Viện
trợ khẩn cấp 722 triệu
để
cứu miền Nam
Trọng Đạt:

Sơ lược
t́nh h́nh trước 1975
Năm 1964 miền Nam VN nhiều xáo trộn về
chính trị, các tôn giáo, Tướng lănh, đảng phái… tranh giành
quyền lực ảnh hưởng khiến cho CSBV lợi dụng gia tăng đưa
quân xâm nhập ḥng thôn tính vựa lúa miền Nam bằng mọi giá.
Năm 1965 t́nh h́nh càng xấu hơn, năm 1969 khi đă thôi làm Tư
lệnh, Tướng Wesmoreland nói nếu Mỹ không đổ quân vào giữa
nam 1965 th́ đă mất trong 6 tháng, Tướng Ngô quang Trưởng
cũng cho biết năm 1965 trung b́nh một tuần VNCH mất một quận
và một tiểu đoàn (Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh 1972), nếu
Mỹ không đưa quân vào (khoảng 160 ngàn ngươi) th́ đă mất từ
hồi đó.
Người Mỹ đổ quân vào miền Nam v́ quyền lợi của chính họ,
nước Mỹ phải đẩy biên giới của họ càng xa càng tốt, thập
niên 60 các Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy, Johnson và cả Nixon
khi ấy chưa làm tổng thống đều ủng hộ việc can thiệp bằng
quân sự vào Đông Dương Dương, họ tin vào thuyết Domino có từ
thời Tổng thống Eisenhower cho rằng nếu mất Đông Dương hoặc
VN th́ các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Miến Điện, Mă lai,
Phi Luật Tân, Nam Dương …sẽ bị mất hết như trong ván cờ
domino. Cả hai viện Quốc Hội đều ủng hộ hành pháp trong việc
đưa quân vào miền Nam VN. Tháng 2 năm 1965 theo thăm ḍ của
Viện Harris đại đa số hay 78% người Mỹ cho rằng nếu họ rút
khởi VN th́ CS sẽ chiếm hết Đông Nam Á, chỉ có 10% là không
tin như vậy, thuyết Domino kêu gọi hành động và Johnson phải
đưa đại binh vào VNCH năm 1965. (theo answer.com, Domino
theory).
Việc người Mỹ đưa quân vào Đông Dương 1965 là do sự đồng
thuận của cả lập pháp, hành pháp, của đại đa số người dân
trước nguy cơ CS quốc tế đang bành trướng thế lực nhất là
tại Á châu, đó là một sự tất yếu lịch sử, hồi đó thuyết
Domino là hoàn toàn đúng nhưng nay nhiều người Mỹ cho rằng
đó là một quyết định sai lầm hoặc cuộc chiến VN là một sự
sai lầm. Nhiều người Mỹ giả bộ ngây thơ khéo lắm, nếu không
ngăn chận quyết liệt sự xâm lấn như tầm ăn dâu của CS hồi ấy
th́ nước Mỹ đă không duy tŕ được ảnh hưởng của họ tại Á
Châu như ngày nay. Năm 1965 Mỹ đổ quân vào VN trước sự thờ ơ
của các nước đồng minh Tây phương Anh Pháp, họ không phụ
giúp Mỹ tại Đông Dương v́ cho rằng Mỹ can thiệp vào VN v́
quyền lợi của nước Mỹ, ai cũng đều biết cả.
Những năm 1965, 66, 67.. chiến sự ngày một mở rộng, Quốc hội
Mỹ chấp thuận cho Johnson tăng quân từ 184,300 người năm
1965 lên 385,300 người năm 1966, 485,600 người 1967 và
530,100 người năm 1968. Được nhân dân và quốc hội ủng hộ từ
đầu nhưng sau gần 4 năm điều khiển cuộc chiến tranh Đông
Dương, cặp Johnson-McNamara chẳng làm lên cơm cháo ǵ, số
tổn thất nhân mạng đă lên cao, tổng cộng có 35,751 người
chết trong số này khoảng 31,000 người chết tại trận địa
(Killed in action, Battle dead), số c̣n lại chết v́ những lư
do khác như tai nạn, rủi ro, chết đuối, tai nạn xe cộ, cố
sát, chán đời tự sát, bệnh tật, sốt rét…
Số người ủng hộ chính phủ tụt thang nhanh chóng nhất là sau
trận Mậu Thân 1968. Từ cuối 1965 tới cuối 1966 số người ủng
hộ giảm từ 61% xuống c̣n 51%, từ đầu 1967 tới cuối 1967 giảm
từ 52% xuống c̣n 45%, từ đầu 1968 tới tháng 10-1968 giảm từ
42% xuống c̣n 37%, từ đầu 1969 tới tháng 10-1969 giảm từ 39%
xuống 32%, từ đầu 1970 tới giữa 1971 giảm từ 33% xuống c̣n
28%. (nguồn Wikipedia)
Năm 1969 Nixon lên nhậm chức Tổng thống, trước áp lực mạnh
của cử tri và quốc hội hứa bằng mọi giá đem quân về nước,
t́m hoà b́nh trong danh dự, khác với Johnson trước đây được
cử tri, Quốc hội ủng hộ cho tăng quân hàng năm nhưng Nixon
bị áp lực phải rút quân về nước. Mặc dù hứa đem quân về nước
nhưng ông vẫn không chịu bỏ Đông Dương như cử tri và quốc
hội đ̣i hỏi, sự thực không phải v́ t́nh nghĩa với đồng minh
mà v́ danh dự một siêu cường hay gọi là giữ thể diện quốc
gia.
Từ cuối thập niên 60 và đầu 70 Tiễn sĩ Kissinger được Nixon
giao nhiệm vụ móc nối đi đêm với Trung Cộng mà họ đă âm thầm
thực hiện khi mà cả hai phe Mỹ và CS quốc tế nhất là Trung
Cộng đă quá mệt mỏi v́ cuộc chiến tranh Đông Dương quá tốn
kém cho cả hai bên. Trước những đ̣n chống trả CS quyết liệt
của Mỹ tại VN, Trung Cộng cũng như CS quốc tế phải chùn bước
đi tới hoà giải chấm dứt chiến tranh. Ngày 9-7-1971
Kissinger bí mật gặp Chu Ân Lai tại Bắc Kinh, nửa năm sau
ngày 21-2-1972 Nixon sang Tầu, cái bắt tay giữa TT Nixon và
Mao Trạch Đông thay đổi cả một kỷ nguyên. Người Mỹ đă giải
quyết tận gốc thuyết Domino, giải quyết tận gốc cuộc chiến
Đông Dương bằng ngoại giao chứ không bằng quân sự như trước
nũa. Sau đó dù Mỹ bỏ VN cũng sẽ không ảnh hưởng ǵ tới an
ninh của Đông Nam Á như họ đă lo lắng trước đây. Từ 20 tới
29-5-1972 Nixon đi Nga để giải quyết toàn bộ cuộc chiến Đông
Dương với CS quốc tế.
T́nh
h́nh 1975
Trước hết xin nói sơ về viện trợ quân sự
của Mỹ và CS quốc tế cho hai miền Nam Bắc.
Quân
viện tại miền Bắc
Theo bản tin của BBC.com ngày 10-5-2006 ,
Viện Lịch sử Quân sự CSVN đă công bố những số liệu về nguồn
chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xă hội chủ
nghĩa dành cho miền Bắc trong cuộc chiến.
Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN
viện trợ từ năm 1955 đến 1975 qua từng giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1955-1960: Tổng số 49,585 tấn gồm: 4,105 tấn hàng
hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật
Giai đoạn 1965-1968: Tổng số 517,393 tấn, gồm 105,614 tấn
hàng hậu cần và 411,779 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật
Giai đoạn 1969-1972: Tổng số 1,000,796 tấn gồm 316,130 tấn
hàng hậu cần, 684,666 tấn hàng vũ khí, trang bị kỹ thuật
Giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724,512 tấn gồm 75,267 tấn hàng
hậu cần, 649,246 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật
Về chủng loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu, các
tác giả ở Viện lịch sử quân sự cho biết số liệu như sau:
Về súng bộ binh tổng số là 3,609,863 khẩu (Liên Xô, Trung,
các nước XHCN khác)
Về súng chống tăng tổng cộng 65,590 khẩu,
Về súng cối tổng cộng có 27,969 khẩu,
Máy bay chiến đấu tổng cộng 458 chiếc
Đạn tên lửa (quả): Liên Xô 10,169.
Ngoài ra trong cuốn “5 Đường Ṃn Hồ Chí Minh” của Đặng Phong
trang 120 dựa theo Đại Tá CSBV Trần Tiến Hoạt trong bài
“Nguồn viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và Các nước
XHCN” có nói rơ thêm nhiều chi tiết, chúng tôi xin sơ lược
như sau:
Pháo hoả tiễn: 2,430 khẩu (Liên Xô1,877, Trung Quốc 290, các
nước khác 263)
Pháo mặt đất: 2,770 khẩu (Liên Xô 789, Trung Quốc 1,367, các
nước XHVN khác 614)
Pháo cao xạ: 3,229 khẩu (Trung Quốc)
Tên Lửa SA 75M: 23 quả (Liên Xô)
Tên lửa VT 50v: 8,686 quả (Liên Xô)
Tên lửa Hồng Kỳ: 1 trung đoàn (Trung Quốc)
Tên lửa S125: Hai trung đoàn (Liên Xô)
Đạn tên lửa K681: 960 quả (Liên Xô 480, Trung Quốc 480).
Tầu chiến hải quân: 82 chiếc (Liên Xô 52, Trung Quốc 30).
Tầu vận tải hải quân: 148 chiếc (Liên Xô 21, Trung Quốc 127)
Xe tăng các loại: 1,249 (Liên Xô 687, Trung Quốc 552, các
nước XHCN khác 10)
Xe bọc thép: 970 chiếc (Liên Xô 610, Trung Quốc 360.
Xe xích kéo pháo: 2,412 (Liên Xô 1,332, Trung Quốc 322, các
nước XHCN khác 758).
Sau khi kư Hiệp định Paris, Hà Nội cho khởi công xây tuyến
đường xa lộ Đông Trường Sơn hay hành lang 613, song song với
đường ṃn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa phận Việt Nam Cộng
Ḥa từ Đồng Hới cho tới Lộc Ninh, đến đầu 1975 th́ công
tŕnh hoàn thành dài 1,200 km. Dọc theo Đông Trường Sơn là
hệ thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh.
Chiều dài toàn bộ hệ thống chiến lược Trường Sơn tới 1975 là
16 ngàn km gồm 5 hệ thống đường trục dài 5,500 km, 21 đường
trục ngang dài 1,020 km, một đường hệ thống dẫn dầu dài
5,000 km. CSBV đă xử dụng 16,000 xe vận tải chuyên chở vũ
khí đạn dược thoải mái vào Nam từ sau hiệp định Paris 1973,
đường Trường Sơn không bị Mỹ oanh tạc như trước (Chúng tôi
dựa theo Nguyễn Đức Phương trong Chiến Tranh VN toàn tập và
Đặng Phong trong 5 Đường Ṃn HCM)
Năm 1976 tại miền Nam báo Sài G̣n Giải Phóng tiết lộ số
lượng vũ khí đạn dược năm 1975 của CSBV nhiều gấp ba lần năm
1972. Sở dĩ súng đạn của BV năm 1975 gấp bội năm 1972 v́ họ
mang vào Nam được nhiều hơn v́ đường Trường Sơn không bị
oanh kích như xưa, khối lượng hàng viện trợ vũ khí như ta đă
thấy trong hai giai đoạn này (1969-1972 và 1973-1975) không
thay đổi mấy, coi như tương đương.
Quân viện tại miền Nam
Trong cuốn “1969 Việc Từng Ngày” của ông Đoàn Thêm trang 338
có ghi.
“Ngày
4-11-1969.
Quân phí của Hoa Kỳ tại Việt
Nam.
Năm 1962: 287 triệu Mỹ kim
Năm 1963: 384,1 triệu MK
Năm 1964: 403 triệu MK
Năm 1965: 646,1 triệu MK
Năm 1966: 5,8 tỷ MK
Năm 1967: 20,1 tỷ MK
Năm 1968: 26,5 tỷ MK.
Năm 1969: 28,8 tỷ MK”
Trong cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Giáo
sư Nguyễn Tiến Hưng nói về quân phí và quân viện như sau.
“Để dễ so sánh, ta nên coi lại những chi
tiêu và sự viện trợ quân sự những năm trước đó:
- Trong thời gian 1966-1970: Mỹ tiêu 25 tỷ đô la một năm.
- Trong hai năm 1970-1971: tiêu 12 tỷ một năm (v́ đang rút
quân).
- Sau khi Mỹ rút, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Ḥa:
- Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)
- Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ)
- Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).
(Trang 223)
Về chi tiết số quân viện bị cắt giảm c̣n
700 triệu, cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy kể trên có nói.
“T́nh h́nh
viện trợ từ 1967 đến 1970, lúc Hoa Kỳ c̣n đang dấn thân sâu
đậm ở chiến trường Việt nam, mỗi năm cuộc chiến đă tốn tới
25 tỷ đô la. Trong hai năm 1970 và 1971, chi phí mỗi năm
giảm xuống c̣n 12 tỷ. Giờ đây, sau khi quân đội Mỹ triệt
thoái, Việt nam Cộng Ḥa phải một ḿnh đảm nhiệm cuộc chiến,
và với ngân khoản 700 triệu viện trợ, trong khi đó th́ cuộc
khủng hoảng dầu lửa đă làm giá săng nhớt tăng gấp bốn. Bởi
vậy măi lực thật của ngân khoản ấy chỉ là trên dưới 350
triệu, bằng 3% của mức chi tiêu 1970-71.
T́nh h́nh viện trợ quân sự
tài khóa 1975 rất rối ren, nhưng có thể tóm tắt như sau:
- Mức ban đầu do chính phủ
Nixon đề nghị là 1,4 tỷ, tức bằng tài khóa 1974;
- Ủy Ban Quốc Pḥng Thượng
nghị viện do Nghị sĩ John Stennis (Mississipi) làm chủ tịch
giảm c̣n một tỷ 126 triệu cho cả Đông Dương, phần chia cho
miền Nam là một tỷ;
- Trước khi từ chức, Tổng
thống Nixon kư thành luật một mức tối đa cho Việt Nam Cộng
Ḥa là một tỷ;
- Sau khi Ford nhậm chức, Ủy
Ban Chuẩn Chi Thượng Viện do Nghị sĩ John McClellan
(Arkansas) làm chủ tịch, cắt xuống c̣n 700 triệu.”
(Trang 222, 223)
Tổng thống Nixon từ chức ngày 9-8-1974,
phó Tổng thống Ford lên thay, hạ tuần tháng 9-1974 Tổng
thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cử bộ trưởng ngoại giao Vương
Văn Bắc đi Mỹ để vận động xin thêm 300 triệu quân viện để
phục hồi một tỷ như cựu Tổng thống Nixon đă kư trước đây.
Ông Vương Văn Bắc mang bức thư đề ngày 19-9-1974 của Tổng
thống Thiệu sang tŕnh Tổng thống Mỹ Gerald R. Ford.
Tại Hoa Thịnh Đốn, bộ trưởng ngoại giao Kissinger đưa ông
Vương Văn Bắc và đại sứ Phượng vào gặp Tổng thống Ford. Ngày
24-10-1974 sau khi ông Bắc đă về VN hơn một tháng, Tổng
thống Ford gửi thư phúc đáp TT Thiệu nói vẫn ủng hộ chính
phủ VNCH. Ngày 2-1-1975 hành pháp đưa ra Quốc hội ngân khoản
phụ trội 300 triệu.
Đầu tháng 3-1975 một phái đoàn quốc hội Mỹ được cử tới Việt
Nam để thẩm định t́nh h́nh trước khi quyết định viện trợ
thêm, thành viên đa số có lập trường chống đối viện trợ cho
VN. Phái đoàn Mỹ vừa rời Sài G̣n th́ CSBV tấn công Ban Mê
Thuột ngày 10-3-1975. Mấy ngày sau 13-3-1975, khi ấy mất Ban
Mê Thuột, Quốc Hội Mỹ bỏ phiếu với đại đa số chống bất cứ
viện trợ nào thêm cho VNCH. Ngày 10-3-1975 Chủ tịch Thượng
viện Trần văn Lắm trở về Sài G̣n sau chuyến đi Mỹ vận động,
ông nói không hy vọng ǵ đối với khoản 300 triệu mà sẽ không
bao giờ c̣n viện trợ quân sự nữa.
Ngoài ra một đề nghị khác xin viện trợ khẩn cấp vào giờ chót
cũng đă bị Quốc hội bác. Ngày 25-3-1975 Tướng Weyand và Đại
sứ Martin họp với Tổng thống Ford tại ṭa Bạch Ốc, sau đó
Tổng thống Ford cử Weyand đi Việt Nam. Bộ trưởng quốc pḥng
Schlesinger đă dặn ḍ Weyand đừng hứa hẹn nhiều, đừng để cho
VNCH hy vọng Mỹ sẽ đảo ngược t́nh thế, họ cho rằng không thể
đảo ngược được. Weyand tới Sài G̣n ngày 28-3-1975 để quan
sát t́nh h́nh rồi trở về Mỹ ngày 4-4-1975. Ngày 5-4-1975
Kissinger họp báo về chuyến đi công tác của Tướng Weyand
biện hộ cho việc cứu xét 722 triệu Mỹ kim tiền viện trợ khẩn
cấp cho Việt Nam mà Weyand đề nghị.
Kissinger cũng muốn “bán cái” cho Quốc hội v́ thực ra ông
cũng không ủng hộ đề nghị trên. Ngày 9-4-1975, một ngày
trước khi Ford ra Quốc hội Kissinger khuyên Tổng thống Ford
hăy đưa nước Mỹ ra khỏi VN, các thầy dùi cố vấn của Ford đều
khuyên ông bỏ Đông Dương và VN.
Gerald Ford ra trước Quốc Hội ngày 10-4-1975, ông nói Mỹ đă
cắt giảm viện trợ VNCH để cho CSBV lộng hành mà chưa có biện
pháp trừng phạt. Tổng thống yêu cầu Quốc hội chấp nhận ngân
khoản 722 triệu và ấn định thời hạn 10 ngày, hạn chót để
Quốc hội biểu quyết là ngày 19-4-1975. Sự thực Ford chỉ đưa
ra Quốc hội cho có lệ, ông đoán biết trước không đi tới đâu,
ngân khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu đă bị bác bỏ ngày
18-4-1975 cùng ngày với cuộc rút quân của Sư đoàn 18 ra khỏi
Long Khánh.
Báo Times số ngày 21-4 nói ông Ford yêu cầu Quốc hội viện
trợ nhưng chính ông lại chẳng hy vọng ǵ, họ cho rằng ông đă
“bán cái” cho Quốc hội. Mười năm sau Brent Scowsroft, phụ tá
của tổng thống Ford đă trả lời rơ ràng trong một cuộc phỏng
vấn của GS Nguyễn Tiến Hưng như sau:
“Thực ra,
không một ai trong chúng tôi tin rằng sẽ xin Quốc hội được
khoản tiền ấy (722 triệu đô la). Việc xin như vậy chỉ là một
cách làm cho chúng tôi trông có vẻ như vẫn c̣n thật ḷng về
tất cả những cố gắng ấy. Chúng tôi chỉ quan tâm đến cách rút
đi và giải kết mà thôi”
Khi Đồng Minh Tháo Chạy trang 293.
Hành pháp muốn bán cái cho Quốc hội, họ
đổ lỗi cho Quốc hội một cách khéo léo, thực ra trong thâm
tâm họ t́m cách rút khỏi VN, dù hành pháp, lập pháp họ cũng
là Mỹ, họ v́ quyền lợi của đất nước họ.
Về hậu quả của cắt giảm quân viện, cựu
Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH
trong cuốn Những Ngày Cuối VNCH đă cho biết về ảnh hưởng tai
hại của quyết định giảm thiểu viện trợ quân sự của Quốc hội
Mỹ đối với quân đội VNCH, nó đă khiến quân đội thiếu thốn và
giảm hỏa lực rất nhiều, không thể tồn tại lâu được nếu không
có tăng viện.
“Ngân
khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu
của quân đội VNCH, trong năm 1975 hoạt động quân sự của CSBV
gia tăng 70% hơn năm trước”
Những Ngày Cuối của VNCH, trang 85.
Trong mục nói về ngân quĩ của Không quân
và Hải quân trang 86, 87 ông Cao Văn Viên đă cho biết cụ
thể, xin tóm lược dưới đây như sau.
Với số ngân khoản ít hơn, không quân VNCH phải giải tán hơn
200 phi cơ gồm các loại như chiến đấu. Giảm giờ bay thực tập
và yểm trợ, Không quân chỉ cung ứng 50% yểm trợ hỏa lực và
58% các phi vụ thám thính so với tổng số các phi vụ trong
năm 1973-1974. Trực thăng vận bị giảm 70% v́ thiếu nhiên
liệu gây trở ngại cho việc tản thương, tăng viện hay tiếp tế
nhất là tại đồng bằng sông Cửu long, sông ng̣i chằng chịt.
Các hoạt động Hải quân bị cắt giảm 50%, các hoạt động ở sông
ng̣i chỉ c̣n 28%, sự cắt giảm sâu rộng khiến ta phải giải
tán 600 giang thuyền . Hải quân không c̣n đủ khả năng kiểm
soát sông ng̣i và vùng ven biển nhất là Vùng 4, sự kiểm soát
cửa khẩu dẫn vào sông Sài G̣n, đường sông Sài G̣n – Vũng
Tầu, các bến tầu Qui Nhơn, Đà Nẵng, Cam Ranh nằm trong t́nh
trạng nguy hiểm.
Trang 88 và 89 sách nêu trên ông Cao Văn Viên nói về khó
khăn trong việc thay thế phụ tùng và quân cụ.
Từ trang 89 tới 94 tác giả đề cập tới tiết mục quan trọng
nhất: Nhiên liệu và đạn dược.
Tổng số ngân sách của Lục quân năm 1975 là 458 triệu đô la,
52% số tiền đó (239 triệu) dành cho đạn dược, tuy vậy con số
này chỉ cung ứng được 56% nhu cầu thực sự của Lục quân. Hàng
tháng ngân quĩ chỉ cho phép lấy ra một số tiền là 19.9 triệu
(gần 20 triệu) cho chi phí đạn dược. Con số này chỉ bằng
phân nửa chi phí hàng tháng trong thời gian từ tháng 6-1973
đến tháng 2-1974 là 37.3 triệu (hơn 37 triệu), ngoài ra vấn
đề lạm phát làm giá đạn tăng 27.7%.
Trong 8 tháng từ tháng 7-1974 đến tháng 2-1975 quân đội xử
dụng 19,808 tấn đạn hàng tháng chỉ bằng 27% (hay chưa tới
1/3) so với 73,356 tấn dùng hàng tháng trong thời gian trước
(có nghĩa là hỏa lực giảm hơn 70%).
Trang 92, tác giả Cao Văn Viên cho thấy thực trạng bi thảm
của tồn kho đạn dược dự trữ.
Mặc dù một số đạn dự trữ trong kho của Quân Đội Hoàng Gia
Lào được chuyển sang cho quân đội VNCH, số dự trữ tồn kho
của chúng ta chỉ cung ứng được từ 30 đến 45 ngày. Vào tháng
2-1975, số lượng đạn tồn kho tuột xuống con số nguy hiểm.
Các loại đạn súng lớn nhỏ chỉ đủ xài trong khoảng 30 ngày.
Tháng 4-1975 đạn tồn kho ở bốn kho dự trữ tuột xuống mức độ
thấp nhất là chỉ đủ 14 đến 20 ngày cung ứng”.
Khoản 722 triệu khẩn cấp
Chúng tôi xin đề cập kỹ hơn về khoản viện trợ này nhân dịp
tháng tư đen năm nay, chúng ta nên để ư từ khi CSBV bắt đầu
tiến hành chiếm miền Nam bằng quân sự, quân viện của Mỹ cho
miền Nam thường không đủ cho nhu cầu chiến trường so với BV,
họ đă được CS quốc tế viện trợ rất dồi dào. Năm 1964, 1965
t́nh h́nh miền Nam nguy khốn v́ hoả lực mà người Mỹ cấp cho
miền Nam thua kém hoả lực của Cộng quân do Nga Tầu viện trợ,
năm 1972 VNCH đă được Mỹ viện trợ đầy đủ hơn những năm sau
Hiệp định Paris nhưng nếu không có yểm trợ của phi cơ chiến
lược B-52 miền Nam đă mất nhiều tỉnh như Kontum, Quảng Trị,
B́nh Long…chính cựu Đại Tướng Cao Văn Viên đă xác nhận như
thế. Nhiều người cho viện trợ súng đạn của CS quốc tế cho BV
để đánh nhau với Mỹ chứ không phải với VNCH.
Khi đưa quân vào VNCH từ năm 1964 là 23,300 người và 1965 là
184,300 người Hoa Kỳ tưởng rằng với hỏa lực hùng hậu họ sẽ
đè bẹp quân địch ngay nhưng hỏa lực của CS quốc tế viện trợ
cho BV không đến nỗi tệ như họ nghĩ. Cho tới cuối năm 1966
có 832 chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi (Đoàn Thêm, 1966, Việc
Từng Ngày trang 223), toàn bộ cuộc chiến có 2,251 chiếc bị
CS bắn hạ (nguồn en.wikipedia.org). Ngày 16-12-1972 tại
cuộc Ḥa đàm Paris, BV bỏ không thèm họp tiếp mặc dù bị Mỹ
hăm dọa oanh tạc ồ ạt điều này chứng tỏ họ đă được Nga cung
cấp một lực lượng pḥng không hùng hậu nên đă tỏ ra ngang
ngược , trong trận oanh tạc Giáng Sinh 1972, CSBV đă bắn hạ
15 B-52 và 12 phi cơ chiến thuật khác.
Khác với thời Thế Chiến Thứ Hai các nước Anh, Mỹ, Nga, Đức,
Nhật … đă tự sản xuất được vũ khí để giao tranh, hai miền
Nam, Bắc VN đều phụ thuộc vào viện trợ quân sự của các nước
ngoài như Mỹ, Trung Cộng, Nga Sô… bên nào bị cắt giảm viện
trợ là thua ngay như VNCH năm 1975. Đối với cả hai miền Nam,
Bắc, viện trợ quân sự là một vấn đề sinh tử như đồ ăn thức
uống vậy.
Trong khi VNCH hấp hối v́ bị tấn công dữ dội, quân khu 1 và
2 đă rơi vào tay BV mà Tổng thống Ford cho biết ông đă cử
Tướng Weyand sang Sài G̣n điều tra, ông đang chờ bản điều
tra của Tướng Weyand th́ ta đă thấy không c̣n hy vọng ǵ vào
người Mỹ. Nay nhiều bí mật đă được tiết lộ, Tướng Weyand
sang Sài G̣n ngày 28-3-1975 cũng chỉ là để t́m cách thu hồi
máy bay, tầu chiến cho khỏi lọt vào tay Cộng quân được chừng
nào hay chừng nấy, họ chuẩn bị rút chạy.
Đài VOA ngày 18-4-1975 cho biết Quốc hội Mỹ bác bỏ quân viện
khẩn cấp 722 triệu mà chỉ thuận cấp ngân khoản di tản, họ
cho rằng nếu viện trợ cho miền Nam số ngân khoản này cũng
chỉ kéo dài chiến tranh gây thêm tang tóc. Cùng ngày
18-4-1975 Tướng Toàn cho lệnh Sư đoàn 18 rút bỏ Long Khách
về lập tuyến pḥng thủ Sài G̣n, ngày 21-4-1975 TT Thiệu từ
chức, phó TT Trần Văn Hương lên thay, ngày 28-4-1975 Đại
Tướng Dương Văn Minh đươc cử lên làm TT thay thế ông Trần
Văn Hương để rồi ngày 30-4-1975 miền Nam hoàn toàn mất vào
tay CS.
T́nh h́nh cuối tháng tư 1975 chỉ có sự yểm trợ của pháo đài
bay B-52 mới mong cứu văn nổi t́nh thế nhưng từ tháng 6-1973
Quốc hội Mỹ đă biểu quyết cắt các ngân khoản cho các hoạt
động quân sự của chính phủ tại Đông Dương, tháng 10 Quốc hội
ra Đạo Luật Quyền hạn chiến tranh (War Powers Act) giới hạn
quyền Tổng thống Mỹ, hành pháp đă bị trói tay chỉ c̣n cách
rút lui khỏi Đông Dương.
Chúng tôi xin so sánh lực lượng hai bên vào ngày 18-4-1975
khi quốc hội bác bỏ quân viện khẩn cấp 722 triệu Mỹ kim.
Khoảng một tuần sau khi hai quân khu 1 và 2 bị lọt vào tay
CSBV, TT Thiệu lên tiếng trên đài truyền h́nh về hiện t́nh
của miền Nam, ông cho biết lực lượng CSBV đưa vào Nam lên
tới 25 Sư đoàn, nhưng đa số các tài liệu cho biết họ đưa vào
khoảng 20 Sư đoàn. Theo tác giả Nguyễn Đức Phương (Chiến
Tranh VN Toàn Tập) BV có 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232
(tương đương một quân đoàn) tổng cộng 15 Sư đoàn . Trong hồi
kư của văn Tiến Dũng có ghi lời Lê Đức Thọ, y nói chúng ta
có 15 Sư đoàn, ngoài ra trong Những Ngày Cuối VNCH trang 160
cựu Đại Tướng Cao Văn cho biết BV có khoảng hơn 10 trung
đoàn độc lập và một số trung đoàn đặc công tại Vùng 1 tương
đương với 3 hoặc 4 Sư đoàn như vậy toàn bộ lực lượng BV tại
miền Nam vào khoảng 20 Sư đoàn cộng với khoảng từ 20 tới 30
trung đoàn xe tăng , pháo pḥng không, pháo mặt đất…
Tác giả Nguyễn Đức Phương trong chương gần cuối cuốn Chiến
Tranh VN Toàn Tập nói về chiến dịch Hồ Chí Minh tấn công Sài
G̣n đă trích tài liệu CS như sau
“ CS cũng
đă xác nhận cán cân lực lượng trong chiến dịch này như sau:
Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4,
và 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt
lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung đoàn đặc công.
Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420
pháo”.
Riêng lực lượng BV bao vây Sài Ṣn đă lên
tới 20 sư đoàn và như đă nói ở trên vũ khí đạn dược của Cộng
quân trong trận 1975 gấp bội lần năm 1972, ngoài ra họ cũng
lấy được nhiều chiến lợi phẩm, các kho đạn của VNCH tại các
quân khu 1 và 2 do sự sai lầm trong kế hoạch tái phối trí
lực lượng của TT Thiệu, tuy không có con số thống kê nhưng
ít nhất cũng có 50% đạn dược, quân dụng bị bỏ lại lọt vào
tay Cộng quân, hồi kư Văn Tiến Dũng cho biết BV lấy được
nhiều xe tăng, đại bác, máy bay của VNCH tại miền trung.
Ngay như trong trận mùa hè đỏ lửa 1972, khi ấy lực lực lượng
BV chỉ có tới 10 Sư đoàn, bằng một nửa lực lượng của họ năm
1975, vũ khí đạn dược cũng chỉ bằng một nửa hoặc một phần ba
năm 1975. VNCH hồi ấy mặc dù được viện trợ đầy đủ hơn năm
1975 nhưng vẫn phải nhờ vào sự yểm trợ của các oanh tạc cơ
B-52 , chính ông Cao Văn Viên đă nói nếu không có sự yểm trợ
này miền Nam sẽ mất một số tỉnh như Quảng Trị, Kontum, B́nh
Long… v́ hoả lực của Cộng quân mạnh hơn của VNCH.
Vào cuối tháng 3-1975, Đà nẵng mất, quân khu 1 hoàn toàn
thất thủ, quân khu 2 mất 10 tỉnh chỉ c̣n Phan Rang, Phan
Thiết, các lực lượng chính qui, những Sư đoàn tinh nhuệ
thiện chiến nhất của cả hai vùng mất gần hết quân số. Tại
Vùng 2 Sư đoàn 23 bị thiệt hại và ră ngũ gần hết, Sư đoàn 22
chỉ c̣n khoảng 2,000 tại Qui Nhơn được tầu hải quân chở vào
Nam, 7 liên đoàn Biệt động quân bị thiệt hại và ră ngũ. Tại
vùng 1, bốn sư đoàn chính qui 1, 2, 3, và Sư đoàn TQLC, 4
Liên đoàn BĐQ nhưng chỉ có khoảng 15% được di tản vào miền
Nam. Theo Nguyễn Đức Phương năm 1976 Tướng Ngô Quang Trưởng
trả lời một cuộc phỏng vấn cho biết khoảng 6,000 TQLC, non
nửa lực lượng của Sư đoàn và 4,000 quân thuộc các binh chủng
khác đă được tầu bè cứu thoát, tổng cộng 10,000 người.
Cuối tháng tư năm 1975, quân khu 3 VNCH có 3 Sư đoàn cơ hữu
và 4 liên đoàn BĐQ trong đó chỉ có SĐ 25 tại Củ Chi và SĐ 5
tại Lai Khê là c̣n nguyên vẹn, SĐ18 đă bị thiệt hại 30% quân
số sau trận Xuân Lộc, toàn bộ lực lượng pḥng thủ Sài G̣n và
vùng phụ cận chỉ vào khoảng trên dưới 5 Sư đoàn chủ lực
trong đó kể cả các đơn vị di tản từ miền Trung với quân số
thiếu hụt. Cho dù Quốc Hội Mỹ chấp thuận ngân khoản viện trợ
khẩn cấp 722 triệu sau ngày 10-4 quân ta cũng không thể cứu
văn t́nh thế v́ sự chênh lệch về lực lượng và hoả lực như đă
nói ở trên.
Ngân khoản này nếu được chấp thuận có thể giúp cho miền Nam
đủ đạn dược chiến đấu thêm một vài tháng nhưng cuối cùng
cũng vẫn thua, cũng chỉ kéo dài sự hấp hối như Nam Vang.
Cuộc chiến sẽ tàn khốc hơn, các thành phố Sài G̣n, Biên Hoà,
B́nh Dương, Hậu Nghĩa… sẽ bị CS pháo kích tan nát, cả hai
bên sẽ tử thương tổn thất nặng, dân chúng Sài G̣n và các
thành phố sẽ bị bom đạn giết hại rất nhiều. Sau khi chiến
trận kết thúc Thủ đô Sài G̣n sẽ bị địch trả thù, bắn giết
tập thể hoặc tắm máu như tại Nam Vang, đó là điều khó tránh.
Sự thực cho dù Quốc hội Mỹ có viện trợ cho Miền Nam ngân
khoản 722 triệu hoặc một tỷ trước khi mất Ban Mê Thuột ta
cũng không đủ hoả lực v́ như trong thời gian Mỹ chưa rút về
quân phí thường là từ 10 cho tới 20 tỉ một năm, số tiền viện
trợ 1 tỷ hoặc 700 triệu không đủ giúp cho miền Nam tự vệ
trong khi hơn 500,000 quân đồng minh đă rút về nước. Nếu
Quốc Hội My chấp thuận ngân khoản viện trợ khẩn cấp 722
triệu kể trên cho miền Nam vào giữa tháng 4-1975 họ sẽ không
bị mang tiếng là bỏ rơi đồng minh nhưng miền Nam chúng ta sẽ
bị lănh đủ như đă nói ở trên. Trận chiến sẽ kéo dài, chết
dân, chết lính…chỉ có một thiểu số người giầu có thế lực,
các viên chức cao cấp, Tướng lănh… là có nhiều cơ hội chạy
thoát.
Khoảng 10 ngày trước khi miền Nam sụp đổ, báo chí Sài G̣n
cho biết các nhà chính khách Tây Phương đă vận động thương
thuyết để tránh cho Sài G̣n khỏi trở thành băi chiến trường.
Cho tới nay dần dần những bí mật được tiết lộ cho thấy dù
sao người Mỹ vẫn c̣n chút lương tâm, họ vận động mọi cách để
tránh cho Sài G̣n thoát khỏi cảnh núi xương sông máu. Sau
ngày 30-4-1975, ông Nguyễn Văn Thành đốc sự hành chánh, cựu
Tổng thư kư phủ Phó Tổng thống tiết lộ: Khoảng giữa tháng
4-1975, Ông Trần Văn Hương gặp ông Thiệu ở dinh Độc Lập về
nói cho ông Thành biết là ông Đại sứ Mỹ nhờ Đại Sứ Anh nói
với ông Thiệu hăy bàn giao chức Tổng thống cho ông Hương để
ông Hương bàn giao cho ông Dương Văn Minh. Ông Hương rất bực
tức nhưng không từ chối được. Sở dĩ phải bàn giao cho Dương
Văn Minh v́ họ hy vọng ở sự thương thuyết với BV để tránh đổ
máu.
Ông Trần B́nh Nam có tóm tắt một tài liệu của CIA giải mật
ngày 19-2-2009, dài 243 trang (CIA and the generals: Covert
Support to the military government in South Vietnam) đăng
trên báo điện tử Danchimviet.com. Đoạn dưới đây cho
thấy Mỹ sắp xếp để Sài G̣n đầu hàng, tránh đổ máu.
“ Ngày
18-4 Hanos G Toth, một đại tá người Hungary trong phái đoàn
quốc tế kiểm soát đ́nh chiến gặp Polgar (CIA) và cho biết
qua các cuộc nói chuyện với phái đoàn Hà Nội ông ghi nhận
rằng Hà Nội chỉ muốn tăng sức ép để Sài G̣n sụp dần chứ
không muốn có một cuộc tấn công quân sự để kềt thúc chế độ.
. . . Toth nói Hungary từng nếm mùi thất trận và tàn phá nên
không muốn thấy Sài G̣n bị tàn phá như Berlin năm 1945.
Polgar hiểu đây là lời nhắn của Hà Nội nên bên cạnh việc di
tản, Polgar và đại sứ Martin lo t́m cách thuyết phục Thiệu
từ chức và thành lập một chính phủ liên hiệp gồm các thành
phần thiên Cộng để đầu hàng “
Như thế trùm CIA Polgar và Đại Sứ Martin
đă dàn xếp cho TT Thiệu từ chức đưa Đại Tướng Dương Văn Minh
lên để tránh cho Sài G̣n khỏi bị tàn phá như Bá Linh 1945
Kết luận
Tướng Cao Văn Viên có nói ở phần kết luận cuốn Những Ngày
Cuối Của VNCH.
“Cấp lănh đạo VNCH không thấy
rơ sự thay đổi về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ, khi Hoa
Kỳ chuyển sang thái độ hoà hoăn, thoả hiệp với Cộng sản quốc
tế – dù phải thất hứa với đồng minh. V́ không nhận rơ sự
thay đổi ngoại giao của Hoa Kỳ, cấp lănh đạo VNCH đă không
uyển chuyển thay đổi kế hoạch quốc gia cho phù hợp với thực
trạng và t́nh thế. Sau hiệp định Paris 1973, VNCH vẫn trông
đợi vào những hứa hẹn xa vời và bất thể hiện”
(Trang 236)
Ta thấy TT Thiệu đă không uyển chuyển
thay đổi đường lối chính sách cho phù hợp với thực trạng và
t́nh thế khi Mỹ đă bắt tay với CS quốc tế từ 1972 để giải
quyết tận gốc rễ thuyết Domino mà vẫn ôm khư khư chính sách
cứng rắn lỗi thời.
Ngoài ra Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt đă nhận xét về khuyết
điểm của TT Thiệu là không nắm vững t́nh h́nh quốc ngoại như
sau.
“Việc ông sửa đổi Hiến Pháp để làm Tổng
Thống thêm một nhiệm kỳ năm năm nữa chứng tỏ ông đă không
nh́n thấy việc Hoa Kỳ sắp bỏ rơi Việt Nam và đă làm xáo trộn
thêm t́nh h́nh chính trị trong nước”
(Cuộc Chiến Dang Dở trang 273.)
Đối với t́nh h́nh quốc nội TT Thiệu lạc
quan tin tưởng vào lời hứa của Hoa Kỳ và có cái nh́n khinh
địch, trong phiên họp quân sự cao cấp ngày 9 và 10-12-1974
tại dinh Độc Lập ông cho biết CSBV chưa phục hồi sau trận
mùa hè đỏ lửa, họ không đủ khả năng đánh vào các thành phố
lớn, về điểm này FrankSnepp (trong Decent interval), hồi kư
Văn Tiến Dũng, Tướng Cao Văn Viên cũng đă ghi nhận như thế .
TT Thiệu đă sai lầm về chính trị như trên ông cũng sai lầm
cả về quân sự như mọi người đều thấy kế hoạch tái phối trí
lực lượng của ông đă làm tiêu tan cả hai quân khu trong
khoảng 13 ngày từ 16-3-1975 cho tới 29-3-1975. Vào thời điểm
này nhất là từ sau ngày kư Hiệp định Paris, TT Thiệu cần
phải nh́n thấy Hoa Kỳ đă đổi chính sách, cả hành pháp vẫn
lập pháp, họ đă thoả hiệp với CS quốc tế.
Trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc
70,295 tấn hàng quân sự, mười năm sau giai đoạn 1973-1975
viện trợ ấy đă tăng lên 724,512 tấn, gấp hơn 10 lần.
Trong khi ấy tiền quân viện của Mỹ cho miền Nam như đă nói ở
trên giảm dần cho tới tài khóa 1975 chỉ c̣n bẩy trăm triệu
(0,7 tỷ).
Theo GS Nguyễn Tiến Hưng với ngân khoản 700 triệu viện trợ,
trong khi đó th́ cuộc khủng hoảng dầu lửa đă làm giá săng
nhớt tăng gấp bốn. Bởi vậy măi lực thật của ngân khoản ấy
chỉ là trên dưới 350 triệu.
Khoản quân viện 350 triệu hồi 1975 c̣n thua kém quân viện
1963 (384 triệu) chút đỉnh; 10 năm đă trôi qua từ 1964,
trong khi CS quốc tế viện trợ cho BV gấp 10 lần, Hoa kỳ đă
viện trợ nhỏ giọt cho miền Nam VN chưa bằng 1963, 1964. So
sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể
đoán đă có sự xếp đặt của các siêu cường.
Nếu TT Thiệu từ chức vào đầu 1973 sau khi Mỹ kư hiệp định
Paris th́ miền Nam có cơ hội hơn, TT Thiệu không nh́n thấy
vai tṛ đường lối của ông nay đă lỗi thời, gió đă đổi chiều,
người ta đă hoà hoăn với CS quốc tế, ông không thể duy tŕ
đường lối cứng rắn mà phải chuyển sang chính sách ngoại giao
cho phù hợp với t́nh thế như Tướng Viên đă nói ở trên. TT
Thiệu vẫn chủ quan chủ quan cho rằng ngoài ông ra không ai
có thể bảo vệ non sông gấm vóc để giữ độc quyền yêu nước và
cứu nước, “Après moi le deluge” sau ta là nạn Hồng thủy.
TT Thiệu tin tưởng vào lời hứa của cựu TT Nixon qua mấy bức
thư là một sự sai lầm trầm trọng, khi TT Nixon hứa với ông
Thiệu trước ngày kư Hiệp định là sẽ thẳng tay trả đũa BV nếu
họ vi phạm Hiệp định, ông chỉ hứa miệng qua một số bức thư
riêng mà không dám hứa công khai v́ sợ Quốc Hội chống đối,
họ sẽ không cho ông hứa như vậy, người ta đă quá chán cuộc
chiến tranh Đông Dương chỉ muốn rút bỏ càng sớm càng tốt.
Một lời “hứa chui”, “hứa lén” th́ làm sao tin cho được nhưng
TT Thiệu khi ra hải ngoại vẫn oán trách họ thất hứa với đồng
minh th́ đủ thấy ông vẫn c̣n chưa tỉnh cơn mơ.
Một điều không thể phủ nhận được, t́nh h́nh giữa tháng
4-1975 là di sản do TT Thiệu để lại.
Nay nhiều người oán trách Tiến sĩ Kissinger cho rằng ông đă
vận động đi đêm với Bắc Kinh để bỏ rơi VNCH, nhận định này
vô t́nh đă đề cao vai tṛ của họ “Kít” một cách quá đáng.
Cương vị phụ tá, thầy dùi cho Tổng thống, ông ta được Nixon
giao cho nhiệm vụ móc nối với Trung Cộng và ông đă hoàn
thành nhiệm vụ tốt đẹp. Sự thực việc móc nối này cũng chẳng
đáng coi là một kỳ công v́ nó đă chín mùi, con sư tử Bắc
Kinh cũng đă quá mệt mỏi v́ cuộc chiến VN sau hàng mấy chục
năm viện trợ quân sự cho Hà Nội từ 1950-1975, vả lại họ cũng
đang cần canh tân đất nước đă quá nghèo nàn đói khổ, Bắc
Kinh đang mong mỏi được bắt tay đế quốc.
Ngay như TT Nixon trong những năm đầu thập niên 70 cũng c̣n
chẳng có thực quyền đối với vấn đề VN chứ đừng nói một tay
thầy dùi cố vấn như Kissinger. Như ta đă thấy mọi quyết dịnh
lớn nhỏ đều phải đưa Quốc hội biểu quyết, nhất là sau ngày
kư Hiệp định Paris hành pháp đă bị quốc hội trói tay, ai
cũng đều biết cả. Việc bỏ Đông Dương hoặc giữ Đông Dương
trên thực tế không thuộc thẩm quyến hành pháp mà phải có sự
đồng ư của ngành lập pháp.
Năm 1972 Nixon hoà hoăn, thoả thuận vơi CS quốc tế, ông đă
không bị lập pháp và cử tri chống đối, có nghĩa là đă đi
đúng đường lối quốc gia trong giai đoạn này. Chính phủ, quốc
hội, nhân dân đă đồng ḷng nhất trí với nhau giải quyết tẫn
gốc rễ thuyết Domino, vấn đề nằm ở chỗ đó.
Giữa thập niên 60 người mỹ ủng hộ triệt để thuyết Domino để
cứu văn t́nh thế miền Nam với sự tốn kém nhân lực tài lực
“vừa phải” v́ VN có tầm quan trọng trung b́nh nhưng cho tới
1968 nó đă vượt lên số trên 500,000 quân xuất ngoại nên họ
thay đổi hoàn toàn nhận định, số người ủng hộ đă tụt thang
nhanh chóng.
(People endorsed the theory only if they were willing to
endorse the commitment of enough resources to save South
Vietnam, and as the definition of “enough” expanded to
500,000 men and beyond, the number of people willing to
endorse the commitment shrank dramatically – Answer.com,
Domino theory).
Năm 1975 Hoa Kỳ bỏ toàn bộ Đông Dương chứ không riêng ǵ VN,
Nam Vang thất thủ ngày 17-4-1975 trước VNCH gần hai tuần lễ,
họ cắt viện trợ chính phủ Non Lol đến mức kiệt quệ một cách
tàn nhẫn.
Năm 2006, qua một bài phỏng vấn cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn
trên internet, một độc giả có góp ư hỏi như sau.
“Thưa ông chúng ta đă biết
trước là sẽ thua v́ bị cắt quân viện mà sao vẫn cứ đánh để
nhiều người chết thảm”
Quả là một câu hỏi rất khó trả lời.
Có một độc giả góp ư dưới một bài về trận chiến 1975 trên
internet nói ông Thiệu cho lệnh rút bỏ hai quân khu đă giúp
cho hai bên chết ít hơn. Cũng có nhiều người cho rằng nếu
1975 tiếp tục đánh th́ cả hai bên sẽ cùng chết nhiều như bên
Căm Bốt mà cuối cùng ta vẫn thua, chỉ đổ máu vô ích.
Thật cũng khó mà nói thế nào là sai là đúng
Chiến tranh đă chấm dứt từ 35 năm qua nhưng vẫn c̣n lưu lại
trong tâm khảm người Việt tỵ nạn lưu vong nhiều cay đắng,
uất hận về thực trạng tàn nhẫn phũ phàng của biến cố, người
ta tưởng như nó mới diễn ra ngày hôm qua.
Đối với người tỵ nạn lưu vong, quá khứ đau ḷng ấy vẫn c̣n
sống măi trong kư ức họ cho tới khi nhắm mắt ĺa đời.
.
Viết
cho tháng tư đen lần thứ 35,
Mùa Quốc hận 2010
Trọng Đạt
www.answer.com/topic/domino-theory: Domino theory.
www.spartacus.schoolnet.co.uk/cold.domino.htm:
Domino theory.
BBCVIETNAMESE.Com: Viện Trợ Quốc Tế Cho Miền Bắc Trong
Chiến Tranh , 10-5-2006
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam
war.
English.illinois.edu/maps/vietnam/antiwar.html:
Mark Barringer: The Anti-war Movement in the United States.
Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh
2005
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà,
Vietnambibliography, 2003.
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975,
Làng Văn 2001.
Đặng Phong: 5 Đường Ṃn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí Thức
Hà Nội, 2008
Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.
Danchimviet.com: Trần B́nh Nam, CIA Và Các Ông Tướng,
Phần 6, Chương 9: T́m Lối Đầu Hàng Và Di Tản.
Trần Văn Nhật: Cuộc Chiến Dang Dở, nhà xuất bản An Lộc 2003.
Ngô Quang Trưởng: Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972,
Trung Tâm Quân Sử Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, bản dịch của Kiều
Công Cự, xuất bản 2007
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975,
Cali 1988.
Nguyễn Văn Toàn, Lê Bá Khiếu, Nguyễn Văn: Những Sự Thật
Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975, in 2002.
Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng, Nam
Việt 2006.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật
Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.
Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986,
Sphinx Publishing.
The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman –
General Editor, A Bison-book 1985.
James H.Willbanks: Vietnam war Almanac, Facts on file – 2009
Stanley Karnow: Viet Nam, A History, A Penguin Books 1991.
Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The
Viet Nam War, A history in documents, Oxford University
Press 2002.
Nguyễn Kỳ Phong: Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người
Việt Dallas 21-6-2006 .
Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ
Cung dịch, Người Việt Dallas số 26-4-2006.
Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nh́n Lại Từ Đầu,
Sài G̣n nhỏ Dallas 28-4-2006.
|