|
Việt-Kiều
Tống-Phước-Hiến
Cuộc chiến-tranh vừa qua, nhiều
người lầm tưởng đă kết thúc vào ngày
30.4.1975 và bị đánh giá là cuộc
nội-chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền-Lương
vắt qua gịng sông Bến-Hải, trên
Vĩ-tuyến 17 là biểu-tượng cho một
giai-đoạn xót-xa của lịch-sử. Thật
ra, cuộc chiến-tranh đó vẫn được
tiếp-diễn, nhưng theo thế-trận khác
và ư-nghĩa cũng được nhận-định lại
đúng đắn hơn !
Sau
30.4.1975
Cộng-sản phơi bày chân-tướng là một
lũ phỉ quyền tham ác lưu-manh;
nên Người Quốc-Gia giành đoạt được
chính-nghĩa và tiến-hành cuộc
chiến-tranh giải-phóng Dân-tộc hầu
có điều-kiện đưa đất-nước đến phồn
thịnh, nhân-dân được tự do. Trận
quyết đấu nầy, người Quốc-Gia đang
thắng-thế, từng bước chứng-minh
Cộng-sản Việt Nam là tội-phạm
nhân-loại, là tội-đồ Dân-tộc. Nhưng
bỗng nhiên hàng-ngũ chúng ta có
hiện-tượng giao-động, địch biết
tránh né, thoát hiểm. Th́ ra, chúng
ta đang bị một loại “nội thù” rất
nguy-hiểm mà mọi người thường gọi
bằng tên nghe khá hiền lành
“Việt-kiều” !.
Tất-cả những người Việt Nam, nếu
không là bọn có quyền thế sống
hoan-lạc trên nỗi thống-hận Dân-tộc,
và nếu có điều-kiện đều phải đành
ḷng chấp-nhận gian-nan, nghiệt-ngă,
nguy-hiểm, đau nhục để đào thoát ra
đi. Sóng nước đại-dương, rừng sâu,
hải tặc, thổ-phỉ…... không cản ngăn
được ư chí. Họ đào thoát khỏi
Cộng-sản dưới nhiều h́nh-thức như
vượt biên, vượt biển, con lai,
bảo-lănh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O),
Cựu nhân-viên Chính-phủ Hoa-Kỳ
(U.11), thuyền-nhân hồi hương (ROVR);
đào tỵ khi xuất ngoại như công-tác,
biểu-diễn nghệ-thuật, thi đấu,
công-nhân trong
chương-tŕnh"xuất-khẩu lao-động";
ngay cả những du-học-sinh hay du-lịch…
v.v...phần đông trong thâm tâm họ
cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam
thoát khỏi ách nạn Cộng-sản.
Đối với Việt-cộng, những người hội
đủ điều-kiện được tái định-cư ở nước
ngoài khi trở về Việt Nam đều bị xếp
vào loại người có danh xưng là “Việt-Kiều”.
Nếu lấy 30.4.1975 làm thời-điểm, th́
trước đó đă có nhiều đợt người Việt
Nam đến sinh sống tại nhiều nước
khác với nhiều lư-do:
A.- Tỵ-nạn do bị bức hại:
I/ Thời nhà Lư có hai đợt ra đi của
hai Thân Vương nhà Lư và cùng trôi
giạt vào nước Cao-Ly (hay c̣n gọi là
Triều-Tiên hoặc Đại-Hàn):
1/ - Đại-Đô-Đốc Kiến-Hải-Vương Lư
Dương-Côn cùng chiến thuyền binh-sĩ
thuộc quyền, gia-nhân và gia-thuộc
ra đi v́ sợ bị phía bà Chiêu-Hiếu
Thái-Hậu và Cảm-Thánh Hoàng-Hậu giết
chết trong âm mưu tranh đoạt ngai
vàng cho Hoàng-tử Thiên-Tộ (Tức vua
Lư-Thần-Tôn).
2/- Các Đô-Đốc Kiến-B́nh-Vương
Lư-Long-Tường, B́nh-Hải-Công
Lư-Quang-Bật cùng hạm đội dưới quyền
và khoảng 6.000 người v́ tránh họa
diệt tộc của Thái-Sư Trần-Thủ-Độ
trong mưu-đồ tiếm-đoạt Vương quyền
nhà Lư cho nhà Trần.
II/ Thời nhà Nguyễn cũng có nhiều
đợt với nhiều lư-do, đa số cư ngụ
tại Bangkok Thái-Lan:
1/ - Nhóm cùng bôn tẩu theo
Nguyễn-Ánh (tức vua Gia-Long), vào
cuối Thế-kỷ thứ 18.
2/ - Nhóm theo Thiên-chúa-giáo
lánh-nạn sát đạo dưới thời Minh-Mạng,
Thiệu-Trị (1820 –1847).
3/ -Nhóm thuộc hạ của Cụ
Phan-Đ́nh-Phùng trốn giặc Pháp vào
khoảng 1895.
4/ -Nhóm theo Cụ Phan-Bội-Châu (1908
– 1909).
B.-V́ những lư-do khác:
Bị Thực-dân Pháp lưu-đày, ép buộc
trong chương-tŕnh mộ dân, gia-nhập
Quân-đội Liên-hiệp Pháp, du-học và
không trở về hoặc xuất bôn chiến-đấu
giành chủ-quyền cho Tổ-Quốc. Phần
đông lưu-trú tại Pháp hay các Quốc
gia thuộc Pháp, hoặc Trung-Hoa, Cao-Mên.
Ai-Lao. Ngoài ra c̣n có một số ít
định-cư tại những Quốc-Gia khác v́
nhiều lư-do.
Trước khi đất nước rơi vào tay
Cộng-sản, những người có nguồn-gốc
Việt Nam, đang sinh-sống ở nước
ngoài được gọi là Kiều bào để
phân-biệt những sắc dân khác trú ngụ
trên lănh-thổ Việt Nam như Ấn-kiều,
Hoa-kiều, Pháp-kiều. Nên khi
Cộng-sản gọi những người Việt Nam
đang định-cư ở nước ngoài là Việt
Kiều đă hàm chứa ư-nghĩa những người
nầy không c̣n là người Việt Nam. Số
phận Việt Kiều chơi-vơi giữa người
Ngoại Quốc và người Việt Nam tùy
theo từng trường-hợp, nhưng bao-giờ
Việt Kiều cũng bất-lợi kể cả
trường-hợp so-sánh giữa Việt Kiều và
những người thuộc các sắc dân khác
cùng vào lănh-thổ Việt Nam trong
cùng thời-gian và cùng có lư-do phạm
pháp giống nhau.
C.- So-sánh giữa Việt-kiều và
ngoại-kiều:
1/-Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc
về pháp-lư, hành-chánh, thuế khóa,
kiểm-soát; những quy định gắt gao về
giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại
không có sự khác biệt về phương-diện
kiểm-soát quản lư và những ǵ thuộc
về kinh-tế, tài chánh.
2/-Khác nhau: Nếu v́ bất cứ lư do ǵ
có liên-quan đến pháp-lư th́ ngoại
kiều được chi-phối bởi luật-pháp và
thói quen mà quốc-tế đă chuẩn-nhận.
Nhưng trong trường-hợp nầy th́ Việt
Kiều bị xem là " Công-dân Việt
Nam”. Nghĩa là chúng thông-báo,
hoặc xử phạt tùy theo ư chúng.
Chưa Quốc-gia nào có chính-sách
kỳ-thị và ty-tiện với Kiều bào của
ḿnh như ngụy-quyền Cộng-sản Việt
Nam. Dưới mắt chúng, Việt Kiều là
thành-phần nguy-hại cho sự tồn tại
chế-độ chúng, mặc dầu Việt Kiều cũng
là con ḅ sữa giúp chúng hồi sức,
đồng thời Việt Kiều cũng là những kẻ
vong thân, nên Việt Kiều bị Việt
Cộng xem như là những kẻ nô-lệ dùng
để kháng-cự và tấn-công các tổ-chức
yêu nước chân chính. Tóm lại,
Cộng-sản Việt Nam xem khinh, xử -dụng
sai khiến Việt Kiều nhưng lúc nào
cũng rắp tâm hăm hại Việt Kiều .
Khi nền kinh-tế kiệt quệ, Cộng-sản
thử nghiệm chính-sách chiêu-dụ Việt
Kiều bằng nhiều h́nh-thức như: Gởi
tiền, gởi quà, trở về thăm thân-nhân,
du-lịch, hợp-tác, đầu tư làm ăn tại
Việt Nam.
Có khá nhiều trường-hợp những Người
Quốc-Gia chân-chính rất khổ tâm khi
phải gởi tiền hay phải về Việt Nam
v́ t́nh-cảm, v́ trách-nhiệm đối với
thân-nhân, đồng-bào, đang lâm cảnh
thiên-tai, lao đao cơ cực, hay đồng
đội bị lăng nhục: xin được chia xẻ
những hoàn cảnh cần có sự cảm-thông
ấy. Đồng thời cũng xin chân-thành
nghiêng ḿnh cảm tạ, ngưỡng-mộ những
anh-hùng trở lại quê hương đối diện
trực chiến với quân thù với quyết
tâm lật đổ bạo-quyền Cộng-sản Việt
Nam.
Đối-tượng câu chuyện hôm nay là
những Việt Kiều trở về trên tư-thế
của kẻ “hănh-tiến”, loại "áo gấm về
làng", những kẻ đi t́m hoan-lạc trên
nỗi đau thương bất hạnh của đồng-bào,
đồng đội, những kẻ ích-kỷ manh tâm
đồng-lơa với Cộng-sản bất chấp
lương-tâm, làm chậm hoăn ngày bạo
quyền sập đổ. Hăy nh́n lại Việt
Kiều đă lưu lại dấu vết ǵ với
đồng-bào, đồng đội trong nước:
D.-Việt-kiều đă làm đồng-bào, đồng
đội trong nước thêm tủi nhục, cơ cầu:
Một Mỹ-kim có giá-trị tương-đương
khoảng trên 20.000 đồng Việt Cộng
nên Việt Kiều tiêu xài hoang-phí làm
ảnh-hưởng vật giá gia tăng trong khi
tiền lương không gia tăng. Tầm cách
biệt giữa người có hay không có thân
nhân hoặc thành-phần sống bám theo
ảnh-hưởng Việt Kiều dài ra và cao
thêm. Đồng tiền ấy cũng xô đẩy
những hạng người nầy với Việt Cộng
gần nhau hơn và từ dó, h́nh thành ra
giai-cấp mới gọi là liên-minh
thống-trị. Đồng tiền Việt Kiều cũng
là nguyên-nhân chủ-yếu của các
tệ-nạn hối-lộ tham nhũng, măi-dâm,
trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công
áp bức, và dĩ-nhiên nạn-nhân vẫn là
lương dân nghèo khó.
E.-Việt-kiều giúp cho Việt Cộng chạy
tội vi-phạm nhân-quyền:
Dù vô t́nh, thiển cận hay có toan
tính, Việt Kiều tung những thông-tin,
những h́nh ảnh phiến diện, biện hộ
cho Cộng-sản; làm lu mờ chính-nghĩa,
làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận,
bị trở ngại. Dưới nhiều h́nh-thức
như hợp-tác, đầu tư, cố-vấn,
giao-lưu “văn-hóa, nghệ-thuật”, và
dù khoác chiếc áo “t́nh thương,
cứu-trợ”. Việt Kiều vẫn là
lực-lượng tiếp-sức hữu-hiệu cho bọn
Việt Cộng. Bởi v́ chính bọn Việt
Cộng mới là kẻ được thụ-hưởng c̣n
những người cùng khổ là đại đa-số
người dân Việt Nam nghèo đói, khốn
cùng chỉ được làm “vật nhân-danh”,
thậm chí c̣n tủi nghèo cơ cực hơn,
và bọn Việt Cộng càng phè phỡn tàn
ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ Việt
Kiều dám nh́n nhận sự ấu-trĩ, hèn
nhát, phản-bội, và bất nhân của họ.
Tùy thuộc vào những ǵ Việt Kiều có
và những ǵ Việt Cộng cần mà bọn
chúng đổi thay sách lược. Sách lược
hay chính sách là chiến-thuật.
Chiến-lược là: trấn-lột là trả thù
không bao giờ thay đổi ! Hăy đi
ngược thời-gian để thêm lần nữa
nhận-diện Việt Cộng đổi thay về cái
gọi là chính-sách đối với Việt Kiều.
F.-Việt-Kiều là Phản-Quốc:
Cộng-sản xem những người vượt biên,
vượt-biển trốn chạy chúng là phản
quốc, phản-động, phản bội, là cặn bă,
là bọn quen ăn bám, là vong bản, dĩ
điếm, lười biếng v.v. không một
h́nh-dung-từ xấu xa nhơ bẩn nào mà
VC không dùng để ám chỉ, mô tả những
người nầy, và dĩ-nhiên Việt Cộng
cũng có chính-sách trả thù. Nếu
không thoát được th́ họ có thể bị
bắn chết, bị hăm hiếp (nếu là nữ
giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị
tịch-thu. Bị gây muôn trùng khó
khăn trong đời sống như thân-nhân bị
giam giữ, bị điều-tra, vợ con, cha
mẹ, anh chị em bị kềm chế quản-lư,
bị kỳ thị. Và cuối cùng chỉ có tiền
và vàng mới may ra những áp-lực
những khe khắc được nới lỏng, nhưng
cái tội Phản-Quốc vẫn c̣n đó, chờ
cơ-hội lên án và trừng phạt.
G.- Việt-Kiều là khúc ruột nối dài:
Khi nền kinh-tế tŕ-trệ, tài sản
Quốc gia bị Việt Cộng đục khoét tham
nhũng; lầm than, thống-hận vượt tràn
qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ
những điều-kiện làm cuộc bạo loạn.
Việt Cộng liền nhớ ra và cải danh
bọn “Phản-Quốc” kia thành Việt Kiều;
rồi hóa thân cho Việt Kiều thành
“Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian
dè dặt thử-nghiệm, Việt Cộng thấy
rằng c̣n có thể khai-thác tận-dụng
phần bên trong của cái khúc ruột nối
dài nầy. Và từ đó, thượng tầng đảng
Mafia đỏ h́nh thành bộ phận Kiều-Vụ
Nhiệm-vụ chủ-yếu của Kiều Vụ là
nghiên cứu t́m ra phương cách gom
góp ngoại tệ, khả-năng, trí-tuệ của
Việt Kiều hầu giữ vững chiếc ghế
quyền-lực, để túi tham được phồng
thêm. Bộ-phận Kiều Vụ không những
chiêu dụ Việt Kiều về thăm, làm cái
gọi là từ thiện mà c̣n về mua bán
đầu tư, thực hiện chương-tŕnh giao
lưu làm nền tảng cho bọn tư-bản đỏ
đi ra, bọn phản-bội đi vào. Chúng
kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương
rồi tổ-chức những bọn nầy thành
lực-lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm
mờ đi chính-nghĩa, làm nản ḷng
Người tâm huyết.
Nhưng hạnh-phúc không bao giờ đến
với kẻ phản-bội! Không phải đó là
lời răn đe mà c̣n là kinh-nghiệm,
không những ở t́nh trường mà c̣n ở
nhân-cách. Thật vậy, người Việt Nam
định-cư nước ngoài tuy v́ nhiều lư-do
nhưng lại cùng một nguyên-nhân là
kinh-tỡm Cộng-sản, họ cũng là
chứng-nhân xác nhận bọn ngụy-quyền
Cộng-sản Việt Nam là quân vô lại,
bất-nhân, bạc-ác không đáng để được
gọi là NGƯỜI nữa. Hầu hết, trước
khi ra đi Việt Kiều đều ít nhiều ấp
ủ:
Một ước mơ: Cộng-sản phải đổ
Một hoài băo: Nhân-dân Việt Nam được
sống đúng với giá-trị con NGƯỜI.
Thoát được xiềng ách Cộng-sản, họ sẽ
thay mặt đồng bào, đồng đội c̣n lầm
than cơ cực, c̣n bị kềm kẹp để tố
cáo tội ác Cộng-sản Việt Nam trước
lương-tâm nhân-loại. Ước-mơ và ư-chí
của họ thật đáng yêu và đáng kính.
Họ đă làm rúng động lương-tâm loài
người, và Nhân-loại cũng đă nghiêng
ḿnh cảm phục những Người Tỵ-Nạn
Cộng-Sản Việt Nam họ đă từng
được:”thế giới ngưỡng-mộ như những
anh-hùng”.
Nhưng rồi v́ một số trong những
người Tỵ-nạn Cộng-sản Việt Nam năm
xưa ấy đă nhẫn tâm trở giáo chém anh
em cùng chung chí-hướng, họ phản-bội
ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ.
Và chắc chắn rằng họ sẽ nhận lại hậu
quả từ chính những người từng là
đồng cảnh, cũng từng là đồng-tâm,
đồng-bào, đồng đội và cũng chính
ngay từ kẻ họ đang qùy gối cúi đấu.
Sự phản-bội đă có hậu-quả xảy ra.
Tương-quan giữa hậu-quả và
nguyên-nhân là tỷ-lệ thuận.
H.- Loại Việt Kiều áo gấm về làng:
Mang tâm địa của kẻ hănh-tiến nên
chúng lấy sự đau xót, thương hận số
phận bẽ bàng kém may mắn, hay sự mơ
ước của những người vất vả nghèo khổ
để tự măn, để huênh-hoang, kiêu căng
và thích thú. Chúng bất chấp đạo lư
tối thiểu để thỏa măn hoan-lạc dục
vọng, chúng thú tính ngay cả những
trẻ vị thành niên (lắm khi là con em
của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm
xưa). Thế nhưng chúng cũng rất hèn
hạ với bọn cán-bộ Cộng-sản để an
toàn. Chính bọn Việt Kiều nầy, phần
đông đă cung-cấp tin-tức, vu khống
người Việt hải-ngoại cho Việt Cộng,
biện-hộ và đồng-lơa sự tham bạo của
Việt Cộng với nhân-dân trong nước.
Khi trở lại nơi định-cư, chúng rỉ
tai tuyên-truyền, nghe ngóng để báo
cáo. Bọn Việt Kiều vô lại nầy
t́nh-nguyện làm nô bộc không công,
làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài
sản của người khác, có khi Việt Kiều
cống nạp hoặc hỏang sợ trước quyền
lực mà cúi đầu phủ phục trước mũi
giày Cộng-sản hoặc a ṭng với cộng
sản trong những mưu-đồ bất chính.
Thời gian qua, một số trong bọn nầy
đă bị Việt Cộng cướp đoạt tài sản
qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu
thông, du đảng xă hội đen; có tên bị
thanh-toán bởi ghen tương.
I.-Việt-Kiều nhân-danh t́nh thương:
`T́nh thương và ḷng nhân-ái,
Quê-hương và Tổ-quốc luôn trên đầu
môi chót lưỡi bọn Việt Cộng, Việt
Kiều. Kẻ lưu-manh tàn bạo thường
che giấu chân-tướng bằng mỹ ngữ.
Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo
khổ tật nguyền, những đồng đội ngày
xưa oanh liệt nay găy cánh bất hạnh
lại bị bọn Việt-cộng liên minh với
Việt Kiều bất lương kinh-doanh. Lấy
t́nh thương làm b́nh phong. Nếu bị
vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm
thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận t́nh
thương (nói theo ngôn ngữ của
Nhật-Tiến). Có người c̣n tính đến
cả chuyện xây nhà, xây trường học,
đào giếng, trả tiền lương cho cô
thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa
đói giảm nghèo v..v...(như của
Nguyễn xuân
Bảo hay của
Vũ thành An
- nghe đến đây Cộng-sản vừa
ngạc-nhiên vừa mừng!)
Đây là trách-nhiệm của ngụy-quyền
Cộng-sản, toàn dân Việt Nam trong và
ngoài nước có nghĩa-vụ bắt buộc
chúng phải trả lại quyền sống, quyền
làm Người cho Dân Việt. Tại sao
kinh-tế Quốc-doanh bao giờ cũng ghi
nhận thua và ngân-sách Quốc-gia phải
bù lỗ nhưng chúng không cho giải tư
? Bởi v́, toàn-bộ các công-ty
Quốc-doanh phải đài thọ cho cá-nhân
và toàn gia-đ́nh của non 500 ủy-viên
trung-ương đảng vừa hưởng bổng lộc
suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại
quốc để thủ thân khi có biến động,
vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du
học sinh là con cháu bọn cán-bộ.
Theo sự tiết-lộ của "Tổng công-ty
Xuất khẩu hải sản Miền Nam Seaprodex"
(đơn-vị trực tiếp chi trả mọi chi-phí
cho Mai-chí-Thọ, và tên Đại-tá
quản-gia của y, cho Vũ-đ́nh-Liệu và
một số quan chức đỏ khác) th́ cứ 4
tháng 1 du học sinh (loại được du
học do lư lịch) phải đóng cho trường
học (College hay University) khoảng
1.500 USD học phí, tiền chi tiêu (ăn
ở, xe cộ, bảo-hiểm...) 1.500 USD nữa.
Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng
cho con cháu bọn cán-bộ đang du học
th́ toàn dân Việt Nam phải móc ra
khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi
niềm nầy không hỡi phường bất lương
J.-Việt-Kiều văn hóa, văn-nghệ:
Loại Việt Kiều nầy trở về khúm núm
bợ đỡ xin áo cơm (như
Hương Lan,
Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế
Linh, Phượng Mai, Ư Lan…).Nhưng
áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu
cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa,
chưa về th́ háo-hức, lúc về bị khó
khăn và trở ra bị chê bai là hương
sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản
giáo dục, là phi nghệ thuật (xem
Thời-luận số ra ngày 12 và
19/8/2000) và đương-nhiên loại Việt
Kiều nầy không tránh khỏi bị Người
Việt Tỵ-nạn vốn là những khách hàng
đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy
chay.
Chưa về,
cứ tưởng ḿnh ngon
Về rồi cúi mặt như con chó hèn
Hay
Ngậm đầy
một miệng bẩn nhơ
Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha
Việt kiều về nước hát ca,
Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn.
Ước mong các ca-sĩ,
các trung-tâm băng nhạc không dẫm
lên nỗi đau của đồng bào dù nh́n với
chiều hướng nào.
k.-Việt-Kiều về hơp tác kinh-doanh:
Bọn nầy là những tên thương lái vô
lương-tâm, chúng biết đồng-bào, đồng
đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn
nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc
với bọn cường quyền chèn ép bóc lột
hà hiếp đồng-bào. Những vụ làm sỉ
nhục công-nhân Việt Nam như bắt quỳ,
đánh giày lên đầu, phạt trừ
lương…...những chủ Việt Kiều nầy có
thái-độ ǵ không ? Thưa không, rất
rơ ràng là không !
Dưới mắt bọn Việt Cộng th́ Việt Kiều
phải là vật hy-sinh: Để bảo-vệ manh
mối làm ăn, để tỏ thái-độ quyết-liệt
với nhau khi nội-vụ bị phanh phui,
để giữ bí mật lưu manh thương
trường, lập tức Mafia Việt Cộng xử
tử Việt Kiều để bịt đầu mối như vụ
bà Việt-kiều
Nguyễn Thị
Hiệp ở Canada, hay vụ
tống vào tù để trấn lột như
Việt-kiều
Trịnh-vĩnh-B́nh ở
Ḥa-Lan với số vốn bị tước đoạt lên
tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ-kim; và Việt
Kiều
Lưu-hùng-Sơn tức
Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng
Little Sài-G̣n Nam California,
Hoa-kỳ đang bị “rắc rối” v́ mang số
tiền 25 triệu đô-la về làm ăn và
đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của
cứu lấy thân !
Thực tế người dân trong nước quá bi
thương khốn cùng. Đồng-bào căm hận
Việt-kiều đă đóng vai Việt-gian,
đồng lơa với Việt-cộng, gieo bao đau
thương tan tác thăm-nạn, nên trong
nước có câu ca-dao mới như sau:
Việt-Gian,
Việt Cộng, Việt-Kiều,
Ba thằng Việt ấy, tiêu-điều Việt
Nam.
Hay:
Việt-gian,
Việt-cộng, Việt-kiều,
Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào
?
Việt-kiều, Việt-cộng, Việt-gian
Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu
Để chấm dứt câu
chuyện trao đổi hôm nay, tôi xin
lược tŕnh bài phóng-sự của kư giả
Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris:
Ông
Nguyễn Minh
Tuyền, 59 tuổi,
định-cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn
có lời lẽ chân thành thống-thiết như
sau: "Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền
CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù
tôi không có ngày ra. V́ lư-do
nhân-đạo, tôi trân-trọng thỉnh-cầu
nước Pháp vui ḷng chấp-thuận cho
tôi được tỵ-nạn chính-trị, sống tạm
dung trên mảnh đất tự-do nầy, và tôi
chỉ trở về xứ cũ, khi nào Quê-hương
tôi không c̣n duy tŕ chế-độ
Cộng-sản”. Nhưng ông
Tuyền
đă phản-bội tư-cách tỵ-nạn của ông
liên-tục từ năm 1995 đến Tết
Canh-Th́n 2.000 tới 7 lần (Chôn bà
nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần
chôn mẹ mà không hề xin phép
OFPRA
(Office Francais de Protection des
Réfugiés et Aptrides – Cơ-quan
bảo-vệ những người tỵ-nạn và vô
Tổ-quốc tại Pháp) hoặc giấy
Sauf-Conduit (hộ-chiếu đặc-biệt) của
Cảnh-sát địa phương. Ngày 26.7.2000
ông
Tuyền
và
544 người
Việt khác được OFPRA gởi
thư thông-báo rút lại thẻ tỵ-nạn với
lư-do: "Ông tự-ư trở về xứ cũ, khi
chế-độ độc-tài Cộng-sản chưa chấm
dứt, nhưng không hỏi ư-kiến hoặc
thông-báo cho cơ-quan chúng tôi
biết, để bảo-vệ sinh mạng cho ông,
tức là ông đă từ bỏ quyền tỵ-nạn
chính-trị, không cần đến sự che chở
của chúng tôi nữa. Chiếu theo đ́ều
I khoản A-2 của Hiệp-định Genève
ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi
lại thẻ tỵ-nạn. Đồng thời cũng
tŕnh lên Cao-Ủy Tỵ-Nạn
Liên-Hiệp-Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA
không c̣n chịu trách-nhiệm với ông,
về t́nh-trạng cư-trú, xin việc làm,
hưởng trợ -cấp xă-hội, theo diện
tỵ-nạn chính-trị”. Được biết từ năm
1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số
người Việt lâm vào t́nh-trạng
tương-tự là
22.417
người. Theo lời ông
M.Motu th́ người tỵ-nạn có quyền trở
về xứ cũ trong trường-hợp đặc-biệt
như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột
bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết ;
trong các trường hợp đó người tỵ-nạn
có thể đến Préfecture sở tại xin cấp
Sauf-Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến
ṭa Đại-sứ Việt Cộng xin visa trước
khi có hộ-chiếu đặc-biệt. Tên
trưởng-pḥng cấp chiếu-khán Việt
Cộng rất đểu cán khi giải-thích
vấn-đề nầy: "nhà nước Việt Nam rất
có thiện-chí trong vấn đề hàng tháng
cung cấp danh-sách ghi nhận tất-cả
người Việt Nam mang Titre de Voyage
(thẻ thông-hành) lên sứ-quán xin
nhập cảnh cho Préfecture biết để
Préfecture thông báo lại cho OFPRA.
Chúng tôi hợp tác việc ấy với
chính-phủ Pháp là nhằm mục-đích
chứng-minh cho dư luận Quốc-tế thấy
rằng, bọn Việt-kiều nầy lếu láo,
chạy qua đây v́ lư-do kinh-tế, kiếm
việc làm, chớ không phải v́ nhà nước
chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn,
giam cầm, chà đạp nhân-quyền như bọn
họ đă từng vu-khống”. Và một giới
chức cao cấp trong bộ Ngoại-giao
Pháp mạnh-mẽ phản-đối:
- Chính-phủ Pháp không bao giờ hại
người vô tội như thế. Chính-phủ
Việt Cộng từ lâu, qua các trào
Vơ-văn-Sung, Mai-Văn-Bộ,
Trịnh-ngọc-Thái, Nguyễn-chiến-Thắng
và
Nguyễn-mạnh-Dũng đă
xem người Việt Nam là thành-phần
cực-kỳ phản-động, cần phải triệt-hạ,
khéo-léo áp-dụng chính-sách gậy ông
đập lưng ông” .
- Dễ dăi trong việc cấp chiếu khán
cho người Việt tỵ-nạn về thăm nhà,
dù thừa biết rằng, họ không có
quyền. Đây là cách thức giúp người
tỵ-nạn phạm pháp, để một ngày kia họ
sẽ bị OFPRA rút thẻ ty-nạn.
- Sau khi cấp chiếu khán bừa- băi,
ṭa đại-sứ lại ra thông-cáo cho Bộ
Nội-Vụ Pháp biết rơ tên tuổi từng
người xin cấp visa về Việt Nam .
- Một khi bị rút thẻ ty-nạn, họ bị
mất luôn thẻ thường-trú (Carte de
séjour). Muốn xin việc làm phải có
thẻ Lao-động (Carte de travail).
Nếu muốn cư-ngụ trên 3 năm phải
tŕnh Passport của CSVN. Như thế
người tỵ-nạn đang được sống Tự-do,
bỗng trở thành công-dân Việt Cộng,
đặt ḿnh dưới sự kiểm-soát của CSVN
cho đến măn kiếp.
- Chính-phủ CSVN cũng phải hiểu
rằng, tán trợ, hoặc giúp đỡ người
phạm pháp, cũng phạm tội đồng-lơa.
Cấp visa cho người tỵ-nạn tức là cố
ư phạm luật bang giao giữa hai
nước. Chúng tôi nghĩ, đă đến lúc
nên đặt lại vấn-đề nầy với chính-phủ
CSVN
Đồng-bào trong Nước đă đầy ắp thống
khổ và căm-hận. Chấm dứt ngay những
con người manh-tâm mang "ḷng Việt
gian" trong chiếc áo Việt Kiều.
Những h́nh ảnh nêu trên chắc cũng đủ
thức tỉnh lương tâm một số người,
nếu có và c̣n muốn trở thành VIỆT
KIỀU.
Tống-Phước Hiến
Ho Chi Minh licked
the heels of Marx, Lenin and Mao.
Ho Chi Minh was merely a dog loyal
to the Soviet and China.
Ho Chi Minh is a cursed
devil
Hồ Chí Minh liếm gót
giầy của
Marx, Lenin và Mao.
Hồ Chí Minh chỉ là con chó trung
thành với
Nga & Hoa.
Hồ Chí Minh là
con quỷ
bị nguyền rủa
All men are enemies. All animals
are Comrades
Loài người là thù nghịch. Tất cả
súc vật là đồng chí.
Hôm qua Đảng hứa
quyết ḷng:
Cái kim
sợi chỉ, Đảng không tơ hào.
Hôm nay ma quỉ ập vào
Cái kim để lại, bạc vàng cào đi.
Dân khờ trố mắt xầm x́:
Hôm tê giải phóng, bửa ni côn đồ
Đảng rằng:
"Đảng
có dối chi,
Vàng bạc qúi giá, báu ǵ kim may"
Luôn luôn hăy nhớ câu
nầy
Cướp đêm
là giặc, cướp ngày (là) cộng
nô
Ngày đi: Đảng gọi
Việt
gian
Ngày về: Đảng lại chuyển sang
Việt
kiều
Chưa đi:
phản
động trăm chiều
Đi rồi: thành khúc
ruột
yêu ngàn trùng
Trốn đi: Đảng bắt đến cùng
Trở về: mời gọi, săn lùng
Đô la
Việt Minh, Việt Cộng,
Việt kiều
Trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào
Việt Minh tuổi đă khá cao
Việt Cộng ốm yếu xanh xao gầy ṃn
Việt Kiều tuổi hăy c̣n non
Đảng yêu, Đảng quư như con đầu ḷng
Ngày xưa: chửi Mỹ hơn
người
Ngày nay: nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa: đánh Mỹ không chừa
Ngày nay: con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa: Mỹ xấu, Đảng hay
Ngày nay: Đảng ngửa hai tay xin tiền!
|