể quyết địnb tương lai của họ mà không cần phải có chiến tranh.

“Lập trường của chung tôi là Hoa Kỳ không nhất định ủng hộ việc duy tŕ “một chính phủ nào đó” (a particular government) tại miền Nam Việt Nam. Chúng tôi sẵn sang chấp nhận những nghĩa vụ về hạn chế sự ủng hộ của chúng tôi đối với chính phủ đó sau khi nền ḥa b́nh được thiết lập và chúng tôi cũng ấn định lại mối lien lạc mà chúng tôi sẽ duy tŕ với chính phủ đó sau khi ḥa  b́nh trở lại.

“Điều mà chúng tôi không thể làm đươc là tham dự vào việc lật đổ những người mà trước đây chúng tôi là đồng minh của bọ, bất cứ cái nguồn gốc của sự đồng minh đó như thế nào.

“Nếu mà cái chính phủ đó không được ḷng dân như quí vị đă nghĩ th́ một khi mà chúng tôi triệt thoái ra khỏi Việt Nam càng sỏm càng sớm chùng nào th́ cái chính phủ đó càng sớm bị lật đổ chừng đó. Và nếu mà các chính phủ đó bị lật đổ sau khi chúng tôi rút lui th́ chúng tôi sẽ không hề can thiệp. "

“Điều chúng tôi cần là phải có một giai đoạn chuyển tiếp gữa việc triệt thoái quân đội mà các diễn tiến chíh trị. Không phải chúng tôi cần giai đoạn nầy để chúng tôi trở lại một lần nữa, nhưng chúng tôi cần giai đoạn đó là để cho nhân dân Việt Nam và các phần khác ở Đông Dương có quyền đinh đoạt lấy số phận của họ

“Ngay cả trong giai đoạn chuyển tiếp, chúng tôi sẵn

sàng chấp nhận những hạn chế về những loại viện trợ nào có thể cung cấp cho các nước tại Đông Dương. Và nếu mà

không có quốc gia nào tại Đông Dương sẵn sàn nhận viện trợ quân sự từ bên ngoài th́ chúng tôi sẳn sang cứu xét đến việc loại bỏ hẳn các viện trợ về quân sự.

“Tôi đă nói với Thủ Tướng ngày hôm qua, và tôi xin nói lại điều đó thêm một lần nữa là nếu sau khi Hoa Kỳ  hoàn toàn rút quân đội ra khỏi Việt Nam mà nhân dân các nước tại Đông Dương thay đổi chính phủ của họ th́ Hoa Kỳ sẽ không bao giờ can thiệp.

“Hoa Kỳ sẽ tôn trọng sự quyết tâm và nguyện vọng của nhân dân Đông Dương

" Thủ Tướng có nói đến việc hằng triệu người mà Bắc

Việt sẵn sang hy sinh. Tôi xin thưa ṿi Thủ Tướng không cần thiết phải hy sinh thêm một triệu người.

“Hoa Kỳ sẵn sàng đạt đến ḥa b́nh nhanh chóng nếu

mà nền ḥa b́nh đó đựơc thỏa thuận trong khuôn khổ mà

tôi vừa đề cập đến. Những nếu mà Thủ tướng có đề nghị nào khác về giai đoạn chuyển tiếp nào hoặc là Hà Nội có mọt đề nghị nào khác, chúng tôi sẵn sàng cứu  xét."

Chu ân Lai trả lời: "chúng ủng hộ đề nghị 7 điểm của bà Nguyễn Thị B́nh của chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi ủng hộ họ. Chừng nào chiến tranh c̣n tiếp diễn, chúng tôi c̣n tiếp tục ủng hộ họ. Sự ủng hộ nầy không những chỉ dành reing6 cho nhân dân Việt Nam mà c̣n cho cả nhân dân cam-pu-chia và nhân dân Lào. C̣n việc họ chọn lựa một chế độ chính trị nào và giải pháp sau cùng mà họ đạt được sau khi lật đổ được những chế độ phản động th́ đó là việc của họ, chúng tôi không hề can thiệp” *80

Đó là đại cương những điều Tiến sĩ Kissinger nói với Thủ Tướng Chu ân Lai hồi tháng 7 năm 1971, gần một năm rưỡi trước ngày Hiệp Định Paris được kư kết và gần 4 năm trước ngày Cộng sản Bắc Việt mở những cuộc tổng tấn công để cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.

Tuy đă nói với Thủ Tướng Chu Ân Lai như vậy, nhưng 5 tháng sau khi Kissinger rời Bắc Kinh th́ vào ngày 31 tháng 12 năm 1971, Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon đă gửi cho lổng Thống Nguyễn Văn Thiệu một lá th­ư trước khi ông sang viếng thăm Trung Cộng vào tháng 2 năm 1972. Trong bức thư nầy ông Nixon nói với ông Thiệu rằng:

----------------------------------------------------------------------------------------------------

*80: Jeffrey Kimbal: The Vietnam War Files: Uncovering the Secret History of Nixon-Era Strategy, University Press of Kansas, 2004. Trang 187-192.

"Xin Tổng Thống tin tưởng một cách tuyệ đối rằng chúng tôi sẽ không bao giờ kư kết một bản thỏa ưo1c nào với Bắc Kinh mà lại phải hy sinh đến quyền lợi hay là những vấn đề lien quan đến sự sinh tồn của các quốc gia khác. Xin Tổng Thống cũng nên biết rằng những sự cam kết của Hoa Kỳ đối với các quốc gia khác sẽ không bị ảnh hưởng ǵ bởi cuộc thăm viếng Bắc Kinh của tôi.

Nếu mà vấn đề Việt Nam được đưa ra thảo luận tại Bắc Kinh th́ tôi muốn bảo đảm với Tổng Thống rằng tôi sẽ đặt vấn đề một cách thẳng thắn và rơ rệt rằng lập trường của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa là cuộc chiến tranh tại Việt Nam phải được kết thúc qua những thương thuyết trực tiếp với Hà Nội và nếu mà không phải như vậy th́ chỉ có kết thúc bằng sự lớn mạnh của Việt Nam Cộng Ḥa trong việc tự bảo vệ chống lại sự xâm alng8 của Hà Nội.

“Tôi muốn các nhà lănh đạo Bắc Kinh phải hiểu một cách rơ rệt rằng cả hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa sẽ luôn luôn sát cánh với nhau trong vấn đề sinh tử nầy”*81

Sáu tháng sau cuộc viếng thăm của Kissinger, Tổng Thống Nixon chính thức công du sang Bắc Kinh, lần đầu tiên một vị tổng thống Hoa Kỳ sang viếng thăm nước Cộng

Ḥa Nhân Dân Trung Hoa từ khi nước này được thành lập năm 1949. '

Trong một cuộc hội kiến, khỉ thảo luận về vấn đề Việt Nam, TT Nixon đă nói với Thủ Tướng Chu ân Lai rằng:

"Rơ ràng là Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa muốn Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan th́ Trung Hoa dă được điều đó, c̣n điều
 

*81: Nguyễn Tiến Hưng and Jerrold Schecter: The Palace File, Harper & Row Pubhshers. New York. 1986, trang 366: Bức thư thư nhất trong 31 bức thư mà Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon gửi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu


 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ trang 155 đến trang 164  

chúng tôi muốn là Trung Hoa giúp cho chúng tôi về vấn đề Việt Nam th́ chúng tôi không nhận được sự giúp đỡ nào.

Tôi muốn Thủ Tướng biết cho rằng dĩ nhiên là chúng tôi sẽ làm bất cứ  điều ǵ để bảo vệ quyền lợi của chúng tôi, bảo vệ quân đội của chúng tôi và mang tù binh của (búng tôi trở về. Tôi hiểu rằng chính phủ của thủ tướng có thể có phản ứng về những việc chúng tôi phải làm. Chúng tôi sẽ không làm điều ǵ mà chúng tôi không coi rằng điều đó là cần thiết để đạt đựơc mục tiêu của chúng tôi. Và mục tiêu của chúng tôi là trệt thoái sau khi những tù binh của chúng tôi hồi hương. nhưng nếu chúng tôi không có cơ hội để thương thuyết, th́ không phải là chúng tôi mà chính Bắc Việt mới là những kẻ đă bắt buộc chúng tôi phải xử dụng các sử dụng các hoạt động quân sự.

“Nhưng thưa Thủ Tướng, vấn đề giải quyết chiến tranh là một việc không thể nào tránh đuợc v́ chinh tôi đă quuyết định như vậy. Nhưng mà việc đó phải đựơc thực hiện một cách đúng đắn. Điều đó sẽ không c̣n lâu nữa đâu. "

Chu ân Lai hỏi: Tổng Thống muốn nói chuyện rút quân

Nixon trả lời: “Phải. Triệt thoái toàn diện quân đội Hoa Kỳ. Nhưng như  tôi đă nói, tôi nhấn mạnh rằng việc đó

phải đựơc thực hiện đúng cách. Chúng tôi sẽ không đợn phư­ơng rút quân mà không đạt được những mục tiêu của chính sách chúng tôi tại dó.*82

Ba tháng sau, ngày 5 tháng 5 năm 1972, sau khi công du Bắc Kinh trở về, lổng Thống Nixon lại gửi cho TT Nguyễn Văn Thiệu một lá thư nữa, trong đó ông nói rằng:

Toi muốn bảo đảm với Tổng Thống rằng tôi cũng cùng quan điểm với Tổng Thống: “khả năng tự vệ của Việt Nam
 

*82 Jeffrey Kimball: sđd, trang 202-203. 
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cộng Hoà là chiếc chià khoáí để bảo đảm cho một nền hoà b́nh lâu dài trong vùng Đông Dương. "         

Như Tổng Thống cũng nhận thấy, ngoại trừ một sự thống trị toàn diện tại Đông Dương, phe Cộng sản ở Đông Dương xem bất cứ một giải pháp  nào khác chỉ là một sự ngừng bắn chiến lựơc mà thôi. Đây có lẽ là một điểm mà chúng ta cần phải cảnh giác. Trong bản Thông Cáo Chung tại Thự­ơng Hải  ngày 27 tháng 2 năm 1972, tôi đă minh định tại Thượng Hải minh định rằng mục tiêu của Hoa Kỳ tại Á Châu và trên thế giới là đạt đựơc một nền “hoà b́nh công cím và an ninh " (íust and secure) -công chính để hoàn thành những nguyện vọn của của các dân tộc và các quốc gia mong ước đựơc sống trong tự do và tiến bộ, và an ninh để không phải lo âu ǵ đến hiểm bọa bị ngoại bang xâm lăng. Chính v́ một nền hoà b́nh công chính và an sinh nhu vậy mà cả hai quốc gia chúng ta đă chiến đấu từ bao lăm qua. Tổng Thống có thể tin chắc rằng tôi sẽ làm bất cứ điệu ǵ trong phạm vi khả năng và quyền hạn của tôi để bảo đảm rằng những sự hy  sinh vô bờ bến của nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ trở thành vô ích .

"Hoa Kỳ không hề có thương thuyết điều ǵ sau lưng những người bạn của n­ớc Mỹ,  không hề có “một thoả ư­ớc mật” (secret deals) nào cả. Trong khi thương thuyết với Trung Hoa Cộng sản, chúng tôi đă căn cứ trên lập trường vững chắc là Hoa Kỳ luôn luôn tôn trọng những sự cam kết của  nước Mỹ. Khi đề cập đến vấn đề Đông Dương tôi dă nhấn mạnh đến lập trường của Hoa Kỳ một cách rơ rệt và cương quyết  như đă nói đến trong bản Thông Cáo Thượng Hải. Trung Hoa Cộng sản không thể nào có thể nhầm lẫn được về ước vọng  chân thành đối với ḥa b́nh của chúng ta và Trung Cộng cũng không thể nào nhầm lẫn được về sự quyết tâm của chúng ta đối với nguyên tắc tôn trọng quyền tự quy ết của nhân dân miền Nam Việt Nam." *83

Như vậy th́ những điều mà Tổng Thống Nixon "hứa hẹn, cam kết, bảo đảm" với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại hoàn toàn không đúng như là những lời mà Tiến sĩ Kissinger, cũng nhân danh Tổng Thống Hoa Kỳ, đă hứa hẹn, đă cam kết với Thủ Tướng Trung Cộng Chu ân Lai vào tháng 7năm 1971.

Theo một bản phúc tŕnh của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia gửi cho Ngoại Trưởng Kissinger ngày 12 tháng 3 năm 1975 th́ "vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1975, có các phái đoàn cao cấp của Liên Xô và Trung Cộng bất thần đến viếng thăm Hà Nội”.  Không hiểu các nhà lănh đạo của Trung Cộng có tiết lộ điều ǵ về những sự thương thuyết giữa Tiến Sĩ Kissinger với Chu ân Lai hồi năm 1971 với Cộng sản Bắc Việt hay không, tuy nhiên nếu có, nếu Chu ân Lai hay một nhân vật Trung Cộng cao cấp nào đó mà tiết lộ với một người của Cộng sản Bắc Việt chỉ một câu "chúng tôi sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam" của Tiến sĩ Kissinger th́ giới lănh đạo Cộng sản Bắc Việt cũng đă có đủ yếu tố, có đủ điều kiện cần thiết để quyết định kế hoạch tổng tấn công miền Nam Việt Nam vào năm 1975 mà không hề lo sợ bị Hoa Kỳ trả đũa.

Chu Ân Lai Sang Hà Nội và Mùa Hè Đỏ Lửa

Sự thật th́ chính Chu Ân Lai đă sang tận Hà Nội để
 

*83: Nguyễn Tiến H­ng & Jerrold Schecter: Sđd., trang 367: Bức th­ thứ nh́ trong 31 bức th­ của Tổng Thống Nixon gửi cho Tổng Thống Thiệu 

 

"thông báo' cho Bắc Việt biết về những chi tiết liên quan đến Việt Nam trong cuộc tiếp xúc với Tiến sĩ Kissinger, Cố

Vấn của Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Sau năm 1975, trong một cuốn sách nhan đề “Các

Cuộc Thương Lượng Lê Đức Thọ-Kissinger Tại Paris," tác giả Lưu Văn Lợi, một phụ tá cho Lê Đức Thọ trong phái đoàn của Bắc Việt tại Hội Nghị Paris và vào năm 1961 đă tham dự Hội Nghị Genève về Lào, có tiết lộ cho biết rằng chỉ hai ngày sau khi Kissinger rời Bắc Kinh th́ Chu ân Lai đă bí mật sang Hà Nội:

"Ngày 13 tháng 7 năm 1971, Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bí mật qua Hà Nội thông báo việc Kissinger đi

Bắc Kinh. Chu Ân Lai nói:

Vân đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc

gặp gở giữa chúng tôi và Kissinger.

Vấn dề quan trọng hơn hết là vấn đề Việt Nam. Chúng tôi nói với Kissinger rằng chúng tôi kiên quyết ủng hộ 7 điểm của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Các ông pbải rút khỏi Đông Dương không điều kiện, phhải rút hết, phải định thời hạn rút hết hải, lục, không quân, lính thủy đánh bộ, căn cứ quân sự, quân cảng. Nhưng Kissinger nói Mỹ sẽ giữ lại một số cố vấn kỷ thuật. Về chính  tri, Mỹ  không muốn bỏ Nguyễn Văn Thiệu.

Trong cuộc trao đối với Việt Nam (Hà Nội,) Chu Ân Lai nói rơ thêm là Hoa Kỳ không đ̣i quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam nhưng họ đ̣i quân đội miền Bắc phải rút khỏi Lào và Campucbia. Theo ư ông Chu, vấn đề rút quân khỏi Việt Nam trở thành vấn đề số một của Mỹ, việc công nhận Trung Quốc là vấn đề số bai. Cuộc đàm phán Paris trở thành vấn đề then chốt, giai đoạn mấu chót là từ nay đến tháng 5 năm 1972. Các đồng chí Việt Nam bắt bọ rút trong năm nay, Trung Quốc ủng bộ các đồng chí đ̣i họ rut trong năm nay.

"Kissinger c̣n nói khi về Parisn sẽ gặp lại Lê Đức Thọ và nêu lên 4 điểm:

-Mỹ sẽ rút quân trong 12 tháng

-Tù binh cũng thả trong 12 tháng

-Pbải ngừng bắn toàn diện

-Phải tôn trọng Hiễp  Định  Genèce.*84

Sự kiện Thủ Tướng Chu ân Lai cắp tốc bay sang Hà Nội chỉ hai ngày sau khi gặp gỡ Kissinger cho thấy rằng Trung Cộng rất quan tâm đến vấn đề Việt Nam, không hiểu Chu ân Lai có tiết lộ ǵ thêm hay có khuyến cáo ǵ khác hay không, tuy nhiên theo tài liệu này th́ Chu Ân Lai có nói rằng "giai đoạn mấu chốt là từ nay đến tháng 5 năm 1972” và Cộng sản Bắc Việt có lẽ đă nghe theo lời khuyên cáo đó khi họ cho mở những cuộc tổng tấn công tại nhiều nơi ở Miền Nam gây ra chết chóc cho hàng chục ngàn người mà cho đến bây giờ người miền Nam cũng không ai có thể quên được tháng 5 năm 1972" đó, về sau đă được nhà văn Phan Nhật Nam đặt tên là "Mùa Hè Đỏ Lửa" và riêng tại tỉnh Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến, hàng vạn người dân vô tội già trẻ lớn bé đă bị giết một cách vô cùng dă man dưới cơn mưa của đạn đại bác do Cộng sản Bắc Việt pháo kích trên một đoạn đường hơn m­ời mấy cây số trên quốc lộ số 1 chạy vào Huế, về sau được các kư giả ngoại quốc gọi là "Đại Lộ Kinh Hoàng."

Đối với những người b́nh th­ờng th́ tháng 5 năm l972 cũng chẳng có ǵ đặc biệt, tuy nhiên đối với các nhà lănh đạo Trung Cộng th́ tháng 5 năm 1972 lại vô cùng quan trọng v́ đó là thời gian mà Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon chính thức sang tham dự hội nghị thượng đỉnh tại
 


*84: Lưu Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ: Các Cuộc Thương Lượng Lê Đức Thọ Kissinger Tại Paris, sách được bán tại Hoa Kỳ, không ghi tên nhà xuất bản, trang 176-177
 

Mạc Tư Khoa với Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev ngày 21 tháng 5 năm 1972. ư đồ của Trung Cộng là sau khi đón tiếp Tổng Thống Hoa Kỳ viếng thăm Trung Hoa Cộng sản lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 2 năm 1972, Mao Trạch Đông âm mưu sẽ dùng đàn em Cộng sản Bắc Việt gây áp lực quân sự nặng nề ở miền Nam Việt Nam trước và trong thời gian Tổng Thống Nixon sang Mạc Tư­ Khoa và cũng rất có thể tạo ra một nguyên nhân nhằm gây mâu thuẫn trầm trọng khiến cho phía Hoa Kỳ nghĩ đến việc có thể hủy bỏ hội nghị này giữa hai đại cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô.

Và Trung Cộng đă suưt thành công trong mục tiêu này.

Ngày 1 tháng 5 năm 1972, Cộng sản Bắc Việt xua quân chính quy vượt sông Bến Hải tấn công vào tỉnh Quảng Trị. Chiều hôm đó, Đại Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam (MAC-V) đă đánh một bức điện văn tŕnh cho TT Nixon biết "tỉnh Quảng Trị đă rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt và trận chiến tấn công vào Huế đă bắt đầu. Tướng Abmms nói rằng tỉnh Quảng Trị không lấy ǵ làm quan trọng, chỉ có thể ảnh hưởng  đến tinh thần của miền Nam mà thôi, tuy nhiên nếu mất Huế th́ hậu  quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. "

Tổng Thống Nixon sau đó đă nói với Tiến sĩ Kissinger: Chúng ta sẽ phải cho những người bạn Xô-Viếtt của chúng ta biết rằng tôi sẵn sàng hủy bỏ cuộc bội nghị thựơng đỉnh Mỹ-Liên Xô nếu đó là cái giá mà họ nghĩ rằng chúng ta sẽ phải trả. Tôi sẽ không dự hội nghị trong bất cứ trường hợp nào nếu mà chúng ta vẫn c̣n gặp khó khăn tại Việt Nam."*85

Mấy hôm sau, Tổng Thống Nixon nói thêm: "Bây giờ

trong trường hợp này, giác quan thứ  sáu cho tôi thấy  một

 

*85: Richard Nixon: The Memoirs of Richard Nixon, Grosset & Dunlap. New York, 1978. trang 594-595.
 

điều rất rơ  ràng: bất cứ điều ǵ khác xảy ra  th́ chúng ta cũng không thể thua cuộc chiến tranh này Hội nghị thượng đỉnh chẳng đáng giá “con mẹ” ǵ cả (the summit isn’t worth a damn) nếu cái giá phải trả cho nó là sự thất trận ở Việt Nam”*86  

Bất chấp đến hậu quả là Liên Xô có thể hủy bỏ cuộc Hội nghị Thượng đỉnh Mạc Tư Khoa, sau đó TT Nixon ra lệnh tái oanh tạc các mục tiêu quân sự tại Bắc Việt và phong tỏa hải cảng Hải Pḥng. Liên Xô chỉ phản đối lấy lệ, tuy nhiên ông Dobrynin, Đại sứ Liên Xô tại Hoa Thịnh Đốn đă nói với Kissinger một câu cay đắng: “Tại sao mà các  ông chống lại chúng tôi khi mà chính Hà Nội mới là những kẻ gây sự?”*87 

             Sau đó th́ hội nghị thượng đỉnh vẫn tiếp diễn như thường lệ, các nhà lănh đạo Liên Xô đón tiếp phái đoàn Tổng Thống Nixon rất trọng thể và thân thiết, tuy nhiên ông Nixon cho biết rằng “trong một phiên họp kín, Tổng Bí Thư Leonid Brezhnev đă giận dữ la lối lên rằng thay v́ cùng nhau hợp tác để t́m kiếm sự kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, tôi đă cố tâm t́m cách dùng Trung Cộng như là một phương tiện để làm áp lực Liên Xô phải can thiệp với Bắc Việt”*88

Chính Lê Đức Thọ, Cố vấn Phái đoàn Bắc Việt tại Hội đàm Paris cũng có nhận định tương tự: “Nixon sang Trung Quốc th́ Liên Xô không thể nào không mời Nixon (sang Nga Xô) để Nixon đừng đi quá xa với Trung Quốc chống Liên Xô. Con bài Mỹ đặt ra là làm sao đê các nước anh em giảm viện trơ cho Việt Nam nhằm hạn chế thắng lơi của ta. Cái mấu chốt chính của nó là ở đó”*89

 

*86: Richard Nixon: Sđd. trang 602

*87: R. Nixon: Sđd, trang 605.

*88: R. Nixon: Sđd. trang 613

*89 L­u Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ: Sđd. trang 223.
 

Nhà ngoại giao Cộng sản Bắc Việt Lưu Văn Lợi cho biết về ư nghĩa của cuộc tổng tấn công này nh­ sau:

           “Cuộc tiến công Xuân Hè của ta đă diễn ra sau khi Nixon đi Trung Quốc và trước khi ông ta đi Liên Xô. Không những thế, nó c̣n kéo dài nhiều tháng nữa..

         “Điều đó cho thế giới thấy rơ công việc của Việt Nam là do người Việt Nam giải quyết và cũng chứng minh cho Washington biết rằng cả Trung Quốc và Liên Xô vẫn giúp cho ta”*90

Cuộc “tổng công kích 1972” mà Cộng sản Hà Nội gọi là cuộc tiến công Xuân Hè đă gây ra cái chết cho trên 30,000 thường dân vô tội tại miền Nam và hai mục tiêu mà họ "giải phóng" là thành phố Quảng Trị th́ vài tháng sau cũng được quân lực Việt Nam Cộng Ḥa tái chiếm và tỉnh ly An lộc bị Cộng sản vây hăm sau cùng rồi cũng được quân đội Việt Nam Cộng Ḥa giải tỏa. Đối với các giới quan sát quốc tế th́ cuộc tổng tấn công của Cộng sản Bắc Việt tại miền Nam vào mùa hè năm 1972 đă không thành công v́ sự chống trả mănh liệt của các đơn vị Việt Nam Cộng Ḥa và nhất là sự quyết tâm của Tổng Thống Nixon trong việc yểm trợ cho đồng minh Việt Nam Cộng Ḥa. Trong giác thư gửi cho Tổng Bí Thư Brezhnez, ông đă nói rơ:

“Chúng tôi chấp nhận việc các ông trơ giúp cho đồng minh của các ông và ông cũng không thể nào làm khác hơn được, đó là ta cũng như như tất cả các đại cường quốc hăy cùng nhau trợ giúp cho đồng minh của chúng ta chỉ trong mục đích pḥng thù đất nước của họ trong âm mưu mở những cuộc xâm lang các nước  
 

*90: Lưu Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ: Sđd. trang 216.
 

lân bang của họ.*91

Vào mùa Xuân năm 1975, ông Richard Nixon không c̣n ngồi ở chức vụ tổng thống Hoa Kỳ nữa v́ ông đă từ chức từ năm l974, tuy nhiên cố vấn của ông là Tiến Sĩ Henry Kissinger vẫn c̣n ngồi trong chính phủ của Tổng Thổng Ford trong chức vụ ngoại trưởng, tức là chức vụ có trách nhiệm giải quyết vấn đề Việt Nam.

Đối với Ngoại trưởng Henry Kissinger, một năm rưưởi sau khi Hiệp định Paris được  kư kết cũng là một “quảng thời gian vừa đủ " (decent interval) để cho nước Việt Nam Cộng Ḥa có thể tồn tại với sự hiện diện của gần nữa triệu quân đội Cộng sản Bắc Việt tại miền Nam. Ông John Ehrlichman, Phụ Tá của Tổng Thống Nixon về các Van Đề Quốc Nội (Assistant to the President for Domestic Affairs) có kể lại rằng sau khi Hiệp định Paris được kư kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, ngày hôm sau Kissinger trở về Hoa Thịnh Đốn. Ông Ehrlichman gặp Kissínger tại Pḥng Lincoln trong Ṭa Bạch Ốc và đă hỏi Kissinger:

" Theo anh th́ miền Nam Việt Nam có thể c̣n tồn tại  được bao lâu nữa?')

Kissinger trả lời như sau: “Tôi suy nghĩ rằng nếu may mắn th́ bọ có thể giữ đựơc chừng một năm rưỡi".*92

Từ tháng Giêng năm 1973 cho đến tháng 4 năm 1975 th́ cũng gần một năm rưỡi, đó là một khoảng thời gian vừa đủ coi được rồi và người Mỹ nhắm mắt làm ngơ mặc cho Cộng sản Bắc Việt muốn làm ǵ th́ làm.

Bắc Việt cũng biết rơ như vậy và họ đă cướp thời cơ.
 

*91: R. Nixon: Sđd.. trang 605.

*92: John Ehrlichman: Witness to Power, the Nixon Years, trang 288
 

Cướp Thời Cơ

Trong thư của Lê Duẩn, Tổng Thư Đảng Lao Động Việt Nam gửi cho “Anh Bảy Cường” tức là Phạm Hùng, Bí Thư Đảng ủy Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam ngày 10 tháng 10 năm 1974 có nói rơ về “thời cơ” như sau:

“Gửi anh Bảy Cường

“Hơn  một tuần làm việc, Bộ Chính Trị chúng ta đă hạ quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đây là một sự kiện vô cùng trọng đại để tiến tới kế thúc cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài gần 30 năm, kể từ khi chúng ta dành được chính quyền, để hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm vẻ vang đối với dân tộc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế lớn lao đối với thời đại.
            
               “Hiện nay đă có thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam hay chưa?

            Lúc nầy, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ nầy, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn …

            “Mỹ  th́ đă thua, đang rút ra, trước mắt muốn giữ t́nh h́nh miền Nam ổn đinh trong một số năm để ngụy quyền tiếp tục đứng vững Mỹ có thời gian vượt qua những khó khăn lớn về kinh tế và chính trị trong nước.  Riêng "lực lượng so sánh " (tương quan lực lượng) giữa ta và ngụy th́ ta đang ở thế thắng, thế tiến lên; trái lại, v́ thất bại liên tiếp thế và lực lượng của ngụy cả về chính trị và quân sự, đang xuống dốc”.

“Xét tất cả các mặt nói trên, chúng ta khẳng định đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, dành thắng lợi trọn vẹn cho cách mang

 

từ trang 165 đến  trang 174 

dân tộc dân đồng thời giúp Lào và Camphuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân  tộc.

“Ngoài thời cơ này không c̣n thời cơ nào khác.

Nểu để chậm mươi, mươi lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được hồi phục th́ t́nh h́nh sẽ phức tạp vô cùng..”

“Thời cơ này không cho phép lừng chừng, do dự! *93

Bức thư này kư tên “anh Ba” tức  là Lê Duẩn đă cho thấy giới lănh đạo Cộng sản Bắc Việt biết rằng thời cơ đă đến.

Thời cơ thực sự đến sau khi Vùng I Chiến Thuật với 5 tỉnh cực bắc của VNCH tan ră.

Ngày 29 tháng 3, ngay sau khi chiếm được toàn thể vùng 1 Chiến thuật Lê Duẩn đă nhân danh Bộ Chính trị gửi một bức điện văn cho “anh Bảy Cường" tức là Phạm hung Bí' thư Đảng ủy Trung Ương Cục Miền Nam “Về Chia Cắt và Bao Vây Chiến Lựơc Phía Tây  Sài G̣n" nguyên văn như sau:

“Gửi anh Bảy Cường,

T́nh h́nh biến chuyển mau lẹ. Cuộc cách mạng miền nam đang bước vào giai đoạn nhảy vọt.

Sau khi ta giành được những thắng lợi to lớn và dồn dập, địch bị thất bại hết sức nặng nề và bất ngờ, chế độ ngụy đang trước nguy cơ đổ nhanh chóng cả về quân sự và chính trị.

Tôi rất đồng ư với các anb là lúc này cần bành động hết sức kịp thời, kiên quết và táo bạo. Trên thực tế, có thể có chiến dịch giải phóng Sài g̣n bắt đầu từ đây.
 

*93: văn Kiện Đảng: “Thư của Đồng Chí Lê Duẩn gửi Đồng Chí Pllạm Hùng Về kết Luận của Hội Nghị Bộ Chính Trị," trang 7-20.
 

Trong khi gấp rút xúc tiến thực hiện quyết tâm chiến lược đă định, tôi nhấn mạnh một điểm cấp thiết phải làm ngay là mạnh bạo tăng thêm lực lượng thực hiện chia cắt và bao vây chiến lược phía tây Sài G̣n ở vùng Mỹ Tho, Tân An.

Chúc các anh khỏe và thắng to.

Ba

(tức là Lê Duẩn)*94

Hai ngày hôm sau, Lê Duẩn lại gửi một điện văn đề

Ngày 31tháng 3 vào miền Nam như sau:

“Gửi anh Bảy Cường, anh Sáu (Lê Đức Thọ) và anh Tuấn (Văn Tiến Dũng)

T́nh h́nh biến chuyển nhanh, cần tranh thủ thời gian hành động khẩn trương. V́ vậy anh Tuấn nên sớm vào gặp anh Bảy Cường ở Trung Ương Cục để bàn ngay kế hoạch đánh chiếm Sài G̣n. Anh Sáu sẽ vào luôn trong đó họp. Anh Bảy Cường sẽ không ra Tây Nguyên nữa.

Ba (Lê Duẩn)

Qua ngày hôm sau, 1 tháng 4 năm l975, Lê Duẩn lại gửi diện văn số 956 chỉ thị " Về việc xúc tiến kế hoạch  tổng tấn công và nổi dậy ở Sài G̣n-Gia Địnb. Lập Ban Chỉ Huy và Đảng Ủy Mặt Trận Sài G̣n"

Trong bức điện văn này, đại ư Lê Duẩn nói rằng Hà Nội đă tiêu diệt và làm tan ră được 35 phần trăm sinh lực địch, giải phóng 12 tỉnh, trước t́nh h́nh đó, Bộ Chính trị
 

*95: văn kiện Đảng:
*95: Văn kiện Đảng: trang 220
----------------------------------------------------------------------------------------------------

nhận định rằng:

“Ta đă  có sức mạnh áp đảo, địch  đang đứng trước nguy cơ sụp đỗ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể nào cứu văn đựơc t́nh thế của ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đă bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cớ để mở tấn tổng tiến công và nổi dậy tại Sài G̣n-Gia Định đă chin muồi. Từ giờ phút nầy, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đă bắt đầu

Sau đó, Lê Duẩn chỉ thị phải gấp rút tăng thêm lực lượng ở  Sài G̣n, thực hiện chia cắt và bao vây chiến lược, triệt hẳn đường số 4 và áp sát  Sài g̣n, bao vây, cô lập hoàn toàn Sài G̣n từ phiá Long Kbánb, Bà Rịa-Vũng Tàu; tổ chức sẳn sang những đơn vị chủ lực được trang bị binh khí, kỷ thuật taht65 mạnh để lúc thời cơ xuất hiện th́ tức khắc đánh chiếm những mục tiêu quan trọng ở trung tâm thành phố Sài G̣n

Lê Duẩn cho biết: “Quân Ủy Trung Ương đă quyết định nhanh chóng chuyển quân Đoàn 3 cùng binh khí, kỷ thuật từ Tây Nguyên xuống đồng thời đă ra lệnh cho quân đaon2 dự bị vào và đồng thời Bộ Chính Trị quyết định thành lập Bộ Chĩ Huy và Đảng ủy Mặt trận Sài G̣n  để tập tru ng, thống nhất cao độ sự lănh đạo và chỉ đạo đối với chiến trường trọng điểm nầy. Khi anh Sáu, anb Tuấn vào đến nơi th́ các anh trao đổi ư kiến để thực hiện ngay”*96

Qua ba bức điện văn của Lê Duẩn này, người ta thấy rơ giới lănh đạo Cộng sản Hà Nội đă quyết tâm đánh Sài G̣n để chiếm trọn miền Nam Việt Nam từ sau ngày Vùng I thất thủ và Hà Nội không hề nghĩ đến chuyện thương tuyết hay lập chính phủ ḥa giải ḥa hợp dân tộc" theo

 

*96: văn kiện Đảng: trang 221-224.
 

tinh thần Hiệp định Pa-ri với bất cứ phe nhóm nào, chẳng hạn như “thành phần thứ ba” hay là “Nhóm Ḥa Giăi Ḥa Hợp Dân Tộc của khối Ấn Quang; với bất cứ nhân vật nào tại miền Nam chẳng hạn nư là­ Dương Văn Minh như một số người, kể cả giại sứ pháp Mérillon, đă tưởng t­ượng. 

Chiến Dịch Hồ Chí Minh

Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Văn Tiến Dũng triệu tập một phiên họp của toàn thể Ban Chấp Hành Trung Ương của Trung ương Cục Miền Nam Việt Nam tại Lộc Ninh th́ một người khách th́nh ĺnh xuất hiện, đó là anh Sáu  tức là Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính trị, “Huy chương Nobel Hoà b́nh năm 1974” và cũng là nhân vật Số Hai của chế độ Cộng sản Hà Nội. Đây là lần thứ tư­ Lê Đức Thọ vào Miền Nam với tư­ cách là đại diện cho Bộ Chính Trrị, trước đó “anh Sáu Thọ” đă vào chỉ đạo cho Trung ương Cục vào những năm 1967 , 1971 và 1972. Lê Đức Thọ mang những huấn thị cuối cùng của Bộ Chính Trị về việc thiết lập một “ Bộ tư lệnh đặc biệt chỉ huy cả Trung ương cục miền Nam” để phối hợp các cuộc hành quân tấn công Sài G̣n. Trước đó một ngày, Lê Duẩn đă gửi điện văn số 05 ngày 6 tháng 4 chỉ định tướng Văn Tiến Dũng làm Tư Lệnh Mặt Trận Sài G̣n, Phạm Hùng làm Chính ủy, Trần Văn Trà làm Phó tư lệnh thứ nhất kiêm Tham mưu trưởng, “Sáu Nam" tức là Lê Đức Anh làm Phó Tư lệnh và Lê Ngọc Hiền làm Tham M­u phó. Dĩ nhiên là Lê Đức Thọ có nhiệm vụ chỉ huy toàn thể bộ tư lệnh đặc biệt này, đó là "Bộ Tư Lệnh Chiến dịch 275” và đến ngày 14 tháng 4 th́ Bộ Chính Trị quyết định đổi tên chiến dịch này thành Chiến Dịch Hồ Chí minh." Lê Đức Thọ cũng chuyển đến cho các thành viên trong Bộ Tư­ Lệnh một văn thư của Chủ Tịch Nhà Nước Tôn Đức Thắng nguyên văn như sau: ”Các đồng chí phải chiến thắng. Nếu không th́ đừng có trở về. "

V́ có lệnh của Hà Nội như vậy cho nên dù chư được  chuẩn bị sẵn sàng, Bộ Tư­ Lệnh này đă ra lệnh cho Quân đoàn 4 khởi sự tan công vào Xuân Lộc, nơi đặt bộ tư­ lệnh của Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Trận Xuân Lộc 

Ngày 9 tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt tập trumg 3 sư đoàn 6, 7 và 341 chính quy tấn công vào thị xă Xuân Lộc. Sư đoàn 18 Bộ Binh của VNCH dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo đă anh dũng chống cự lại những đợt tấn công của địch đông gấp 4 lần. Trung Đoàn 43 Bộ Binh đă anh dũng đẩy lui hết đợt tấn công này đến đợt tan công khác của địch và đến ngày 10 tháng 4 th́ địch quân vẫn chưa có thể chế ngự được trung đoàn này. Ngày 11 tháng 4, Cộng quân tấn công Trung Đoàn 52 Bộ Binh ở phía Đông Xuân Lộc, nhưng nhờ có lực l­ượng Biệt Động Quân và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tăng cường, cũng như là Không Quân đă liên tục oanh kích nặng nề vào các đơn vị Cộng sản khiến cho địch quân phải rút lui tại nhiều nơi. Ngày 12 tháng 4, Trung Đoàn 43 đă tái chiếm được thị xă

Xuân Lộc trong khi Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù đang từ từ tiến chiếm lại từng khu vực do Cộng quân chiếm giữ từ phía Nam thị xă. Trong trận Xuân Lộc, Cộng quân đă pháo kích 10,000 viên đạn đại bác 13O ly vào thị xă, một số lớn chiến xa, 37 chiếc T54 bị tiêu diệt và kể từ khi mở đầu cuộc tổng

tấn công tại Miền Nam, đây là lần đầu tiên quân Cộng sản thiếu đạn dành cho pháo binh và chiến xa v́ bắn nhiều. Tướng Văn Tiến Dũng phải cho tăng viện thêm hai sưđoàn 325 và 312 cho chiến trường Xuân Lộc. Dù được tăng viện nhưng Cộng sản cũng không thể chiếm được thị trấn này mà không bị tổn thất nâng nề hơn, Văn Tiến Dũng ra lệnh cho các đơn vị Cộng sản tiến ṿng qua thị xă Xuân Lộc rồi theo quốc lộ số 1 tiến th­ẳng về Biên Hoà.

Trong cuốn sách “Chặng Dường Mười Ngàn Ngày” do Quân Đội Nhân Dân xuất bản tại Hà Nội vào năm l990, Thượng tướng Hoàng Cầm, cựu Tư lệnh Quân đoàn 4 của Cộng sản Bắc Việt tức là đại đơn vị có trách nhiệm tấn công Sư Đoàn 18 ở Xuân Lộc vào năm 1975, đă thú nhận rằng ba sư đoàn 6, 7 và 341 bị tổn thất rất nặng và phải được tăng viện thêm Trung Đoàn 95B từ Quân khu 5 vào. Hoàng Cầm cho biết lực lựợng của Cộng sản bị thiệt hại nặng cho đến nỗi cuộc tấn công bị khựng lại và bộ tư lệnh của ông ta không khỏi lo sợ, do đó mà bộ tư­ lệnh chiến Dịch 275 dưới quyền của Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng phải ra lệnh cho Tướng Trần Văn Trà đến ngay mặt trận Xuân Lộc để duyệt xét t́nh h́nh. Tướng Hoàng Cầm cũng cho biết thêm rằng ông ta đă yêu cầu hoăn lại cuộc tấn công vào Xuân Lộc một thời gian để tái tổ chức các đơn vị của ông nhưng lời yêu cầu này đă bị bác bỏ. Tướng Trần Văn Trà lúc đó là Tư­ lệnh B-2 tức là miền Nam Việt Nam đă cho biết rằng đó là lệnh của Hà nội và Bộ Chính Trị ra lệnh phải đánh mạnh và đánh nhanh để tiến về Sài G̣n.

Trong cuốn hồi “Kết Thúc Cuộ Chiến 30 Năm”, Tập 5," Trần Văn Trà cũng nh́n nhận là ba sư­ đoàn của Hoàng Cầm bị thiệt hại quá nhiều và ông ta nhận thấy rằng càng tấn công trực diện vào Xuân Lộc th́ càng bị thiệt hại thêm mà cũng chưa chắc ǵ đă chiếm được thành phố này. Do đó Trần Văn Trà đă ra lệnh cho Hoàng Cầm rút quân ra khỏi Xuân lộc để tái tổ chức rồi tấn công vào Dầu Giây, cắt đứt đường tiếp tế cho Xuân Lộc. Hoàng Cầm tuân theo chỉ thị này và cho quân tấn công chiếm Dầu Giây trên Quốc Lộ số 1. Sau khi Dầu Giây bị chiếm, pḥng tuyến Xuân Lộc không c̣n hữu ích trong việc ngăn chận sức tiến của quân Cộng sản nữa, Quân Đoàn III phải ra lệnh cho Sư­ Đoàn 18 triệt thoái về hướng Biên Hoà.

Ngày 23 tháng 4 năm l9755, các đơn vị của Sư­ Đoàn 18, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù cùng các đơn vị địa Phương Quân và nghĩa Quân thuộc Tiểu khu Long Khánh triệt thoái về đến căn cứ Long B́nh ở Biên Hoà. Khác với cuộc triệt thoái Cao Nguyên trước đây, cuộc rút quân này diễn ra hoàn toàn tốt đẹp và nhiều kư giả ngoại quốc đă không tiếc lời khen ngợi tài chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo trong cuộc hành quân triệt thoái này.

Trận Xuân Lộc giữa S­ư Đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà với Quân Đoàn 4 của Cộng sản Bấc Việt là trận đánh cuối cùng giữa lục lượng của hai miền Nam và Bắc Việt Nam và trận đánh đó đă biểu dương được tinh thần chiến đấu anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, chỉ có một sư đoàn mà đă chống trả lại sự tấn công của quân địch quân số gấp 4 lần và sau này chính người chỉ huy các lực l­ượng Cộng sản Bắc Việt trong trận đánh này là Tướng Hoàng Cầm cũng phải thừa nhận đó là một sự thất bại của họ vào năm 1975.

Trong khi Sư­ Đoàn 18 đang chống trả lại cuộc tấn công của Quân Đoàn 4 Cộng sản Bắc Việt tại Xuân Lộc th́ t́nh h́nh quân sự chung quanh Sài G̣n càng trở nên tồi tệ hơn và các lực lượng của Cộng sản đă bắt đầu gây áp lực trầm trọng và đe dọa Biệt Khu Thủ Đô tức là vùng thủ đô Sài G̣n. Tại vùng tây-bắc Sài G̣n, Sư­ Đoàn 25 Bộ Binh đă rút khỏi Tây Ninh về lập tuyến pḥng thủ ở Hiếu Thiện, Đức Hoà, Đức Huệ và Củ Chi. Về phía bắc, Tiểu khu B́nh Long cũng rút khỏi An Lộc trở về vùng do Sư Đoàn 5 Bộ Binh kiểm soát ở Lai Khê, tỉnh B́nh Dương

Trong khi t́nh h́nh quân sự trên đà suy sụp như­ vậy th́ t́nh h́nh chính trị tại Sài G̣n cũng đă bất đầu có nhiều biến đổi.

Tổng Thống Thiệu Bị Mất Uy Tín

Cho đến đầu tháng 4 năm l975, chỉ trong ṿng không đầy 4 tuần lễ sau khi Cộng sản mở đầu cuộc tổng tấn công tại Ban Mê Thuột, 20 tỉnh và thị xă, gần một nửa lănh thổ Miền Nam bị mất và về phía quân đội th́ 2 quân đoàn I và II tức là một nửa quân đội bị tan ră.

Đó là những thất bại quá lớn lao, quá nhục nhă cho Miền Nam Việt Nam và do đó, uy tín của Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu ngày càng xuống giốc. Từ các tướng lănh trong quân đội, các đoàn thể chính trị cũng như là tôn giáo, từ giới trí thức cho đến giới b́nh dân, nhiều người đă bày tỏ sự bất măn với chính quyền của Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu và từ đầu tháng 4 năm 1975, có nhiều tin đồn về một vài âm mưu đảo chánh để loại trừ ông Nguyễn Văn Thiệu ra khỏi chính quyền.

Tổng Thống Thiệu đă phản ứng bằng biện pháp mạnh: ngày 27 tháng 3 năm 1975, chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă cho bắt giữ một số người trong giới chính trị và cả một số kư giả v́ họ bị nghi ngờ là có dính líu đến một vài âm mưu đảo chánh, nhưng đây chỉ là một số cá nhân không nắm giữ một chức vụ quan trọng nào.

Thật ra th́ sự chống đối TT Nguyên Văn Thiệu đă bắt đầu từ thời gian hơn một năm về trước.

Phân Bộ lập Pháp của Đảng Dân Chủ Khuyến Cáo

Trước đó, vào năm 1973 cũng đă có những ư kiến chống đối phát xuất ngay trong hàng ngũ các vị dân biểu và nghị sĩ ủng hộ TT Nguyễn Văn Thiệu. Vào cuối năm 1973 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă mời một số dân biểu và nghị sĩ trong Phân Bộ Lập Pháp của Đảng Dân Chủ của ông đến dự một buổi họp tại Dinh Độc Lập. Trong buổi họp mặt này Nghị sĩ Trần Trung Dung, đại diện cho Thượng Viện và Dân biểu Phạm Văn Út, đại diện cho Hạ Viện đă đọc hai bài diễn văn khá dài và sau khi nghe xong, TT Nguyên Văn Thiệu và các quan khách như Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm v.v. đều phải giật ḿnh, kinh ngạc.

Trong hai bài diễn văn này, về sau được gọi là "Bản Khuyến cáo Hành Pháp, các vị nghị sĩ và dân biểu thuộc Đảng Dân Chủ đă khuyến cáo Hành Pháp phải sửa đổi đường lối chính sách, phải có chính sách huấn luyện cán bộ, phải đưa những người có khả năng và trong sạch nắm giữ những chức vụ điều khiển then chốt trong chính phủ và quân đội, phải bài trừ tham nhũng nhất là bài trừ nạn “mua

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***
từ 175 đến  trang 184
 

quan bán tước  v.v. ngơ hầu có thể đương đầu với những cuộc tấn công sắp tới của Cộng sản và khuynh hướng giải kết của đống minh Hoa Kỳ. Bản khuyến cáo nói rằng Miền Nam Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm, nếu không cải cách và sửa đổi th́ không thể nào chống lại đ­ợc các cuộc tấn công của Cộng sản trong những ngày sắp tới không xa và đất nướ( sẽ bị rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt.

Một nhân vật cao cấp của Đảng Dân Chủ hồi đó có cho ng­ời viết biết rằng hai bài diễn văn đó chỉ là phần nổi của bản khuyến cáo, c̣n có “phần ngầm" liên quan đến vấn đề quân sự, vấn đề các tiền đồn với quân số ít ỏi trú đóng trong các vùng ven biên, cận sơn hào lánh nhằm mục đích chiếm đất dành dân không cho Cộng sản chiếm giữ tức là không nhựơng đất cho Cộng sản." Bản khuyến cáo nói rằng giữ các tiền đồn đó mà không có đủ khả năng và phương tiện tiếp viện và giải cứu khi bị Cộng sản tấn công với quân số đông gấp bội th́ việc đó sẽ gây ảnh h­ởng tâm lư vô cùng bất lợi cho tinh thần anh em chiến sĩ, tại nhiều địa phương, v́ quân số quá nhỏ, các tiền đồn này đă làm ngơ hay có nhiều khi đồng ư để cho các đơn vị Cộng sản lớn hơn đi qua và như vậy th́ mất uy tín với dân chúng địa phương. V́ các đơn vị quân đội bị phân tán quá mỏng nên không thể đối phó hữu hiệu khi địch mở các cuộc tấn công quy mô, do đó “Bản Khuyến Cáo” yêu cầu chính phủ phải xét lại và thay đổi chính sách về quân sự, nên triệt thoái các tiền đồn ở những vùng xa xôi hay tại những vùng “xôi đậu” để tránh tiêu hao lực lượng và đưa họ về tăng cường cho các đơn vị bảo vệ vùng đồng bằng, như vậy th́ sự pḥng thủ sẽ hữu hiệu hơn. Thực ra th́ điều khuyến cáo này không có ǵ là mới lạ v́ Tướng Tred Sarong, vị cổ vấn bán chính thức người Úc của TT Thiệu cũng đă có đề nghị tương tự nh­ vậy: ông Sarong đề nghị với TT Thiệu là nên triệt thoái khỏi vừng rừng núi cao nguyên mà chỉ nên bảo vệ vùng đồng bằng, duyên hải mà thôi.

Điều quan trọng hơn cả là trong bản khuyến cáo này, các vị nghị sĩ và dân biểu cũng cảnh cáo về nạn "lín ma lính kiểng” rất trầm trọng trong quân đội và sau cùng đ̣i hỏi hành pháp phải thay thế hai vị tư­ lệnh Quân đoàn II và Quân đoàn lV tức là Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

Về nạn "lính ma lính kiểng," chính Đại Tướng Cao Văn Viên cũng phải thừa nhận: "Sự khiếm khuyết của các lực lượng Địa Phương quân và Nghĩa Quân (ở vùng IV) bắt nguồn từ sự yếu kém về  tinh thần và “quân số không đầy đủ”  ở các đơn vị. Để giải quyết những khuyết điềm trên, Bộ Tổng Tham Mưu mở một cuộc điều tra để t́m nguyên nhân. Tháng 11 năm (1974) cuộc điều tra đưa đến quyết định giải nhiệm Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh Vùng IV. *97

Khi nghe xong hai bài diễn văn đó, Tổng Thống Thiệu đă có thái độ bất b́nh và giận dữ, ông đă bỏ bữa tiệc ra về cùng với phái đoàn của hành pháp. Tuy các vị đại diện cho Thượng và Hạ Viện đứng ra đọc hai bài diễn văn này nhưng bên trong th́ ông Thiệu biết rằng người đưa ra những ư kiến chính trong hai bài diễn văn đó chính là ông Nguyễn Văn Ngân, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thống Thiệu. Mấy tháng sau, ông Ngân bị băi nhiệm, sau đó được sang Hoa Kỳ và Canada "dưỡng bệnh" vào khoảng hơn nửa năm trời mới được cho về nước, nhưng vào đầu tháng 4 năm 1975 th́ TT Thiệu lại ra lệnh bắt giam ông Ngân sau khi Thượng Viện thông qua quyết nghị lên án chính sách của TT Thiệu và bất tín nhiệm nội các  Trần Thiện Khiêm. Ông Ngân bị gi­am giữ cho đến ngày 27 háng 4 năm trước khi “trao quyền” cho Dương Văn Minh, ông được Tổng Thống Trần Văn Hương ra lệnh trả tự do cùng với một số người bị

 

*97 cao văn viên: sđd, trang 73.

 

TT Thiệu bắt giam hồi đầu tháng 4.

Không rơ TT Thiệu có nghe lời khuyến cáo của nhóm dân biểu nghị sĩ này hay không, tuy nhiên đến tháng 11 năm 1974 th́ Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị mất chức Tư­ Lệnh Vùng IV và một tháng sau đó th́ Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn cũng bị mất chức Tư Lệnh Vùng II. Riêng về đề nghị rút quân ở những vùng hẻo lánh về tăng c­ờng cho vùng duyên hải th́ đến ngày 14 tháng 4 năm 1975, TT Thiệu đưa ra chiến lược gọi là "Dầu teo Đít to" (Light at the Top, Heavy at the Bottom) hay là “tái phổi trí lực lượng” và ra lệnh cho Tướng Phú triệt thoái Quân đoàn 11 về vùng duyên hải, nhưng lúc đó th́ ngay cả Tướng Ted Sarong, người đă đề nghị kế hoạch này, cũng nói với TT Thiệu rằng " đă quá trễ rồi. "*98

Tướng Cao Văn Viên cho biết rằng lần đầu tiên TT Thiệu đề cập đến chiến lược này vào ngày 11 tháng 3 một ngày sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, với Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Đặng Văn Quang và ông tại Dinh Độc Lập: " Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có chắc chắn chúng ta không thể nào bảo vệ được tất cả lănh thổ chúng ta muốn bảo vệ như vậy chúng ta nên tái phối trí lực lượn và bảo vệ những vùng đông dân cư, trù phú v́ những vùng đất đó mới thực sự quan trọng”. Ba ngày sau tại Cam Ranh, TT Thiệu ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú triệt thoái Quân Đoàn II về vùng duyên hải để "tái phối trí lực lượng." Như vậy th́ những điều khuyến cáo của các nghị sĩ và dân biểu trong Phân Bộ Lập Pháp của Đảng Dân Chủ hồi cuối năm 1973 sau này đều được TT Thiệu thực hiện, tuy nhiên theo Đại Tướng Cao Văn Viên th́ "chúng ta chỉ có thể hỏi là tại sao TT Thiệu phải chờ lâu như vây để áp dụng kế hoạch tái phối trí”*99

 

Chông Đối Từ Phía Thiên Chúa Giáo

 

Sư chống đối Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại bùng lên vào nửa năm sau đó, lần này lại phát xuất từ phía các đoàn thể thiên Chúa Giáo chống lại chính quyền của Tổng Thống Thiệu, cũng là một tín đồ Thiên Chúa giáo.

Ngày 18 tháng 6 năm 1974, một bản " Tuyên Ngôn Chống Tham Nhũng, Bất Công và Tệ Đoan Xă Hội của Hàng Linh Mục Việt Nam" được công bố tại hội trường Giáo Xứ Tân Sa Châu tại Sài G̣n, mang chữ kư của 301 vị linh mục đại diện cho các giáo phận, các viện đại học, ủy ban Giáo Dục Công giáo Việt Nam, Chủ tịch Văn Bút Việt Nam, giám đốc và giáo sư các chủng viện, bề trên các ḍng tu, tuyên úy Công giáo trong quân đội và các tổ chức khác v.v. Nội dung bản tuyên bố lên án nạn tham nhũng ngày càng trở nên trầm trọng khiến bộ máy chính quyền chẳng những không c̣n phục vụ quyền lợi quốc gia mà đă thành nơi hoành hành của những tổ chức "Mafia”' trong chính quyền, cấu kết với gian thương để bóc lột dân chúng. Bản cáo trạng cũng lên án Tổng Thông Nguyễn Văn Thiệu về nạn mua quan bán tước như sau:

"Những ai buôn và ai bán? Đặc biệt là ai có quyền bán khi sự bổ nhiệm các tỉnh trưởng, thị trưởng, sư đoàn trưởng va tư lệnh quân khu đều thuộc quyền Tổng thống Thiệu? Nếu ông không bán th́ ai bán? Và như vậy th́ vấn đề lănh đạo đựơc đặt ra.”

 

*99: Cao Văn Viên : sđd, trang 129-131.

 

Bản cáo trạng kêu gọi và nhắn nhủ giáo dân hưởng ứng Bức Thư Chung của Hội Đổng Giám Mục Việt Nam ngày 29 tháng 9 năm 1973 và bản Tuyên Ngôn ngày 10 tháng 1 năm 1974 cũng của Hội Đồng Giám Mục lên tiếng để báo động về việc đất nước có thể mạt vong v́ nạn tham nhũng và kêu gọi mọi người tham gia vào một cuộc cách mạng để cứu nước.

Bản tuyên ngôn của Hàng Linh Mục Việt Nam kết luận nh­ư sau:

          "Bảy trăm năm trước,ThánhThomas D’Aquin đă nói: "Chính quyền chuyên chế là bất công v́ không hướng đến công ích mà chỉ hướng đến tư lợi của người cầm quyền. Cho nên sự lật đổ cbê độ đó không có tính cách phản nghịch.Chính quyên chuyên chế đă phản nghịch bằng cách gây xáo trộn, rối loạn trong dân chúng họ cai trị để thống trị được chắc chắn hơn (Summa Ila Ilahe). "

"Các huấn thị của Hội thánh nói trên phù hợp với tinh thần dân chủ Đông Phương như Mạnh Tử đă nói “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh”, cũng như với trào lưu dân chủ hiện đại mà Hiến Pháp Việt Nam Cộng Ḥa đă long trọng công nhận khi ghi vào Điều I khoản 2 như sau: “Chính quyền Quốc gia thuộc về toàn dân”

 “Mặc dầu thế, chúng tôi không muốn gây xáo trộn bởi quốc gia đă chịu quá nhiều xáo trộn. Chúng tôi chỉ  muốn lên tiếng cảnh tỉnh v́ sự sống c̣n của dân tộc để chính quyền kịp thời sửa sai, thay đổi hoàn toàn chính sách và nhân sự hầu tránh sụp đổ trước khi quá muộn. Nếu không chịu sửa sai để đất nước này lâm vào thế mạt vong th́ chắc chắn Quân, Dân sẽ không chịu cúi đầu cam chịu làm vật hy sinh măi cho một thiểu sổ tham nhũng không c̣n biết đến Dân tộc và Tổ quốc là ǵ nữa. Khi âư, cùng tất biến, những, những ǵ phải xảy ra sẽ xảy ra, ngoài ư muốn của chúng tôi, bởi lẽ như Thánh Thomas D’Aquin đă nói: '”Chính Quyền Đă Phản Ngbịch”.*100 .

Sau bản tuyên ngôn này, ngày 8 tháng 9 năm 1974 một bản cáo trạng mang tên là "Bản Cáo Trạng Số 1” do phong trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng Để Cứu Nước và Kiến Tạo Hoà B́nh do Linh mục trần Hữu Thanh, Phó Giám Tỉnh Ḍng Chúa Cứu Thế làm chủ tịch, nêu lên những tr­ờng hợp tham nhũng và kịch liệt chỉ trích Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu và tố cáo ông về 6 vấn đề như sau:

-Sử dụng một đại đội Công Binh và 30 triệu đồng của ngân sách quốc gia để tu bổ ba căn nhà trong Bộ Tổng Tham Mưu, ngoài ra ông c̣n có một biệt thự trên đường Phan Đ́nh Phùng trị giá 40 triệu đồng, một biệt thự ở đường Công Lư trị giá 98 triệu đồng và một căn biệt thự ở Thụy Sĩ. Ông lấy tiền ở đâu ra? '

-Chiếm 5 mẫu đất cạnh hồ Xuân Hương ở Đà Lạt trị giá lên tới 60 triệu đồng. Ngoài ra ông c̣n sở hữu một sở đất sau trường Đại Học Đà Lạt, mấy trăm mẫu gần Gia Rai trên Quốc Lộ 1, mấy trăm mẫu ở Long Khánh, Gia Định và những nơi khác.

-Bao che cho ông Nguyễn Xuân Nguyên, chủ tịch Công Ty Phân Bón Hải Long, anh em cột chèo của ông, đầu cơ tích trữ phân bón khiến cho giá phân trên thị trường tăng lên cao vọt, do đó công ty này đă kiếm lời lên tới hang chục tỷ đồng. Khi Thượng Viện thành lập một ủy ban điều tra về vụ phân bón và sắp sửa kết tội ông Nguyễn Xuân Nguyên th́ Tổng Thống Thiệu đă mời ủy ban này vào Dinh Độc Lập đưa cho ông xem hồ sơ và sau khi xem xong th́ ông đă giữ hồ sơ lại và “yêu cầu Ủy Ban đừng làm khó dễ

 

 

*100: Nguyễn Trân: Công và Tội, Xuân Thu Los Alamitos, 1992, trang 729.

 

 công ty của chúng tôi nữa." Sau chuyện này, khi ủy BanĐiều tra Th­ợng Viện gửi văn thư mời ông Nguyễn Xuân Nguyên ra điều trần th́ ông này ỷ thế vào ông Thiệu mà không them ra trả lời những chất vấn của Ủy Ban

           -Dựa vào cuốn sách The Politics of Heroin in Southeast Asia xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 1972 trong đó tác giả Alfred W Mccoy có nói rằng " Việc buôn bán bạch phiến ở miền Nam Việt Nam được tổ chức dưới sự bảo trợ của hai ông tổng thống và thủ tướng và tố cáo đích danh phụ tá Quân sự và An ninh của TT Thiệu, Trung Tướng Đặng Văn Quang, là người trực tiếp chỉ buy hệ thổng buôn lậu từ nước ngoài và phân phối khắp 4 quân khu ..." Bản cáo trạng nói rằng nếu Tổng Thống Thiệu cho rằng sự tố cáo này là vô căn cứ th́ tại sao ông không đi kiện tác giả cuốn sách này trước ṭa án quốc tế v́ đây không phải chỉ là riêng cá nhân ông mà cả danh dự quốc gia Việt Nam bị bôi nhọ.

(ghi chú của người việt. Năm 1975, cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm được hội đủ điều kiện để di dân vào Hoa Kỳ theo quy chế ty nạn và đến thập niên 1980 th́ cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng được di dân vào nước Mỹ theo quy chế thường trú nhân, điều này có nghĩa là sau cuộc điều tra của các cơ quan an ninh Hoa Kỳ, những lời kết án của Alfred Mccoy bị xem là không có giá trị v́ đối với luật pháp Hoa Kỳ th́ không có một cá nhân nào có dính dáng đến việc buôn bán ma túy mà lại được vào sinh sống tại Mỹ. Riêng trường hợp Trung Tướng Đặng Văn Quang, cựu Phụ Tá về Quân sự và An Ninh của TT Thiệu th́ v́ những điều tố cáo trong cuốn sách này và những lời khai của nhiều nhân chứng trong đó có một vị cựu nghị sĩ, chủ tịch ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện VNCH là ông Phạm Nam Sách mà ông Quang đă không được cho phép vào ty nạn tại Hoa Kỳ. Ông Quang sau đó đ­ợc chính phủ Canada cho vào ty nạn v́ ông có người con đang theo học ở Canada.)

-Điều tố cáo cuối cùng là việc đầu cơ gạo tại miền Trung mà người chủ chốt là thương gia Phạm Sanh, chủ tịch Nam Việt Ngân và bà Ngộ thị Tuyết, cô ruột của Tổng Thống Thiệu và mẹ đẻ của ông Hoàng Đức Nhă, tổng trưởng dân vận chiêu hồi.

Bản cáo trạng kết luận nh­ sau:

“Tổng thống Nguyễn văn Thiệu trả lời như thế nào với quốc dân và quốc dân phải làm ǵ đối với ông?

  Đó là 2 vấn đề phải được tức khắc giải quyết tức khắc trên căn bản công bằng:

- Những ǵ của Quân Đội pbải trả cho Quân Đội

-Những ǵ của Quốc Gia phải trả cbo Quốc Gia.

- Những ǵ của Dân Tộc phải trả cho Dân Tộc."

Sau bản cáo trạng số 1, đến ngày 3 tháng 2 năm 1975, "Bản Cáo Trạng Sổ 2 " ra đời. Người soạn thảo bản cáo trạng số 2 là Nghị sĩ Phạm Nam Sách, Chủ Tịch ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện và ông đă tố cáo “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă phản bội tổ quốc và phá hoại quốc gia để mưu cầu quyền tư lợi riêng”

Gần đây, một người bạn của người viết ngày xưa đă có thời giữ một chức vụ quan  nói cho ng­ời viết biết rằng chính một vị tướng lănh rất cao cấp đă cung cấp những tin tức liên quan đến việc tố cáo Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho ông Hà Thúc Kư, lănh tụ đảng Đại Việt Cách Mạng và ông Kư đă cung cấp những chi tiết này cho Linh Mục Trần Hữu Thanh và Nghị sĩ Phạm Nam Sách. Tưởng cũng nên nhắc lại, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đều là đảng viên của đảng Đại Việt và cả 2 nhân vật nầy đă tuyên thệ vào đảng với ông Hà Thúc Kư vào hồi đầu thấp niên 1960.

Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cũng nói gần như vậy: "Ngoài Cha Thanh là người chống đối mặt nổi c̣n có ông Hà thúc Kư hiệp lực "hoạt động ch́m" với phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng. Tôi nhờ ông Trần Quốc Bửu liên lạc để tôi đượcđược gặp hai nhân vật nầy … Sau khi ông Bửu tiếp xúc với Cha Thanh và ông Hà Thúc Kư, giải thích lập trường và mục tiêu của tôi khi nhận lời lập nội các để giúp nước th́ Cha Thanh và ông Hà Thúc Kư đồng ư là nếu chưa thay được Tổng Thống Thiệu th́ phải thay Thủ Tướng Khiêm...Ngoài ra ha nhân vật nầy cũng ngỏ ư là tôi khỏi phải đến gặp họ để tránh mọi ngộ nhận hau dị nghị. Thú thật tôi vô cùng phấn khởi trước thái độ cao quí của hai nhân vật lănh tụ khả kính nầy”*101

Người viết cũng có dịp hỏi Luật sư Đinh Thạch Bích, cũng là một thành viên trong Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh về bản cáo trạng này th́ được ông cho biết rằng những điều tố cáo trong bản cáo trạng cũng có phần nào sự thật, tuy nhiên ông cho biết rằng ông sinh hoạt với phong trào của Linh mục Trần Hữu Thanh với tư cách là đại diện cho nhóm Luật sư­ Tranh Đấu do Luật Sư Trần Văn Tuyên làm chủ tịch chứ không phải là phụ tá của Linh mục Trần Hữu Thanh như một số người lầm tưởng. Ông cho biết rằng về sau th́ ông mới biết rằng ông đă lầm khi ông biết mục đích của Linh mục Trần Hữu Thanh lúc đó là thi hành một chính sách của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo la Mă do Đức Giáo Hoàng Paul II chủ trương nhằm tách rời Giáo Hội ra ngoài ảnh hưởng của chính quyền VNCH ngơ hầu bảo vệ cho tín đồ Thiên Chúa giáo và dễ bề đối thoại' với phe Cộng sản một khi họ thắng và nắm được chính quyền tại Miền Nam.

 

*101 Nguyễn Bá Cẩn: Sđd., trang 382-383.

 

Phật Giáo Ḥa Hảo Chống Đối

Phật giáo Ḥa Hảo là một tôn giáo lớn tại miền Nam và trong suốt thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, không có sự chống đối nào quan trọng giữa Ḥa Hảo và chính quyền, tuy nhiên, đến đầu năm 1975 th́ gần như toàn thể khối Ḥa Hảo ở miền Tây đă nổi lên chống lại chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cho biết: "Khi Tướng Nguyễn Khoa Nam về làm Tư  Lệnh Vùng IV ông đă tiếp xúc với Phật Giáo Ḥa Hảo và đề nghị với đoàn thể này thành lập những đợn vị quân sự gia nhập vào Quân Lực VNCH để bảo vệ vùng châu thổ sông Cửu Long.

           "Đề nghị của Tướng Nguyễn Khoa Nam  phù hợp với nguyện vọng của người Ḥa Hảo nên bai bên đă thỏa thuận được với nhauu một cách nhanh chóng. Chính phủ thỏa ước nầy và ra lệnh lệnh thảo một quy chế cbo các đơn vị Ḥa Hảo.

Trong khi  đó th́ mùa gặt đến . Thừơng th́ đó là thời kỳ mà chính phủ bỏ lơ việc t́m bắt những người trốn lính để cho việc gặt hái không bị cản trở. Mỗi năm cứ đến mùa gặt, Bộ Nội Vụ lại gởi cho các chính quyền địa phương một công  điện ra lệnh không đước ngăn trở việc đi lại của công nhân lo việc gặt hái. Đó là tiếng lóng để bảo cho các cảnh sát viên không được bắt những người trốn lính từ các làng xă đi ra và đến các vùng có lúa cần gặt. nhưng nếu muốn không bị cảnh sát bắt, những người thợ gặt lại phải nạp cho cảnh sát sát một phần số tiền công họ thâu hoạch được.

Trong mùa gặt năm 1974, cảnh sát biết rằng những người Ḥa Hảo trốn lính rồi sẽ nhập ngũ vào quân đội (theo công thức Nguyễn Kboa Nam), nên đó là lần chót mà bọ có

The Final Struggle and the Fall of South Vietnam. bài thuyết tŕnh tại Đại học Glassboro. New Jersey ngày 7 tháng 4 năm 1986.

 

 

 năm 1975. .. Sau đó cảnh sát c̣n bắt giam các chỉ huy trưởng và chỉ huy phó Bảo An tại tỉnh An Giang, quận Huệ Đức Ḥa B́nh Thạnh, quận Châu Thanh, quận Thốt Nốt. Nhiều vị chi huy Bảo An trong quận Cbợ Mới và Châu Thành cũng bị bắt. Trng việc nầy, cảnh sát đă cung cấp cho các cố vấn Hoa Kỳ Vùng 4 những tin tức sai lạc. Các báo cáo sơ khởi cho biết rằng có 600 Bảo An bị bắt, 184 vơ khí bị tịch

thâu.

Cồ vần Hoa Kỳ lập tức phản đối và yêu cầu TT Thiệu giải thích về hành động này. Ông trả lời  rằng đă giao cbo Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo thương lương, như­ng cồ vấn Mỹ) không tin vào điều đó v́ có những nguồn tin từ phía Việt Nam cho họ biết rằng TI Thiệu đă quyệt định giải giới và giải tán Bảo An để pḥng ngừa việc Phật giáo Ḥa Hảo có thể trực tiếp trhương thuyết ngưng bắn với phía Cộng sản.

Tháng 2 năm 1975, t́nh h́nh miền Nam suy đồi mau chóng, dư luận không c̣n chú ư đến vấn đề Bảo An nữa. Ba tháng sau, miền Nam thất thủ." *103

Đa số dân chúng miền Nam theo Phật giáo và những người theo Phật giáo cũng như­ là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tức là phe ấn Quang, trước đây vẫn thường chống ông Thiệu, nay lại có thêm những bản tuyên bố và cáo trạng xuất phát từ phía những người theo Thiên Chúa giáo mà ông Thiệu lại là một tín đồ của tôn giáo này, thêm vào đó ông Thiệu lại bị khối Phật giáo Ḥa Hảo với trên 3 triệu tín đồ chống đối, như vậy th́ đây là một dấu hiệu cho thấy Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă bị mất uy tín quá nhiều trong quần chúng, tuy nhiên ông Thiệu vẫn không hề nghĩ đến chuyện từ chức, có lẽ v́ ông nghĩ rằng

 

*103: William cassidy: Thư viết cho tập san Đuốc Từ Bi Phật giáo Ḥa Hảo. Califomia. số 26 ngày 1 tháng 5 năm 1987.

 

 quân đội và người Mỹ vẫn c̣n ủng hộ ông.

Trong mấy thập niên, điều kiện cần và đủ để lănh đạo miền Nam Việt Nam là sự ủng hộ của ng­ời Mỹ và quân đội. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tin rằng ông vẫn c̣n được ng­ời Mỹ ủng hộ và sự chống đối chính quyền của ông, nếu có đi chăng nữa, th́ cũng không mấy quan trọng v́ ông vẫn c̣n được quân đội ủng hộ, dù rằng ông cũng có nghe những tin đồn về đảo chánh.

Trước đó khoảng hơn một tuần lễ, sau khi Bắc Việt đă chiếm được các tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum và Phú Bổn, sau khi tỉnh Quảng Trị tại vùng địa

đầu giới tuyến bị Cộng sân Bắc Việt xâm chiếm vào tối ngày 19 tháng 3 và Huế đang bị cô lập v́ quân Cộng sản đă cắt đứt Quốc Lộ số 1 từ Huế vào Đà Nẵng, Tổng Thống Gerald Ford đă gửi một bức thư cho Tổng Thống Thiệu. Bức th­ này được chuyển từ Bạch Cung đến toà đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington vào ngày 22 tháng 3 và đă được Đại sứ Trần Kim Phượng chuyển về Sài G̣n bằng công điện. Trong thư này, Tổng thống Ford có nói như sau:

"Những cuộc tấn công này của Bắc Việt đă mang đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho cả bai quốc gia chúng ta. Đổi với Tổng Thống và nhân dân Việt Nam, đây là lúc mà quư vị phải chịu đựng những sự by sinh tối trhượng, đây là thời điểm đánh dấu sự quyết định về định mệnh của đất nước của quư vị.

"tôi tin chắc rằng dưới sự lănh đạo của Tổng thống, quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà sẽ tiếp tục công cuộc chiến đâú kiên tŕ  để chống lại những âm mưu xâm lược mới này của Bắc Việt. Tôi cũng tin tưởng một cách chắc chắn rằng nếu có thêm sự ủng bộ từ bên ngoài th́ Tổng Thống và nhân dân miền Nam sẽ thắng trong công cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ quyền tự quyết của ḿnh.

“Tôi, về phần chính cá nhân tôi, đă quyết tâm rằng Hoa Kỳ sẽ cương quyết ủng bộ Việt Nam Cộng Hoà trong giai đoạn quyết định đầy sinh tử này. Nhắm vào mục đích tôn trọng những trách nbhiệm của Hoa Kỳ trong t́nh trạng nầy, tôi đang theo dơi mọi biến chuyển một cách vô cùng thận trọng và tham khảo một cách khẩn cấp với các cổ vấn của tôi về những biện pháp để đối phó với t́nb h́nh đang đ̣i hỏi và luật pháp cho phép. Về phần trợ giúp quân sự cho đội Việt Nam, xin Tổng Thống tin tưởng một cách chắc chắn rằng tôi sẽ cố gắng hết sức để đáp ứng được mọi nhu cầu mà quân đội của quư vị đang cần tại chiến trường.

"Để dứt lời, tôi mong được nhắc lại ở đây rằng tôi tiếp tục vô cùng ngưỡng mộ về sự quyết tâm của Tổng Thống cũng như là ḷng kiên quyết và can đảm của nhân dân Việt Nam Cộng Hoà."*l04

Như vậy th́ cho đến cuối tháng 3 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tin rằng ông vẫn c̣n được Tổng Thống Ford của Hoa Kỳ "ủng bộ," "ngưỡng mộ," có nghĩa là người Mỹ vẫn c̣n ủng hộ ông, do đó mà cho đến khi miền Nam Việt Nam đă mất gần một n­ữa phần lănh thổ ông vẫn không hề có ư định từ chức.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ đọc qua bức thư của Tổng Thống Gerald Ford cho nên không hiểu được ẩn ư trong lá thư ngoại giao này: ông Ford đă nói rằng "tôi'

nhấn mạnh thêm "về phần cá nhan tôi” tức là ông ta có ư nói rằng ông ta chỉ viết lá thư nói trên nhân danh cho riêng cá nhân của ông “đă quyết tâm rằng Hoa Kỳ sẽ cương quyết ủng bộ việt Nam Cộng Ḥa trong giai đoạn quyết định đầy sinh tử nầy” chứ không có nhân danh nước Mỹ v́ lúc đó ông ta đă biết rất rơ rằng Quốc Hội thứ 94 với thêm 75 tân

 

*104: Nguyễn Tiến Hưng& Jenold Schecter, Sđd. trang 437: "Letter 35- Ford to Thieu, March 22, 1975" với ghi chú: "thư này sau khi được giải mă (decoded) đă có nhiều lỗi về Anh ngữ và chính tả."

 

 dân biểu đảng Dân Chủ mới đắc cử vào tháng 1 1 năm 1974 đă cùng với những dân biểu và nghị sĩ phản chiến nổi tiếng như Hubert Humphrey, Mike Mansfield, Edward Kennedy …v…v đang phát động một chiến dịch không những chống lại mà c̣n chấm dứt việc tiếp tục viện trợ cho Việt Nam.

Trong khoảng thời gian này, một số người Mỹ đă có nhận định nư­ sau về Tổng Thống Thiệu: " Trong mùa đông đầỳ giá buốt của sự bất măn tại Nam Việt Nam, nhà vua (ông Thiệu) ngồi không yên trên ngai vàng của ông." *105

 

Hai Viện Quốc Hội Chống TT Thiệu

 

Vào cuối tháng 2 năm 1975, một sự kiện chính trị được xem như là vô cùng quan trọng diễn ra ngay tại thủ đô Sài G̣n, lần này những người chống đối không phải là các vị thượng tọa, đại đức của Phật giáo, cũng không phải là các vị giám mục, linh mục của Thiên Chúa giáo và cũng không phải là tín đồ Phật giáo Ḥa Hảo mà lại là các vị dân biểu quốc hội: một số dân biểu đă đập bàn la ó và đốt h́nh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại trụ sở Hạ Nghị viện để phản đối chính sách của ông.

Mùa đông càng trở nên buốt giá hơn sau khi Đà Nẵng bị thất thủ vào ngày 29 tháng 3 rồi th́ những tỉnh c̣n lại của Vùng I Chiến Thuật liên tiếp bị rơi vào tay quân Bắc Việt ngày 2 tháng 4 năm 1975, một sự kiện chính trị quan trọng khác lại diễn ra tại Sài G̣n và lần này th́ cơ quan hiến định c̣n lại của chế độ Việt Nam Cộng Hoà đă bày tỏ

 

*105: The Vietnam Experience: "The False Peace." Trang 156: "In the chill winter of South Vietnam's discontent, the king sat uneasy on his throne."

 

 sự mất tin t­ởng đối với chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trong một phiên họp tại Hội Trường Diên Hồng vào ngày 2 tháng 4, Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hoà đă thông qua một bản quyết nghị kết tội lổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về những thất bại quá nhục nhă của miền Nam Việt Nam: một nửa lănh thổ bị mất và một nửa quân đội bị tan ră. Trong phần mở đầu của bản quyết nghị, các vị nghị sĩ đă không nêu lên vấn đề bất tín nhiệm ông Thiệu v́ việc đó không có quy định trong hiến pháp, tuy nhiên họ đă bày

tỏ sự một tin tưởng vào sự lănh đạo của Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu. Sau đó, Thượng Nghị Viện đă bày tỏ việc bất tín nhiệm chính phủ của Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, một điều có ghi rơ trong hiến pháp, và đ̣i hỏi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải cải tổ chính phủ để thành lập một tân nội các đ­ợc mở rộng với sự tham gia của các thành phần đối lập.

Thượng nghị viện của Việt Nam Cộng Hoà gồm có 60 vị nghị sĩ và từ trước cho đến lúc này th́ ông Thiệu luôn luôn được sự ủng hộ của đa số nghị sĩ, tuy nhiên trong khi bỏ phiếu th́ có 42 phiếu ủng hộ bản quyết nghị này và chỉ có 10 phiếu chống, như­ vậy có nghĩa là trong số 60 nghị sĩ, chỉ c̣n có 10 ng­ời ủng hộ Tổng Thống Thiệu mà thôi. Một vị nghị sĩ trước đây từng ủng hộ Tổng Thống Thiệu đă bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, có cho biết rằng chiều 2 tháng 4 năm 1975, khi ông vào văn pḥng của vị chủ tịch Thượng Viện th́ thấy nghị sĩ Trần Văn Lắm đầu bù tóc rối đang gục trên bàn, mặt mũi bơ phờ như­ người mất hồn và ông Lắm cho biết rằng ông vừa mới tŕnh cho ông Thiệu biết về kết quả của cuộc bỏ phiếu hồi sáng hôm đó. Nghị sĩ Trần Văn Lắm là một trong những ng­ời lănh đạo nhóm đa số ủng hộ Tổng Thống Thiệu tại Th­ợng Nghị Viện.

Hai ngày sau khi bản quyết nghị này được Thượng Nghị viện biểu quyết thông qua, vào khoảng nửa đêm về sáng ngày 5 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Tướng Nguyễn Khắc B́nh, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia bắt giam một số nhân vật chính trị trong đó có ông Nguyễn Trân, cựu tỉnh trưởng Nha Trang và Mỹ Tho, nhà báo Đinh Từ Thức, ông Lê Văn Thái, một người được dư luận trước đó xem như là có nhiều liên hệ mật thiết với Tướng Nguyễn Cao Kỳ và đặc biệt là ông Nguyễn Văn Ngân, cựu phụ tá về Liên Lạc Quốc Hội của chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu v.v.

 

Quân Đội Dự Định Đảo Chánh?

 

Về phía quân đội th́ sau vụ hai miền Cao nguyên và miền Trung bị thất thủ, cũng có nhiều tin đồn nói rằng sẽ có đảo chánh để lật đổ chính quyền của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.

Ông Trần Văn Đôn cho biết rằng "Đầu tháng 4 năm 1975, có một sổ sĩ quan định đảo chính. Tôi không hiểu kế hoạch và dự án đảo chánh này, tôi chỉ biết là họ sẽ cho ông Thiệu lưu  vong ở Tân Tây Lan rồi ở trong nước họ sẽ làm theo kế hoạch và đường lối của Mỹ. Trong số sĩ quan đựơc chỉ thị đem quần đảo chánh là Đại Tá chỉ huy trưởng trường thiết giáp ở ngoại Ô Sài G̣n. Đảo chánh muốn thành công phải nhờ ở thiết giáp v́ đó là binh chủng có phư­ơng tiện hữu hiệu. Trước khi vô chiểm Sài G̣n th́ ông đại tá đó nói với Hoàng Đức Nbă, lúc đó không c̣n làm chức vụ ǵ nhưng v́

là bà con nên ông Nhă nói lại với ông Thiệu. Ông Thiệu lập tức ra lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư­ Iệnb Quân Đoàn III đang ờ miền Đông Sài G̣n ra lệnh báo động về quân sự, cấm không được di chuyển đợn vị nào và chuẩn bị sẵn sàng ứng chiến.”* 106

Tin đồn về đảo Chánh do ông Trần Văn Đôn tiết lộ ở trên không những không có ǵ đáng tin cậy mà lại c̣n có vẻ khôi hài v́ có không có người nào dự định đảo chánh TT Nguyễn Văn Thiệu mà lại đi "nói l­ới Hoàng Đúc Nhă “ cả, ngay cả một đứa con nít ở miền Nam cũng phải biết rằng ông Hoàng Đức Nhă là em cô cậu của TT Thiệu.

Những tin đồn loại này không có ǵ kiểm chứng và hồi đó không có tướng lănh nào xác nhận, tuy nhiên gần đây, Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, cựu Tư Lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ Binh và Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III có viết một bài trên báo nói về vai tṛ của Lữ đoàn 3 Kỵ Binh và trong đó Tướng Khôi có nhắc qua về chuyện này:

"ở Sài G̣n có âm mưu lật đổ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tôi đươc móc nối đảo chánh nhưng cương quyết từ chổi và tuyên bố chống lại. Tôi cho những người này là một bọn mù quáng, ngu xuẩn, không thấy hiểm họa Cộng sản ngay trước cổng nhà ḿnh."*l07

Tư­ớng Trần Quang Khôi đă đích thân nói ra như vậy th́ đó là một nguồn tin đáng tin cậy. Tuy ông không nói rơ ai là người móc nối và ai là người chủ x­ớng âm mưu đảo chánh, nhưng những tin đồn phát xuất từ phía Hoa Kỳ cho biết rằng người đó là cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ.

Trong Decent Interval, Frank Snepp cho biết rằng sau khi Nha Trang thất thủ và Thượng Viện thông qua quyết nghị lên án TT Nguyên Văn Thiệu và bất tín nhiệm chính phủ Trần Thiện Khiêm th́ "ông Nguyễn Cao Kỳ nghĩ rằng một quyết nghị như vậy chẳng có ǵ là hữu ich cho nên bắt

đầu chuẩn bị làm đảo chánh. V́ nhóm “không quân" của ông ta chẳng c̣n có thực lực cho nên ông đă đi t́m sự hâu

 

*106: Trần Văn Đôn: Sđd, trang 445.

*107: Hà Mai Việt: sđd, trang 369. '

 

 thuẩn của nhiều “bạn bè cũ” đang cầm quân và một trong những người đó là Chuẩn Tướng Lê Minb Đảo đang làm Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc. Nhưng Tướng Đảo từ chối tham gia nếu không có sự đồng ư của Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Kỳ bèn đến gặp Tướng Cao Văn Viên vào buổi

trưa ngày 2 tháng 4 để yêu cầu ông Viên tham gia nhưng ông Viên chỉ “ừ à” rồi hẹn sẽ trả lời trong ṿng một vài ngày. Chiều hôm đó, Đại Tướng Cao Văn Viên gặp Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và báo cho ông Khiêm chuyện âm mưu đảo chánh. Ông Viên đề nghị ông Khiêm “phối kiểm” với người Mỹ xem họ có đứng sau lưng ông Kỳ hay không. Trong ṿng khoảng một tiếng đồng hồ, ông Khiêm hỏi Thomas Polgar (trùm CIA ở Sài G̣n) về chuyện đảo chánh

th́ đựơc Polgar cho biết một cách rất minh bạch rằng người Mỹ không hề ủng bộ một cuộc đảo chánh do ông Kỳ hay phe của ông Kỳ chủ trương v́ cả đám này không hội đủ điều kiện để đựơc xem như là những thành phần "ôn ḥa hay”trung dung " để thương lượng với cộng sản Bắc Việt. "

Frank Snepp cho biết thêm rằng sau đó TT Thiệu nghe phong phanh chuyện này, nhất là sau khi ông Hoàng Đức Nhă báo cáo với ông về âm m­u đảo chánh do một nư­ời quen ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức cho biết, ông ta trở nên nghi ngờ cả Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và do đó khi biết được như­ vậy, ông Khiêm đă xin từ chức thủ tướng vào ngày 3 tháng 4 năm l975 *l08

Đại sứ Hoa Kỳ cũng có nghe nói về những tin đồn đảo chánh. Vào ngày 17 tháng 4 năm 1975, Đại Sứ Graham Martin đă phúc tŕnh với Ngoại Trưởng Kissinger rằng "Có tin đồn một sổ tướng lănh đang dự định lật đổ Tổng Thống Thiệu một khi mà Quốc Hội Mỹ bác bỏ đề nghị viện trơ bổ

 

*108: Frank Snepp: sđd, trang 286-287.

 

túc cho VNCH. Tôi (Đại sứ Martin) tin tưởng rằng nếu có một cuộc thương thuyết th́ sự hiện diện của Tổng Thống Thiệu sẽ là một trở ngại và trừ khi Ngoại trưởng (Kissinger) không cho phép, tôi dự định sẽ nói chuyện thẳng với ông Thiệu rằng vai tṛ của ông Thiệu trong lịch sử sẽ được nhớ đến một cách tốt đẹp hơn với những thành quả mà ông đă làm, trái lại nếu ông ta c̣n ngôi lại quá lâu th́ ông ta sẽ bị xem nư­ là người đă thất bại, người đă ngăn cản những nỗ lực nhằm cứu văn cho phần đất c̣n lại của Việt Nam c̣n có được một phần nào tự do. Tôi sẽ nói rơ ràng như pha lê với TT Thiệu rằng

đây chỉ là ư kiến của cá nhân tôi, như là “một người bạn luôn luôn chỉ muốn nói sự thật” và sẽ kết luận một cách rất khách quan rằng nếu ông Thiệu không làm điều này th́ các tướng lănh của ông sẽ ép buộc ông phải ra đi" *l09

Trước những sự chống đối từ nhiều phía và nhất là có những tin đồn về đảo chánh như vậy nhưng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa cho thấy có dấu hiệu nào ông ta sẽ từ chức. Ngày 14 tháng 4 năm 1975, trong khi Lê Duẩn gửi điện văn ra lệnh đổi tên chiến dịch giải phóng Sài G̣n thành "chiên dịch Hồ Chí Minh" Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu đă chủ toạ lễ tŕnh diện tân nội các của Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và cho đến ngày 18 tháng 4 năm 1975, sau khi chính quê hương của ông là tỉnh Ninh Thuận (Phan Rang) bị rơi vào tay quân đội Cộng sản Bắc Việt, Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu vẫn chưa hề có ư định từ chức v́ lúc đó, về phía người Mỹ, chưa có ai chính thức đề cập đến chuyện này.

Dường như lúc đó, trong thâm tâm, TT Thiệu vẫn c̣n mang hy vọng rằng sẽ có áp lực, có một sự giàn xếp nào đó của quốc tế để cho Cộng sản phải ngưng cuộc tổng tấn công, lập một nước do "Chính Pbủ Cách Mạng Lâm Thờỉ”
 

*109 The Vietnam Experience: The Fall Ofthe South. Trang 132

 

từ trang195 đến trang 204

cai trị ở những vùng do Cộng sản mới chiếm đóng và chấp nhận một nước do chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cai trị ở những vùng lănh thổ c̣n lại.

Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, Phó Thủ Tướng trong chính phủ Trần Thiện Khiêm có cho biết một chi tiết về chuyện này như sau: “Về giả thuyết Việt Nam chia làm ba, tôi nhớ sự việc diễn ra như sau: bữa đó, Phó ThủTướng Trần Văn Đôn vừa đi quan sát ờ Mỹ và Âu châu về. Tổng Thống Thệu tiếp Đôn để nghe báo cáo và cùng chung tôi lên Dinh Độc Lập ăn cơm. (Theo ông Trần Văn Đôn ghi lại trong cuốn " Việt Nam Nhân Chứng” th́ hôm đó là ngày 5 tháng 4 năm 1975) Khi đi ngang qua chỗ đang sửa chữa v́ vừa bị dội bom, ông Thiệu thấy có treo một lá cờ vàng ba sọc đỏ, ông liền nói “kbông biết các anh có tin dị đoan hay không chớ  c̣n tôi, tôi nghĩ ba gạch tượng trưng cho đất nước ḿnh sẽ chia làm ba! Có lẽ ư kiến này đă thoáng qua tâm trí của ông Thiệu lúc đó. Không ai phản ứng hay b́nh phẩm ǵ. Trong sô quan khách, có cả Bác sĩ Phan Quang Đán." *110

Theo như chuyện Bác sĩ Nguyễn L­ưu Viên kể lại ở trên th́ điều đó đă chứng tỏ cho thấy dường nh­ ông Thiệu lúc đó c̣n hy vọng rằng nước Việt Nam sẽ bị chia thành 3 phần: phần thứ nhất ở miền Bắc vẫn do Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà của Cộng sản Bắc Việt cai trị, phần thứ hai là những vùng Cộng sản vừa chiếm được ở miền Trung và Cao nguyên th́ sẽ do "Chính phủ các mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam" của Việt Cộng cai trị và phần thứ ba th́ đo Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà mà ông Thiệu đang làm tổng thống cai trị, tức là ông Thiệu vẫn sẽ làm Tổng Thống dù chỉ c̣n lại có một nửa dân số , quân đội và lănh thổ mà thôi.

 

*110: Lâm Lễ Trinh: Mạn Đàm Với BS Nguyễn ư­u Viên: T́( Hội Nghị La Celle St-Cloud Đên Những Ngày VNCH hấp hối đăng trên nhiều báo tại Califomia, 2001.

 

 

Người Mỹ Không Muốn Lưu Lại Bằng Chứng

Trong ngày thứ sáu 18 tháng 4, quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự cho tài khoá 1976 trên 3 tỷ đô-la nhưng trong số những quốc gia nhận được quân viện không có Việt Nam Cộng Hoà. Nư­ vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có c̣n tồn tại, VNCH cũng không c̣n nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa.

Sau khi Việt Nam Cộng Hoà không c̣n nữa, Đại Sứ Graham Martin cho biết là vào ngày 18 tháng 4 năm 1975, Ngoại trưởng Henry Kissinger đă chỉ thị ông rằng “TT Ford đă chấp thuận để cho Đại sứ Martin đề nghị với TT Thiệu là ông ta nên từ chức.”

Theo cựu đại sứ Bùi Diễm th́ sau khi ông về đến Sài G̣n vào trung tuần tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă nói với ông rằng: "ông phải nói sự thật với ông Thiệu." Cái sự thật mà Đại sứ Martin muốn nói là "ông Thiệu đă hết thời rồi" (Thiệu was finished) và nếu cần th́ chính ông Martin sẽ đích thân nói với ông Thiệu điều đó. Tuy nhiên ông Martin muốn nhờ ông Bùi Diễm vào gặp để nói với ông Thiệu như vậy và yêu cầu ông Diễm cho ông ta biết ngay sau khi đă nói chuyện với ông Thiệu về vấn đề này. Đại sứ Bùi Diễm cố gắng liên lạc nhưng vẫn không gặp được Tổng Thống Thiệu. Đến ngày thứ sáu 18 tháng 4 th́ ông gặp Đại sứ Martin và đă cho ông Martin biết nư­ vậy, rồi qua ngày hôm sau thứ bảy 19 tháng 4, lại nói chuyện điện thoại lần nữa với ông đại sứ Mỹ. Lần này. Lần nầy Đại sứ Diễm cho ông Martin biết rằng ông đă nhắn với TT Thiệu qua Đại tá Chánh Văn Pḥng Vơ Văn Cầm và cả cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Pḥng, nhưng ông Thiệu vẫn chưa trả lời. Đại sứ Graham Martin nói với ông Bùi Diễm rằng: "được rồi như vậy th́ tôi phải  đích thân vào gặp ông ta.” *111

Thực ra th́ Đại sứ Martin đă đề cập đến chuyện ông Thiệu từ chức với Ngoại Trưởng Kissinger vào ngày hôm trước và đă được Kissinger đồng ư. Trong cuốn sách "Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Nguyễn Tiến Hưng được xuất bản vào đầu năm 2005 th́: "ngày 1 7 tráng 4, ông Martin đề nghị với Kissinger trong một công điện tối mật để đồng ư cho ông thuyết phục ông Thiệu từ chức:

" Nếu Quốc Hội bỏ phiếu chống viện trợ cho VNCH th́ địa vị của ông Thiệu là hết rồi. Bởi vậy, trừ khi có chí thị không đồng ư tôi sẽ cố gắng thuyết phục ông Thiệu và cho

ông ta biết rơ đây chỉ là ư kiến cá nhân của tôi với t­ cách là một người bạn chân thành. Sau khi suy nghĩ mọi đàng, tôi đă đi đến kết luận là chỗ đứng của ông ta trong lịch sử sẽ

được bảo đảm bơn nếu xét tất cả những ǵ ông đă làm cho đất nước này. Nếu ông ta không chịu mà cứ tham quyền cố vị th́ cơ hội cuối cùng để cứu văn miền Nam Việt Nam như một quốc gia c̣n có chút tự do sẽ không c̣n nữa.

Tôi sẽ cho ông Thiệu rơ tôi đă đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta không chịu xuống th́ các tướng lănh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm việc này. Có một cách rút lui êm đẹp và trang trọng nhất là ông tự ư từ chức và nói cbo đồng bào biết rằng ông phải làm như vậy để bảo vệ hiến pháp và để chính phủ kế vị có thể dễ dàng điều đ́nh cứu văn n­ớc Việt Nam Tự Do.

 

*111: Bùi Diễm with David Canoff: In the Jaws ofhistory, Houghton Mifflin Company, Boston, 1987, trang 332 '

 

"ông Kissinger đồng ư.”*112

Ông Nguyễn Tiến Hưng cho biết thêm rằng không phải đến ngày 17 tháng 4 mà c̣n sớm hơn nữa:

"Ở đây tôi c̣n nhớ, khi tạm biệt Đại sứ Martin để lên đường đi công tác Washington ngày 15 tháng 4 tự nhiên ông hỏi tôi:

“Nhân tiện tôi muốn hỏi ông bao giờ th́ Tổng Thống của ông từ chức?

“Hết sức ngạc nhiên: tôi không biểu ông đại sứ muốn nói ǵ cả!" tôi đáp. Tôi để ư đây là lần đầu tiên thấ ông Martin dùng từ ngữ “tổng thống của ông"  thay v́ "ông tổng thống" hay là "Tổng Thống Thiệu. " Tôi thông báo cáo cho ông Thiệu ngay về câu hỏi trớ trêu này tr­ớc khi lên máy bay”*113

Theo hồi kư của cựu Đại sứ Pháp Jean-marie Mérillon th́ tối 18 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin gọi điện thoại cho ông và lần đầu tiên Đại sứ Mỹ đă nói rơ với ông về ư định của Hoa Kỳ đối với Miền Nam Việt Nam. Theo Frank Snepp, tác giả cuốn Decent Interval th́ trong những ngày tháng cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, hai ông đại sứ Hoa Kỳ và Pháp đă có những mối liên lạc vô cùng mật thiết. Tác giả cuốn sách này cho biết Đại sứ Mỹ Martin đă ra lệnh phá một phần bức tường ngăn đôi hai toà đại sứ và xây một cánh cửa để hai bên liên lạc với nhau mà người ngoài không ai hay biết, đồng thời ông đại sứ Pháp cũng gắn thêm một điện thoại riêng ở trong pḥng vệ sinh để liên lạc với đại sứ Martin v́ ông không muốn ngay cả nhân viên trong toà đại sứ biết việc ông tiếp xúc gần như thường trực với ông đại sứ Mỹ.

Đại sứ Mérillon cho biết hôm đó Đại sứ Martin đă

 

*112: Nguyễn Tiến Hư­ng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 388.

*113: Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 387-388

 

"lưởng lự rất nhiều rồi mới nói với tôi rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi miền Nam Việt Nam. " Đại sứ Martin nói thêm rằng “Đối với chính trường nước Mỹ, chiền tranh Việt Nam đă chầm dứt ngay sau hiệp định Paris 1973, vấn đề c̣n lại là giải thể quân đội Hoa Kỳ tại Đông d­ơng mà thôi."

Đại sứ Mérillon tiết lộ rằng ông Martin muốn nhờ đại sứ Pháp làm trung gian chuyển đạt ư muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng và đại sứ Pháp đă trả lời rằng “nếu không có ǵ trở ngại trong việc liên lạc th́ tôi có thể làm thỏa măn điều ông yêu cầu trong khoảng 5 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên,  v́ phải phúc tŕnh lên chính phủ Pháp cho nên xin ông đại sứ

vui ḷng gửi cho tôi một văn thư chính thức ủy thác cho tôi cái nhiệm vụ này " Đại sứ Martin trả lời rằng "điều đó không thể được. Người ta không muôn lưu lại bằng chứng.

Đại sứ Mérillon bèn nói với Đại sứ Mỹ: "Như thế th́ kể từ giờ phút nầy, nước Pháp sẽ đảm nhận vai tṛ tái lập ḥa b́nh cbo Việt Nam theo chủ thuyếtt của Pháp. *114

Thật ra th́ việc chính phủ Pháp dính dáng đến t́nh h́nh chính trị tại Miền Nam Việt Nam vào những ngày tháng cuối cùng của VNCH khởi đầu từ cuộc gặp gỡ giữa Phạm Văn Đồng và Đại sứ Pháp tại Bắc Việt hồi cuối tháng 1 năm 1975.

Theo Oliver Todd, tác gia Cruel Avril th́ Đại sứ Pháp Philippe Richer đến Hà Nội vào ngày 27 tháng 1 năm 1975. Cựu sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh gọi tắt là ENA, tức là bạn đồng môn với Tổng Thống Pháp Giscard d'Estaing, nhà ngoại giao Richer vốn là tù nhân của Đức Quốc xă trong trại tập trung Buchenwald, cựu sĩ quan trong quân đội Pháp đă từng phục vụ tại Lào và ông ta rất hiểu rơ

 

*114: Jean Marie Mérillon: "Sai gon ét Moi "

 

Cộng sản. Vài tuần trước khi ông Richer đến Hà Nội, Thủ Tướng Cộng sản Phạm Văn Đồng đă nhờ ông Francois Missoffe, sứ giả đặc biệt của chính phủ Pháp tại Á châu, đ̣i

người Mỹ phải áp lực để Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải ra đi. Phạm Văn Đồng tiếp đại sứ Philippe Richer lần đầu tiên vào cuối tháng giêng năm 1975 và trong cuộc gặp gỡ này, Phạm văn Đồng đă nói với tân đại sứ Pháp:"Tôi hy vọng rằng ông đại sứ mang đến cho tôi sự trả lời." Đại sứ Richer chỉ trả lời một cách ỡm ờ v́ ông không hề nhận được chỉ thị rơ rệt nào của chính phủ Pháp về vấn đề này.

Vào ngày 22 tháng 3 năm 1975, trong một bữa tiệc khoản đăi ngoại giao đoàn tại Hà Nội, một cán bộ Cộng sấn đến nói với đại sứ Richer:  “Thưa ông Đại sứ, Thủ Tướng muốn nói chuyện với ông ngay bây giờ”  Trong cuộc tiếp xúc này Đại sứ Richer đă hỏi Phạm văn Đồng: " Thủ Tướng nghĩ thế nào về lực lượng thứ ba" tại miền Nam?”  Phạm văn Đồng trả lời. “Nhóm đó là bạn của các ông. Bây giờ th́ t́nh thế không thể thay đổi được nữa”, người Phap các ông phải làm một cái ǵ. Thiệu phải ra đi” *115

Đại sứ Philippe Richer suy nghĩ cặn kẽ và đến hai ngày sau th́ ông mới phúc tŕnh việc này về Bộ Ngoại Giao Pháp.

Theo Paul Dreyfuss, tác giả cuốn Et Saigon Tomba, th́ vào ngày 24 tháng 3 năm 1975, trong một cuộc tiếp xúc với Đại sứ Pháp Philippe Richer tại Hà Nội, Thủ Tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng đă nói với Đại sứ Richer bằng một giọng đầy thúc giục : "thề nào, bao giờ th́ ng­ời Pháp mới hành động?  Bây giờ đă đến lúc các bạn của  ông trong phe thứ ba ở Sài g̣n nên bỏ bớt dè dặt để lậ đổ Nguyên Văn Thiệu và thành lập một chính phủ khả dĩ có thể nói chuyện đ­ợc với chúng tôi. "

 

*115: Oliver Todd: sđd, trang 185

 

V́ lời lẽ khẩn khoản này của Phạm Văn Đồng, Đại sứ Philippe Richer vội vă bay về Paris để tường tŕnh lên Chính phủ Pháp đề nghị mới này của CSBV. *116

Theo Oliver Todd th́ vào ngày 8 tháng 4 năm 1975, sau khi Cộng Sản chiếm Đà Nẵng, Phạm Văn Đồng lại tiếp kiến Đại sứ Philippe Richer và ông ta đă nói với đại sứ Pháp rằng Bắc Việt sẽ cần đến sự hợp tác của các chuyên

viên cũng như là các nhà đầu t­ư người Pháp để giúp cho họ khai thác những mỏ dầu hoả tại miền Nam thay thế cho các công ty Hoa Kỳ. Tuy được xem như­ là một người có khuynh hướng thiên tả, Đại sứ Philippe Richer không mấy tin tưởng ǵ đến những lời của Phạm Văn Đồng và ông ta tin rằng khi chiếm được Miền Nam th́ chỉ có đảng Cộng sản nắm quyền và sẽ không có lực lượng thứ hai thứ ba nào khác. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Oliver Todd vào năm 1986 tại Paris, cựu đại sứ Richer đă cho biết rằng trong một trong những bức công điện gởi về Bộ Ngoại Giao Pháp đề cập đến những đề nghị của Phạm Văn Đồng, ông có tŕnh bày ư kiến riêng của ông như vậy và do đó mà cả Bộ Ngoại Giao cũng như Tổng Thống Giscard d'Estaing không có ai ưa ông. Oliver Todd nói rằng thật là một điều nực cười khi mà Đại sứ Richer, một người được xem như­ là thiên tả, lại chẳng tin tưởng ǵ đến những lời đường mật của Cộng sản Bắc Việt, trong khi đó th́ Đại sứ Jean-marie Mérillon, cũng là cựu sinh viên trường ENA, một người được xem như­ là khuynh hữu, lại nghĩ rằng có thể tin được vào những lời hứa hẹn của Bắc Việt qua lời của Phạm Văn Đồng.

Chính phủ Pháp liên lạc với Hoa Kỳ để t́m hiểu quan điểm của người Mỹ, tuy nhiên chính phủ của Tổng thống Gerald Ford lúc đó đang bị cả hai viện quốc hội do đảng Dân Chủ kiểm soát trói tay trói chân và không thèm quan

 

*116: Dreyfuss: "Et saigon tomba," trang 171

 

 tâm cứu xét đến những yêu cầu của TT Ford nhằm viện trợ khẩn cấp cho VNCH, do đó Hoa Kỳ đồng ư để cho Pháp vận động hoà b́nh cho Miền Nam Việt Nam. Sau khi được sự đồng ư của Hoa Kỳ, Tổng Thống Pháp Giscard d’ Estaing đă ra lệnh cho đại sứ Pháp tại Sài G̣n nổ lực dàn xếp với mọi phe phái ngơ hầu t́m cho được một giải pháp thuận lợi hơn cho Miền Nam Việt Nam.

Đó là lư do tại sao đại sứ Pháp tại Sài G̣n Jean-marie Mérillon đă tiếp xúc với đại sứ Mỹ Graham Martin ngày 18 tháng 4 năm 1975 và với sự khuyến khích của đại sứ Martin, ông đă đến gặp Tổng thống Nguyên Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập hai ngày sau đó. Trong khi cuộc tấn công của Cộng sản đang bị Sư Đoàn 18 của Việt Nam Cộng Ḥa chống trả mănh liệt tại Xuân Lộc, trong khi Đại sứ Mérillon đang tiếp xúc với Đại sứ Martin ở Sài G̣n để t́m cách thuyết phục Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngỏ hầu t́m kiếm ḥa b́nh cho miền Nam Việt Nam th́ Trung ương Cục Miền Nam của Cộng sản đă thi hành quyết định của Hà Nội chuẩn bị tiếp thu Sài G̣n và các tỉnh, thị xă, không hề có một chỉ thị nào về vấn đề thương thuyết với chính phủ VNCH. Trung ương Cục đă đánh bức điện văn mang số 458/TV ngày 18 tháng 4 năm 1975 gửi cho các Khu ủy, B.6 (Tây Ninh,) N.50 (b́nh Phước,) P.10 (Sài G̣n-Gia Định,) Quân ủy Miền và các Ban, Ngành KBN (KBN là bí danh của Trung ương Cục Miền Nam) chỉ thị về việc "chớp thời cơ tấn công địch ở các thành phố thị trấn, thị xă và vùng tôn gíao." Chỉ thị nầy ra lệnh các cấp bộ địa phương phải tập trung chỉ đạo, tập trung sức mạnh với các lực lượng quần chúng để nổi dậy, khởi nghĩa nắm lấy chính quyền và đồng thời cho biết rằng sẽ có những chỉ thị riêng về việc “tiếp thu quản lư xây dựng sau khi dứt điểm giải phóng các thành phố, thị xă, thị trấn .v…” và ngay cả việc đối xử với tù hàng binh ở miến Nam

            Chính Sách Đối Xử Với "Ngụy quân, Ngụy Quyền " 

Cũng trong ngày hôm đó tại Hà Nội, các cấp lănh đạo đảng Cộng sản đă hoàn tất việc quy định về sự phân loại và chính sách đối xử với tù binh và hàng binh tại miền Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính sách này lại được áp dụng cho tất cả các công chức, cán bộ và quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa mà Cộng sản gọi chung là " ngụy quân, ngụy quyền" sau khi đi tŕnh diện để "học tập cải tạo”

Ngày 18 tháng 4 năm 1975, Ban Bí Thư Trung ương đảng Cộng sản đă gửi Chỉ Thị mang số 218-CT/TW đến tất cả các đảng ủy tại miền Nam về chính sách đối với tù và hàng binh Miền Nam.

V́ nhận thấy chính sách đối với "ngụy quân, ngụy quyền" này của Cộng sản Bắc Việt trước ngày 30 tháng 4 có ảnh hưởng đến gần như hầu hết quân cán chính của Việt Nam Cộng Ḥa sau này, người viết xin trích đăng lại nguyên văn bản "chỉ thị: của Ban Bí Thư số 218-CT/WT ngày 18 tháng 4 năm 1975" này để làm tài liệu:

" Trong t́nh h́nh mới hiện nay, sổ lương tù binh, binh sĩ địch giác ngộ trờ về và làm binh biển khởi nghĩa ngày càng lớn, vùng giải phóng của ta ở miền Nam ngày càng mở rộng và hoàn chỉnh. Ban Bí thư quy định phân loại và chínhsách đối xử như sau:

PHÂN LOẠI

1. BinH sĩ khởi nghĩa: là những binh sĩ địch có hành động chống lại địch, đi với cách mạng nh­ư khởi nghĩa làm binh biến, làm nội ứng, phhá hoại địch, trực tiếp hay gián tiếp hay tiếp giúp cho cuộc chiến đấu của ta.

2. Binb sĩ giác ngộ trở về với cách mạng: (không nên gọi là hàng binh) là những binh sĩ địch chủ động bỏ hang ngũ địch sang hàng ngũ cách mạng.

3. Tù binh: là những binh sĩ địch bị ta bắt trong chiến đấu hoặc sau chiến đấu.

4.Tàn binh ra tŕnh diện: là những binh sĩ địch bị ta đánh phải bỏ chạy trốn, sau đó ra tŕnh diện với cơ quan chính quyền cách mạng.

 

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TỪNG LOẠI

 

1. Binb sĩ khởi nghĩa: về chính trị, coi như quần chúng cách mạng, về sinh hoạt vật chất đựơc đăi ngộ như­ cán bộ, chiến sĩ ta, được xếp công tác tùy treo tŕnh độ giác ngộ chính trị và năng lực từng người. Ai có công với cách mạng th́ được khen trhưởng. Ai có năng lực chuyên môn kỹ thuật th́ đựơc sử dụng theo tài năng, ai bị thương vong trong khi hàng động cách mạng th́ được đối xử như thương binh tử sĩ ta.

2. Binb sĩ giác ngộ trở về với cách mạng: được hưởng quyền công dân, được đối xử về tinh thần và vật chất như những công dân b́nh thường.

3. Tù binh: được đối xử nhân đạo tbeo đúng chính sách của ta. Trong t́nh h́nh hiện nay, giải quyết như­ sau:

a/ Đối với những binh lính và hạ sĩ quan:

-Số có gia đ́nh ở vùng giải phóng th́ giải thích chính sách rồi cho về nhà, giao cho chính quyền địa phương đăng kư và giáo dục.

-Số quê ở lùng địch tạm chiếm hoặc ở xa chưa về được th́ tạm thời tập trung lại để quản lư giáo dục và dùng làm lao động. Khi có điều kiện sẽ cho về với gia đ́nh.

b/ Đối với sĩ quan: tất cả đều phải tập trung giam giữ, quản lư giáo dục và lao động, sau này tùy sự tiến bộ của từng người sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyệt cụ thể.

Những người có chuyên môn kỹ thuật (kể cả lính và sĩ quan) mà ta cần th́ có thể dùng vào từng việc trong một tbời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lư chặt chẽ, sau này tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội:

c/ Đối với các phần tử ác ôn, t́nh báo an ninh quân đội sĩ quan tâm lư, b́nh định chiêu hồi, đầu sỏ của đảng phái trong quân đội, th́ bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lư chặt chẽ.

d/ Đối với những người vốn là quân nhân của ta nhưng đă đầu hàng địch, tham gia quân đội ngụy th́ sẽ xử như tù binh. Kẻ nào làm việc cho địch như gián điệp tâm lư chiến, b́nh định chiêu hồi, chỉ huy đánh phá cách mạng th́ xử án như bọn ác ôn.

4. Tàn binh địch ra tŕnh diện:

a/ Những người ra tŕnh diện và tích cực làm n­hững công việc ta giao hoặc có công phát hiện những sự bí mật, kho tang và tài liệu của địch, chỉ cho ta những tên đầu sỏ phản động c̣n lẩn trốn, giúp ta sử dụng những vũ khí kỷ thuật của địch, kêu gọi được nhiều tàn binh ra tŕnh diện th́ đối xử như binh sĩ giác ngộ trở về với nhân dân

b/ C̣n nói chung đổi xử tương tự như­ tù binh, nhưng cần chú ư.

-Binh lính hạ sĩ quan th́ đăng kư, thu vũ khí, giải thích chính sách, nếu quê ở vùng giải phóng th́ cho về nhà ngay, giao cho chính quyền địa phương quản lư giáo dục. Số quê ở vùng địch c̣n kiểm soát hoặc ờ xa chưa về được th́ tập trung giáo dục và dùng làm lao động.

Đối với sĩ quan, phải giữ lại để giáo dục cải tạo, nhưng tùy hoàn cảnh chính trị từng nơi mà có cách làm thích hợp để bọn c̣n lẫn trốn không quá sợ hăi, dám ra tŕnh diện. Lúc đầu, có thể chưa cần giam giữ ngay, tùy t́nh h́nh sẽ lần lượt tập trung lại sau.

-Những tên ác ôn gián điệp và những tên có nhiều tội ác th́ bắt giữ ngay.

-Những tên không chịu ra tŕnh diện theo thời gian quy địnb th́ phải bắt giữ. Tên nào lẫn trốn để chống phá ta th́ sẽ bị trừng trị theo tội phá hoại hiện hành

5. Riêng đối với pḥng vệ dân sự và dân vệ đă tan ră:

-Pḥng vệ dân sư th́ giải tán tổ chức, tịch thu vũ khí, trang bị phương tiện quân sự và coi họ như­ dân trhường.

Dân vệ th́ giao cho chính quyền địa phương đăng kư, quản lư giáo dục, không tập trung lại như­ tù binh .

-Những tên là quân chủ lực, bảo an phái sang chỉ huy và làm ṇng cốt trong dân vệ, pḥng vệ dân sự và những tên là ác ôn t́nh báo, th́ phải xử trí nh­ư các loại tù binh nói trên.

Các loại binh lính sĩ quan địch đă bỏ ngũ về nbà, về hưu, giải ngũ, th́ coi như dân thường. Người nào trong số nầy có tội ác th́ do chính quyền địa phương xử trí theo chính sách chung đối với những người phạm tội.

6- Những trường hợp khác:

-Nững quân nhân của địch biệt phái sang làm việc ở ngành hành chánh, cảnh sát th́ do cơ quan an ninh của ta xử trí .

-Những sĩ quan có ảnh hưởng trong các  dân tộc thiểu số và các tôn giáo, nếu cần thiết cho việc tranh thủ quần chúng th́ có thể có chính sách chiếu cố thích hợp

Đối với những sĩ quan cấp tướng hoặc đại tá, nếu xét cần sử dụng có lợi cho cách mạng th́ có thể có chính sách đối xử thích hợp

-Tù binb là quân nhân Mỹ và các quân nhân nước ngoài khác, phải giam riêng, phải đối  xử nhân đạo.

-Những tù binh ngụy bị bắt bồi 1972 hiện nay c̣n giữ th́ xử trí như tù binh hiện nay. Những tên là lính và hạ́ sĩ quan nếu đă cải tạo tốt, có quê ở vùng giải phóng th́ cho về với gia đ́nh.

CHÚ Ư:

1.Những cơ sở binh vận, quân báo và an ninh của ta được cử vào họat động trong quân đội địch đều là cán bộ chiến sĩ của ta phải giải quyết chính sách chu đáo, tuyệt đối không được lẫn lộn với binh sĩ dịch.

2. Hiện nay không lấy tù binh, tàn binh để bố sung quân số cho các lực lượng vũ trang của ta.

3.Tất cả các loại tù binh, tàn binh đều giam giữ ờ B, không đưa ra A, trừ những trường hợp c̣n khai thác gấp để phục vụ yêu cầu của ta.

           T/M BAN BÍ THƯ

TỐ HỮU*117

Có một điều đáng chú ư là trong loại 6 "Những trường hợp khác" có một câu nói rằng "những tù binh ngụy bị bắt hồi 1972 hiện nay c̣n giữ th́ xử trí như tù binh hiện nay." Điều này chứng tỏ rằng sau khi kư Hiệp Định Ba Lê vào năm 1974 Cộng sản Bắc Việt vẫn c̣n giam giữ và đă không trao trả một số tù binh bị họ bắt giữ trứớc năm 1973 cho VNCH đúng theo tinh thần của hiệp định. Lưu Văn Lợi, phụ tá của Lê Đức Thọ tại hội nghị Ba Lê cho biết rằng vấn đề trao trả tù binh và tù dân sự đă được

 

 *117: Văn Kiện Đảng, trang 286-290. Ghi chú: Trong thời gian này, Tố Hữu c̣n là Uy Viên Trung Ương Đảng phụ trách Ban Bí Thư, về sau mới được đề cử vào Bộ Chính Trị và giữ chức Trưởng Ban Văn Hóa Tư Tưởng.

 

 thảo luận sôi nổi giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ trong phiên họp ngày 17 tháng 10 năm l972. Trước đó, vào ngày 14 tháng 10, Phái đoàn Bắc Việt đă gửi cho Phái đoàn Hoa Kỳ một

công hàm nói rằng:

"Theo luật pháp quốc tế trong cuộc chiến tranh khi chiến sự chấm dứt th́ tất cả những người của các bên bị bắt phải được trao trả ngay. Hơn thế nữa, với tính chất  của cuộc chiến tranh ở miền Nam việt Nam th́ sau khi ngừng bắn, việc trao trả những người dân sự cũng như  việc trao trả những người quân sự của các bên bị bắt giữ là một nghĩa vụ mà không bên nào được thoái thác và tŕ hoăn.

"Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cbo rằng trong vấn đề này phía Hoa Kỳ bên vực cho một lập trư­ờng rất sai trái để một bên có thể tiếp tục giam giữ những người dân sự của bên kia."*118

Vào năm 193 khi Trần Văn Trà được cử làm Trưởng Phái đoàn của " Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời”  trong Ban Liên Hợp 4 Bên tại Tân Sơn Nhứt Sài G̣n, ông ta đă tuyên bố rằng " chúng ta đă trả tất cả tù binh Mỹ-ngụy mà ta giữ " Hai năm sau, Chỉ thị về chính sách đối với tù hàng binh của Bắc Việt do Tố Hữu thay mặt Ban Bí Th­ư của Đảng Lao Động Việt Nam kư ngày 18 tháng 4 năm 1975 cho thấy là Trần Văn Trà đă nói láo, rơ ràng chỉ thị này đă thừa nhận Cộng san Hà Nội không trao trả một số tù binh của VNCH vào năm 1973, Hà Nội đă vi phạm Hiệp Định Ba Lê do chính họ kư kết và như vậy th́ theo lời của chính Hà Nội trong công hàm gửi cho Hoa Kỳ ngày 14 tháng 10 năm 1972 th́ "đó là trái đạo lư, không công bằng và vô nhân đạo. "

 

*118 Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ: “Các Cuộc Thương Lượng Lê Đúc Thọ-Kissinger tại Paris," xuất bản tại Hoa Kỳ, trang 309.

 

Chiến thắng cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa

 

 

 
 
 

 

 

VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***

NGÀY CHỦ NHẬT,

20 THÁNG 4/1975

             Trong cuốn hồi kư Đất Nước Tôi được xuất bản vào năm 2003, vị thủ tướng cuối cùng của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa là ông Nguyễn Bá Cẩn cho biết rằng: “Cũng chính ngày 20 tháng 4 nầy, trong lúc Cộng Sản Bắc Việt đang chặt tay, chặt chân để bóp cổ và chọc thủng bụng theo thế đánh mà bọn chúng thường rêu rao để tuyên truyền th́ đồng minh của Việt Nam Cộng Ḥa đă “trảm thủ” miền Nam bằng một nhát gươm ân huệ. Thật vậy, sáng hôm ấy, Đại Sứ Martin đến gặp TT Thiệu. Sau khi Đại sứ Martin ra về th́ một màn khói im lặng và bí mật bao phủ Dinh Độc Lập cho đến sáng hôm sau” (Nguyễn Bá Cẩn: Đất Nước Tôi, Hoa Hoa Press, Derwood, Maryland, trang 420)

            Ngày Chủ Nhật 20 tháng 4 không chỉ có Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin mà c̣n có cả đại sứ Pháp Mérillon đến hội kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập với mục đích thuyết phục ông từ chức để cứu văn t́nh h́nh v́ phe công sản dứt khoát không chịu thương thuyết với ông. Theo Frank Snepp và các tác giả của bộ “The Vietnam experience”  th́ Đại Sứ Mérillon vào gặp TT Thiệu trước Đại sứ Martin, tuy nhiên theo Oliver Todd th́ ông đại sứ Pháp vào gặp TT Thiệu sau ông đại sứ Hoa Kỳ.

            Oliver Todd cho biết vào ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mérillon đến Dinh Độc Lập một ḿnh và nói chuyện thẳng với TT Thiệu. Đại sứ Mérillon nói rằng:

            “Thưa Tổng Thống, tôi đến gặp Ngài tại v́ t́nh h́nh đă trở nên vô cùng nghiêm trọng. Không c̣n vấn đề quân sự nữa”. TT Thiệu không trả lời và Đại sứ Mérillon nói tiếp: “Tôi thấy chỉ c̣n là vấn đề chính trị. Cần phải để cho một tiến tŕnh dân chủ được khai triển”.

            “Tổng Thống Thiệu ngồi nghe trong khi Đại sứ Mérillon tiếp tục tŕnh bày gần như là độc thoại về những thực tế mà ông Thiệu dần dần bắt đầu hiểu. Đại sứ Mérillon nói rằng chính phủ chỉ c̣n nắm giữ được vài thành phố lớn nhưng ba phần tư lănh thổ đă bị mất vào tay Cộng sản, rồi ông Đại sứ nói đến những mối liên lạc thân hữu giữa cá nhân hai người và cả giữa bà Thiệu và bà Mérillon nữa, ông kêu gọi đến trách nhiệm trước lịch sử, đến danh dự cá nhân và yêu cầu Tổng Thống Thiệu nên làm một sự hy sinh lớn lao cho dân tộc Việt Nam qua một sự thương thuyết không thể tránh khỏi để cho một vài quyền lợi nào đó c̣n có thể cứu văn được.

            “Tổng Thống Thiệu bắt đầu nói đến những tái phối trí cần thiết, về sự phản bội của Mỹ và tinh thần chủ bại của một số tướng lănh. Rồi Tổng Thống Thiệu kết thúc cuộc hội kiếh bằng mộtn câu nói rất b́nh dân: “thôi, tới đâu hay tới đó” và ông Đại sứ ra về” (ghi chú: Oliver Todd: sách đă dẫn, trang 312)

            Vào hồi 10 giờ sáng, đến lượt Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin vào gặp Tổng Thống Thiệu và cuộc gặp kéo dài trong một tiếng rưởi đồng hồ.

            Đại sứ Martin trước hết tŕnh bày với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về nhận định của Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ đối với t́nh h́nh quân sự hiện tại. Thực ra th́ bản nhận định nầy đă được Frank Nepp, một chuyên viên phân tích t́nh báo (intelligence analyst) của CIA soạn thảo. Trong cuốn Decent Interval, Frank Nepp tiết lộ rằng ông đă được Polga, Giám Đốc CIA tại Sài G̣n ra chỉ thị phải “soạn thảo bản nhận định càng đen tối càng tốt chừng đó. Đại sứ Martin sẽ dùng bản nhận định nầy để thuyết phục ông Thiệu rằng đă đến lúc ông ta phải ra đi”

            Đại sứ Martin đă đưa cho TT Nguyễn Văn Thiệu bản nhận định do Frank Nepp viết nguyên văn như sau:

            “Với cuộc sụp đổ của các cuộc pḥng thủ của quân đội của chính phủ quanh tỉnh lỵ Xuân Lộc và sự tiếp tục gia tăng tập trung quân đội của Cộng sản trong Vùng 3 Chiến Thuật cán cân lực lượng trong vùng chung quanh Sài G̣n hiện nay đă nghiêng về phía Bắc Việt và Việt Công. Mặc dù chính phủ vẫn c̣n có thể tăng viện cho một trong những mục tiêu có thể sẽ bị tấn công như Biên Ḥa – Long B́nh ở về phía Đông Sài G̣n, các tỉnh Long An, Hậu Nghĩa ở về phía Tây hay tỉnh B́nh Dương ở về phía Bắc, tuy nhiên lực lượng của chính phủ sẽ không đủ sức mạnh để pḥng thủ tất cả các mục tiêu nầy một cách hữu hiệu.Mặt khác về phía Bắc Việt và Việt công th́ chỉ trong ṿng ba hay bốn ngày, họ lại có đủ khả năng phóng ra những cuộc hành quân phối hợp trên mức nhiều sư đoàn vào tất cả những mục tiêu nầy. Như vậy th́ chính phủ VNCH sẽ phải đối phó với một t́nh trạng mà trong đó Sài G̣n sẽ bị cô lập và sẽ không c̣n liên lạc được với bên ngoài chỉ trong ṿng vài tuần lễ và có thể rơi vào tay của các lực lượng Bắc Việt – Việt Cộng trong ṿng 3 hay 4 tuần lễ.

(Frank Nepp nói rằng ông muốn viết “chỉ vài tuần lễ” nhưng Polgar không muốn như vậy. Frank Nepp cũng cho biết thêm rằng sau khi ra đi, ông Thiệu vẫn c̣n để bản nhận định nầy trên bàn giấy của ông trong Dinh Độc Lập. Khi VC chiếm Sài G̣n, Văn Tiến Dũng đă lấy được bản nhận định nầy và đă cho đăng nguyên văn trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông ta (ghi chú: Frank Nepp: sđd, trang 382)

            Sau nầy, trong một buổi tường tŕnh với Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Mỹ vào ngày 22 tháng 1 năm 1976, Đại sứ Martin nói rằng ông ta đến gặp TT Thiệu “với tư cách cá nhân, ông ta không đại diện cho TT Gerald Ford, không đại diện cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger và cũng không nói chuyện với tư cách là đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Ḥa, ông chỉ nói chuyện với tư cách là một người đă từng quan sát t́nh h́nh ở Đông Nam Á từ bao nhiêu năm qua và cũng là một người mà trong hai năm qua đă bỏ ra nhiều th́ giờ t́m hiểu tất cả ngọn ngành của các vấn đề quân sự tại Việt Nam”

            Sau khi tŕnh bày với TT Thiệu về nhận định đầy đen tối về t́nh h́nh trong một vài ngày sắp tới, Đại sứ Martin nói rằng ông không hề nói với TT Thiệu là ông ta phải từ chức, ông “chỉ tŕnh bày với TT Thiệu một cách rơ ràng, chính xác và khách quan về nhận định của người Mỹ đối với t́nh h́nh hiện tại”

            Đại sứ Martin nói rằng ông “nói với TT Thiệu, sau khi phân tích và so sánh lực lượng hai bên và nếu cả hai điều dồn lực lượng vào trận đánh cuối cùng th́ các cân quân sự về phía VNCH rất bi quan. Kết luận của tôi là nếu Cộng sản quyết tâm đánh để tiêu diệt Sài G̣n th́ Sài G̣n không thể cầm cự được hơn một tháng. Dù sự pḥng thủ có khéo léo, dũng cảm và quyết tâm đến đâu chăng nữa th́ cũng không thể kéo dài quá ba tuần lễ.

            “Tôi nói, theo ư kiến của tôi th́ Hà Nội muốn giữ Sài G̣n nguyên vẹn chứ không muốn Sài G̣n trở thành một đống gạch vụn khi họ chiếm đóng. Tuy nhiên không ai biết được một cách chắc chắn rằng Hà Nội sẽ không biến Sài G̣n thành b́nh địa nếu mà không có một sự thương thuyết nhằm vào việc đ́nh chiến” (ghi chú: Graham Martin: Bản Điều Trần Tại Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện Hoa Kỳ tại Washington ngày 22 tháng 1 năm 1976)

            ĐẠi sứ Martin nói trắng rằng đây là một việc mà chỉ có một ḿnh TT Thiệu mới có quyền quyết định, tuy nhiên ông Đại sứ cũng “nhắc khéo”  TT Thiệu là đa số người Việt Nam đều quy trách ông Thiệu là người phải chịu trách nhiệm trước sự thăm bại quân sự trong hơn một tháng qua, đa số người Việt Nam không tin rằng ông Thiệu c̣n có đủ khả năng lănh đạo dất nước vượt qua cuộc khủng hoảng nầy và họ tin tưởng rằng nếu ông Thiệu ra đi th́ việc thương thuyết với phe Cộng sản sẽ dễ dàng hơn.

            Tổng Thống Thiệu hỏi Đại sứ Martin rằng nếu ông ra đi, liệu quốc hội Hoa Kỳ có thay đổi ư kiến mà bỏ phiếu chấp thuận viện trợ bổ túc cho VNCH hay không th́ Đại sứ Martin trả lời rằng nếu cách đây vài tháng, việc đó có thể giúp VNCH có thêm vài ba phiếu tại quốc hội Mỹ, tuy nhiên đó là việc đă qua. Đại sứ nói thêm rằng “giả thử như quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ bổ túc cho VNCH đi nữa th́ sự viện trợ đó cũng không thể đến kịp thời để thay đổi t́nh h́nh quân sự tại miền Nam”

            Thật ra th́ khoảng 10 ngày trước đó, vào ngày 10 tháng 4, TT Hoa Kỳ Gerald Ford trong một bài diễn văn được truyền h́nh trên toàn nước Mỹ đă cho biết rằng ông đă yêu cầu quốc hội cung cấp 722 triệu đô la viện trợ quân sự bổ túc cho VNCH theo đề nghị của Đại Tướng Frederick Weyand và c̣n xin thêm 250 triệu nữa để cung cấp thực phẩm, thuốc men và cứu trợ cho người tỵ nạn, tuy nhiên đề nghị đă bị Thượng Viện lúc bấy giờ do Đảng Dân Chủ kiểm soát ngâm tôm, không cứu xét.

            Qua ngày 16 tháng 4, trong một bài diễn văn đọc trước “Hội Các Nhà Biên Tập Báo Chí Hoa Kỳ (American Society of Newspaper Ediors), TT Ford đă lên án quốc hội bội ước không giữ đúng sự cam kết và nghĩa vụ trợ giúp cho VNCH trong khi Liên Xô và Trung Cộng lại gia tăng nổ lực viện trợ cho đồng minh của họ là Cộng sản Bắc Việt. Dùng ngôn từ của giới mộ điệu football, TT Ford nói rằng: “Tôi cảm thấy muốn phát bệnh khi mà trong hiệp chót (của trận football) nước Mỹ đă không có một nổ lực đặc biệt nào, không có một chút cam kết dù là nhỏ nhoi trong việc viện trợ kinh tế và quân sự mà VNCH cần phải có để có thể tránh được t́nh trạng bi thảm nầy”

            Ngày hôm sau 17 tháng 4, Tiểu ban Quân vụ của Thượng Viện Hoa Kỳ do Đảng Dân Chủ kiểm soát biểu quyết không chấp thuận bất cứ viện trợ quân sự bổ nào cho VNCH, điều nầy có nghĩa là vấn đề viện trợ quân sự cho VNCH sẽ không c̣n được đưa ra cứu xét trước Thượng Viện Hoa Kỳ nữa.

            Qua ngày 18 tháng 4, quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô la dành cho nhiều nước trên thế giới, nhưng trong số những quốc gia nhận được viện trợ không có VNCH. Như vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có c̣n tồn tại, VNCH cũng sẽ không c̣n nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa, không c̣n ngân khoản nào để mua súng đạn, nhiên liệu và cũng không c̣n để trả lương cho quân đội nữa.

            Sau khi VNCH bị Cộng sản cưởng chiếm, Đại sứ Graham Martin đă điều trần với quốc hội rằng: “Tôi nói với TT Nguyễn Văn Thiệu rằng kết luận của tôi là dù các sĩ quan trong quân đội vẫn c̣n phải tiếp tục chiến đấu, nhưng gần như hàu hết các vị tướng lănh của ông Thiệu đều tin rằng đó là một cuộc chiến vô vọng, trừ khi mà bên cạnh sự chiến đấu đó phải bắt đầu khởi sự tiến tŕnh thương thuyết. Tôi nói với ông Thiệu rằng các tướng lănh tin tưởng rằng tiến tŕnh đó không thể nào được khởi sự trừ khi ộng Thiệu ra đi hoặc là ông Thiệu phải thực hiện ngay tiến tŕnh thương thuyết đó với phe Cộng sản. Tôi nói tôi có cảm tưởng rằng nếu ông Thiệu không từ chức ngay tức khắc th́ các tướng lănh của ông buộc ông phải ra đi”

            Sau khi Đại sứ Martin nói hết những điều cần nói. Tổng Thống Thiệu cam kết với ông Martin là ông “sẽ làm bất cứ những ǵ mà tôi nghĩ rằng có lợi nhất cho đất nước của chúng tôi.*123 (ghi chú: The Vietnam Experience, sđd, trang 136)


VIỆT NAM CỘNG H̉A 10 NGÀY CUỐI CÙNG
Trần Đông Phong
***

2
NGÀY THỨ HAI
21 tháng 4/1975.

 

           Ông Thiệu Từ Chức.

            Sau đêm suy nghĩ, trưa ngày hôm sau, thứ Hai 21 thánng 4, TT Thiệu mời Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại Tá Trần Thiện Khiêm, cưu thủ tướng, đến Dinh Độc Lập và thông báo với họ rằng ông sẽ từ chức. Tổng Thống Thiệu kể lại cho hai nhân vật nầy cuộc hội kiến với đại sứ Pháp và đại sứ Hoa Kỳ ngày hôm trước và nhận mạnh rằng cả hai ông đại sứ đều không chính thức khuyến cáo ông từ chức, tuy nhiên v́ t́nh h́nh quân sự đă trở nên vô vọng và ông cảm thấy rằng ông không c̣n có thể phục vụ đất nước hữu hiệu được nữa cho nên ông phải từ chức. TT Thiệu nói với cụ Trần Văn Hương và Đại Tướng Trần Thiện Khiêm rằng ông muốn bảo tồn tính hợp pháp của chế độ VNCH và do đó ông yêu cầu Phó Tổng Thống Trần Văn Hương nhận lănh chức vụ Tổng Thống VNCH để cứu văn t́nh thế.

            Tuy nhiên, trong một cuộc tiếp xúc qua điện thoại tại San Jose, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đă cho người viết biết rằng trong phiên họp tại Dinh Độc Lập sáng 21 tháng 4 năm 75, chỉ có ba người đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng Thống Trần văn Hương và ông Nguyễn Bá Cẩn, Thủ Tướng Chính Phủ. Ông Thiệu ngồi giữa, PTT Hương ngồi bên phải và ông Cẩn ngồi bên trái, không hề có cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm như trong các tài liệu khác đă nói. Theo ông Cẩn th́ trong phiên họp nầy, TT Thiệu loan báo cho cụ Hương và ông biết rằng ông đă quyết định từ chức tổng thống VNCH và yêu cầu Phó Tổng Thống Trần văn Hương lên thay thế ông theo đứng tinh thần hiến pháp 1967 (ghi chú: Mạn đàm qua điện thoại với cựu thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn tại San Jose, California, ngày 6/5/2002)

            Trong cuốn hồi kư Đất Nước Tôi mới xuất bản gần đây, cựu thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cho biết rơ hơn như sau:

            “Sáng thứ Hai (21/4/75) tôi gọi điện thoại hỏi Đại Tá Cẩm, đổng lư Văn Pḥng của TT Thiệu để bàn công việc khẩn cấp, toàn là những tin bất lợi mà tôi thu nhận được trong hai ngày cuối tuần vừa qua, từ quân sự cho đến ngoại giao, ngoại viện v.v.. Nhưng Đại Tá Cẩm cho tôi biết nhiều lần là TT Thiệu đang họp với PTT Hương. Đại Tá Cẩm cũng cho tôi biết là trong ngày Chủ Nhật hôm qua, Đại sứ Martin đến thảo luận với TT Thiệu về t́nh h́nh nguy ngập của miến Nam và h́nh như TT Thiệu sẽ lấy những quyết định tối ư quan trọng.

            “Sau cùng vào lúc 11 giờ trưa ngày 21 tháng 4, tôi được mời gặp TT Thiệu. Đến nơi, tôi nhận thấy không phải chỉ Tt Thiệu mà c̣n có thêm PTT Hương. Phiên họp vơn vẹn chỉ có ba người. TT Thiệu mở đầu là sau khi thảo luận với Đại sứ Martin, ông ta quyết định là từ chức và bàn giao trách nhiệm tổng thống Việt Nam Cộng Ḥa cho Phó TT Trần Văn Hương theo đúng hiến định. Việc TT Thiệu từ chức, ông ta cho biết, là đế xem quốc hội Hoa Kư có thay đổi lập trường của Uy ban quốc Pḥng Thương Viện, tiếp tục quân viện cho Việt Nam để mở đường cho Hoa Kỳ và đồng minh thương lượng một một giải pháp chính trị mà phía Cộng sản Bắc Việt nhất quyết từ chối mọi cuộc thảo luận nếu TT Thiệu c̣n tại chức. Đúng là cả bạn lẫn thù đang ban cho miến Nam phát súng ân huệ cuối cùng. (ghi chú: Nguyễn Bà Cẩn, sách đă dẫn, trang 421)

            Tuy cả hai ông Đại sứ Pháp Mérillon và Hoa Kỳ Martin đă thuyết phục TT Thiệu nên từ chức trong ngày Chủ Nhật nhưng TT Nguyễn Văn Thiệu cũng chưa có quyết định dứt khoát v́ dường như ông vẫn c̣n chờ đợi thái độ của các tướng lănh, ông vẫn c̣n chờ đợi xem các tướng lănh có c̣n ủng hộ ông trong việc ngồi lại ghế tổng thống hay không.

            Trong cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết vào năm 1984, cựu Tổng Thống Thiệu đă tiết lộ với ông rằng trước khi quyết định từ chức, ông đă mời các tướng lănh đến Dinh Độc Lập để báo cho họ biết về cuộc hội kiến với đại sứ Hoa Kỳ ngày hôm trước: “Ông Thiệu kể cho tôi (năm 1984) là  hôm sau ngày gặp ông Martin, ông đă mời các tướng lănh đến dinh Độc Lập-. Trong buổi họp ông cho họ biết về những chuyện Đại sứ Martin đề cập tới.Ông Thiệu nói nếu các tướng lănh cho rằng ông là một chướng ngại vật cho ḥa b́nh của đất nước th́ ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu ǵ cả. Thế là đă rơ họ không muốn cho ông ngồi ghế tổng thống nữa. Giữa lúc đó, ông tuyên bố từ chức và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay. (ghi chú: Nguyễn tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 389)

            Như vậy có lẽ TT Thiệu đă tham khảo các tướng lănh một cách bán chính thức trước khi quyết định từ chức và khi không c̣n được họ ủng hộ nữa, khi ông thấy rằng: “thế là đă rơ họ không muốn ông ngồi lại ghế tổng thống nữa”  th́ ông mới loan báo quyết định nầy với Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.

            Frank Snepp, nhân viên CIA và cũng là tác giả cuốn Decent Interval tiết lộ rằng khi ông Thiệu nói chuyện với Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại Tướng Trần Thiện Khiêm (hay Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn) tại Dinh Độc Lập th́ bộ phận nghe lén của CIA ở ṭa đại sứ Mỹ nghe hết không sót một lời nào. Trùm CIA tại Sài G̣n là Thomas Polga sau đó đă ra lệnh cho phụ tá của ông là Thiếu Tướng Charles Timmes đến gặp Đại Tướng Dương Văn Minh ngay chiều hôm đó và hỏi thẳng ông Dương Văn Minh rằn nếu người Mỹ có cách loại ông Hương ra khỏi ghế tổng thống th́ ông Minh có sẳn ḷng đảm nhận chức vụ nầy để điều đ́nh với Việt cộng hay không? Địa Tướng Minh gật đầu nhận lời, ông bày tỏ sự tin tưởng rằng ông có thể thuyết phục “phe bên kia” và ông nói với tướng Timmes rằng ông cần gởi ngay một địa diện của ông sang Paris để thương thuyết ngay với phe công sản. Nghe ông Minh nói như vậy, tướng Timmes liến mở cặp lấy ngay một ngàn đô la tiền mặt trao cho ông Minh để mua vé may bay cho người nầy. Frank Snepp chú thích thêm là ông Minh không hề gởi người nào sang Paris, không dùng đến số tiền nầy và cũng không trả lại cho người Mỹ. Frank Snepp cũng cho biết thêm là Đại sứ Martin không hề hay biết ǵ về việc CIA cho người tiếp xúc với Dương Văn Minh trước khi ông Thiệu từ chức. (ghi chú: Frank Snepp: sách đă dẫn, trang 395)

            Chiều hôm đó, ông Thiệu triệu tập hội đồng Na Ninh quốc Gia gồm có Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Binh, Tư Lịnh Cảnh Sát Quốc Gia, Thiếu Tướng Đăng Văn Quang, Phụ tá An Ninh, ngoài ra c̣n có thêm sự hiện diện của Trung Tướng Nguyễn Văn toàn, Tư Lịnh Quân Đoàn II và Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lịnh Biệt Khu Thủ Đô dù rằng hai nhân vật nầy không phải là thành viên của HĐANQG. Trong phiên họp nầy, Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng ông sẽ từ chức và ông sẽ loan báo việc nầy với quốc dân đồng bào vào tối hôm đó.

            Theo cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn, lúc đó đang giữ chức Tổng Trưởng Quốc Pḥng trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn và không được mời dự trong phiên họp nầy, Đại Tướng Cao Văn Viên đă kể lại với ông rằng ông Thiệu nói: “Lư do thứ nhất mà ông từ chức là v́ quân đội đưa ông lên ghế tổng thống năm 1967 th́ bây giờ ông phải làm vừa ḷng quân đội v́ quân đội định đảo chánh. Lư do thứ hai là ông tar a đi để Hoa Kỳ viện trợ trở lại cho Việt Nam Cộng Ḥa”. Ông Thiệu không nói rơ tên người nào dự định đảo chánh nhưng theo lời Tướng Trần Văn Đôn th́ lúc đó ai cũng nghi là ông ta, tuy nhiên ông minh xác rằng “sự thật không đúng vậy”. Ông Thiệu cũng cho mọi người biết rằng ông sẽ trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương như hiến pháp đă quy định và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đă nhận lời.

            Cựu Đại Tướng cao Văn viên cho biết them: “Trong buổi họp ở Dinh Độc Lập ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Thiệu tuyên bố từ chức. Theo lời giải thích của Tổng Thông Thiệu, Hoa Kỳ muốn ông từ chức và dù ông có muốn hay không th́ một số tướng lănh trong quân đội cũng sẽ ép buộc ông phải ra đi. Ông hy vọng sự từ chức của ông sẽ đem lại ḥa b́nh và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ giúp cho quân dội Việt Nam Cộng Ḥa. Theo hiến pháp, ông nhường chức lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Cuối cùng, Tổng Thống Thiệu mong muốn quân đội, Cảnh sát quốc Gia ủng hộ vị tân tổng thống”.(ghi chú: Cao Văn Viên: sách đă dẫn, trang 219)

            Chiều ngày 21 tháng 4 năm 1975, đài phát thanh sài G̣n lien tục đọc thông cáo khẩn cấp của Phủ Tổng Thống mời tất cả các vị nghị sĩ và dân biểu, các thẩm phán trong Tối Cao Pháp Viện và các vị giám sát trong Giám Sát Viện đến Dinh Độc Lập dự phiên họp đặc biệt váo tối hôm đó, tuy nhiên thông báo không nói rơ lư do của phiên họp nầy. Đúng 7 giờ rưởi tối hôm đó, Tổng Thống Nguyễn Văn thiệu đă nói chuyện với đại diện cả ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp cùng toàn the63 quốc dân đồng bào trong gần 2 tiếng đồng hồ và được trực tiếp truyền thanh và truyền h́nh trên toàn quốc.

            Tổng Thốngh Thiệu tŕnh bày các diễn tiến từ Hiệp Đinh Paris 1973 đến việc cộng sản leo thang chiến tranh năm 1974, việc Cộng sản chiếm Phước Long mà không gặp phản ứng nào từ phía Hoa Kỳ để rồi từ đó tấn chiếm Ba Mê Thuột mở đầu cho sự thất thủ mien Cao Nguyên, miền Trung và Duyên Hải. Ông Thiệu lên án đồng minh Hoa Kỳ không giữ lời hứa tiếp tục viện trợ cho VNCH và ông nói rằng:

            “Người Mỹ từ chối giúp đở cho một nước đồng minh, bỏ rơi một nước đồng minh như vậy là một điều vô nhân đạo. Các ông để cho chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo”

            Ông Thiệu nói thêm rằng: “Người Mỹ thường hănh diện họ là những kẻ vô địch bảo vệ cho chính nghĩa và lư tưởng tự do trên thế giới và sang tới năm (1976) họ sẽ ăn mừng kỷ niệm 200 năm lập quốc, liệu người ta c̣n có thể tin tưởng vào những lời tuyên bố của người Mỹ hay không?”. quay sang t́nh h́nh quốc nội, ông Thiệu nói rằng: “Tại một vài nơi, quân đội của chúng ta đă chiến đấu rất dũng cảm nhưng tôi cũng phải nh́n nhận rằng có một vài cấp lănh đạo quân đội, không phải tất cả, đă tỏ ra hèn nhát. Tôi có thể tiếp tục nhiệm vụ tổng thống để lănh đạo cuộc kháng chiến tuy nhiên tôi không c̣n có thể cung cấp vũ khí đạn dược (v́ người Mỹ đă cúp viện trợ) để cho quân đội tiếp tục công cuộc chiến đấu. Nhân dân có thể ghét tôi và họ cho rằng tôi sẽ là một chướng ngại vật cho hoa b́nh và do đó tôi chỉ c̣n một giải pháp duy nhất, đó là từ chức”.

            Ông Thiệu nói rằng ông từ chức không phải v́ áp lực của đồng minh, cũng không phải v́ những khó khăn về quân sự do Cộng Sản gây nên. Ông nói rằngcac1 nhà lănh đạo một số cường quốc trên thế giới thường tự hào là họ đă vượt qua được sáu, bảy hay mười cơn khủng hoảng và sau nầy đă viết hồi kư tự đề cao ḿnh như những bậc anh hung, như những chính khách vô cùng lỗi lạc, nhưng tong 10 năm lănh đạo miền Nam Việt Nam, từng năm, từng tháng, từ ngày, từng giờ ông Thiệu đă đương đầu với mọi khó khăn như lá số tử vi của ông đă nói rơ.

            Ông Thiệu kết luận rằng:

            “Tôi sẳn sàng nhận lănh sự phán xét và buộc tội của đồng bào nhưng sự sống c̣n của cả một dân tộc không có thể mang ra mặc cả như con cá ở ngoài chợ. Tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ”. Sau đó ngừng một giây đồng hồ, ông Thiệu nói tiếp “Theo hiến pháp, người thay thế tôi là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương”.

            Sau khi dứt lời ông Nguyễn Văn Thiệu bước xuống mời Phó Tổng Thống Trần văn Hương lên tuyên thệ nhậm chức. Trong bài diễn văn ngắn ngủi, tân Tổng Thống Trần Văn Hương nhắn nhủ với quân đội:

            “Chừng nào các anh em c̣n tiếp tục chiến đấu, bao giờ tôi cũng đứng tôi cũng sẽ đứng bên cạnh các anh em. Đất nước chúng ta đang rơi vào cơn thảm họa nhưng ước vọng quư giá nhất của tôi là sẽ được đóng góp xương máu và chia xẻ mọi gian nguy của các anh em ở chiến trường. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.

            Sau đó cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngồi vào ghế của Phó Tổng Thống và tân tổng thống ngồi vào ghế của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trước đó để nghe Đại Tướng Cao Văn Viên đọc nhật lệnh cho quân đội tiếp tục nhiệm vụ chiến đấu và Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh kêu gọi các lực lượng cảnh Sát tiếp tục nhiệm vụ duy tŕ an ninh trật tự trên toàn quốc.

            Trong khi lễ bàn giao đang diễn ra tại Dinh Độc Lập, các đơn vị cuối cùng c̣n lại của sư Đoàn 18 bắt đầu di tản ra khỏi thị trấn Xuân Lộc sau khi đă chiến đấu vô cùng anh dũng chống lại một lực lượng chính quy Bắc Việt đông gấp năm lần trong hơn hai tuần lễ. Khi cụ Trần Văn Hương nhậm chức tổng thống th́ quân Cộng sản đă tiến về tới Biên Ḥa và bộ máy của cơ quan t́nh báo Mỹ CIA cùng t́nh báo của Pháp cũng như Đại sứ là ông Jean-Marie Mérillon đă bắt đầu hoạt động ráo riết để đưa cựu Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay thế ông Trần Văn Hương nhằm thương thuyết với Cộng Sản.

            Trong khi đó th́ từ Hà Nội, Ban Bí Thư Đảng đă gửi điện văn số 316-TT/TW ngày 21 tháng 4 năm 1975 cho tất cả các chi bô Đang chỉ thị về việc chọn lựa cán bộ để tiếp thu Sài G̣n và các tỉnh miền Nam. Chỉ thị nầy nói rằng ưu tiên dành cho các cán bộ quê ở miến Nam, nếu trường hợp thiếu th́ mới dùng cán bộ miền Bắc. Ngoài ra chỉ thị nầy cũng ra lệnh phải điều động cán bộ khẩn trương để sớm đi nhận nhiệm vụ. Chỉ thị nầy do Lê văn Lương, Ủy viện Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Tổ Chức đảng kư tên. (ghi chú: Văn kiện Đảng: trang 291-293)

            Cũng trong ngày 21 tháng 4, Tố Hữu thay mặt cho Ban Bí Thư gởi bức điện văn số 178  gởi cho “Anh Bảy” Phạm Hùng, “Anh Sáu Mạnh” Lê Đức Thọ Thường Vụ Trung Ương Cục về những chỉ thị của Bộ Chính Trị trong công tác tiếp quản thành phố Sài G̣n bao gồm 156 mục tiêu quân sự, 122 mục tiêu chính trị và hành chánh, 103 mục tiêu kinh tế v.v.. Chỉ thị nầy dài 7 trang giấy tuy nhiên chỉ là những chi tiết về việc tiếp thu các cơ quan tại Sài G̣n và quan trọng nhất là việc thành lập một Ủy Ban Quân Quản  tại Sài G̣n-Gia Định cũng như là những ủy ban quân quản của 11 quận đô thành. Chỉ hti5 cũng chú trọng đến việc tổ chức ngay các đội quân cảnh, các đội cảnh sát, các đội tự vệ nhân dân ở địa phương để giữ ǵn an ninh trật tự, quản lư bọn ngụy quân, ngụy quyền, phát hiện bọn phản động lẫn trốn và trấn áp bọn phản cách mạng hiện hành. Bản chỉ thị không hề đả đo65ng ǵ đến chuyện thương thuyết hay ḥa hợp ḥa giải với thành phần thứ ba thứ tư nào cả. (ghi chú: Văn kiện Đảng: trang 294-299)