Ngày 17 tháng 2 năm 1979, mười lăm tuần
lễ sau khi Việt Nam và Liên bang Xô viết kư kết Hiệp ước
Ḥa b́nh và Hợp tác, và sáu tuần sau khi Việt Nam xâm
chiếm Campuchia, Trung Quốc đă tuyên bố một cuộc tấn
công chống lại Việt Nam dọc theo hầu hết khắp 480 dặm
biên giới chia cắt hai quốc gia.
Trong khi Tổng thống Carter và Tổng bí thư Liên Xô
Leonid Brezhnev lên án hành động của Trung Quốc, chính
là những nguyên nhân trực tiếp của sự bất ổn cho khu vực
Đông Nam Á.
Cuộc xâm lược đă giúp phương Tây khám phá ra một lịch sử
trên 20 thế kỷ của những biến cố như vậy, mà trong đó,
sự hiện diện của Việt Nam mang tính cách lịch sử, như là
một trở ngại đối với kẻ bành trướng Trung Quốc nhắm tới
Đông Nam Á. (Tương tự như vậy, cuộc xâm chiếm Campuchia
của Việt Nam nêu bật những thù hận lịch sử của những
người láng giềng này).
Tuy nhiên, Trung Quốc nhấn mạnh rằng cuộc xâm lược đă
không nhằm mục đích để chiếm đóng Việt Nam, mà chỉ đơn
giản là để dạy một bài học cho Việt Nam.
Bài học có vẻ như muốn nhắn gửi thông điệp chống lại
cuộc xâm lược của Việt Nam gần đây, đối với đồng minh
của Trung Quốc là Campuchia, kể cả hiệp ước của Việt Nam
với kẻ thù của Trung Quốc, là Liên Xô, cùng với cuộc đàn
áp trên 4.200.000 người Việt gốc Hoa ở miền Nam Việt Nam
khiến gây ra một cuộc di cư của cả 180.000 người, và sau
cùng phải kể đến cuộc tranh chấp (chủ quyền) trên (hai
quần đảo) Hoàng Sa và Trường Sa tại vùng biển Nam Trung
Hoa (biển Đông).
Trung Quốc đă xâm nhập chỉ có 25 dặm (khoảng 40 cây số)
vào trong lănh thổ Việt Nam bởi v́ chạm trán phải sức
kháng cự mănh liệt của Việt Nam.
Làng xă, trường học, nhà máy điện và đường giao thông
công cộng tất cả đă bị phá hủy trong chiến cuộc, như lời
Việt Nam tuyên bố th́ phía Trung Quốc chịu tổn thất
62.500 quân và Việt Nam có 15.000 quân đă bị thiệt mạng
trong cuộc giao tranh.
Ngày 05 Tháng 3, sau ba tuần lễ giao tranh dữ dội, Bắc
Kinh đă tuyên bố kết thúc cuộc xâm lăng và ra kế hoạch
rút quân của ḿnh về phía lănh thổ Trung Quốc. Ngày hôm
sau, Việt Nam đă nói rằng họ sẽ mở các cuộc thảo luận
ḥa b́nh với Trung Quốc, nếu của Trung Quốc giử lời hứa
rút quân toàn bộ. Sau đó, Việt Nam đă từ chối cả ba đề
nghị thương thuyết ḥa b́nh mà Trung Quốc đưa ra, họ
luôn nhấn mạnh rằng quân đội Trung Quốc vẫn c̣n trong
lănh thổ Việt Nam.
Cuối cùng, ngày 19 tháng 4, những viên chức Trung Quốc
và Việt Nam gặp nhau tại Hà Nội để thảo luận về những đề
nghị ḥa b́nh, nhưng rốt cuộc không bên nào chấp nhận
một điều nào cả.
Những cuộc khiêu khích tiếp tục xảy ra dọc theo biên
giới cho đến tận ngày nay.
(Thử) thảo luận các câu hỏi sau:
1. Việt Nam đă nghĩ ǵ về Trung Quốc vào tháng 2 năm
1979 rằng Trung Quốc muốn thay đổi?
2. Mục tiêu dạy dổ của các nỗ lực quân sự của Trung Quốc
để "dạy cho Việt Nam một bài học" là ǵ? Nó có hiệu quả
hay không?
3. Trong những xung đột quốc tế hiện tại hoặc các mối
quan hệ song phương nào, mà đang có một hoặc cả hai bên
đều nỗ lực nhằm để dạy dổ kẻ khác? Chiến lược của họ là
ǵ? Tác dụng của nó ra sao?
Những Nhân Vật Trong Cuộc Xung đột giữa Trung Quốc và
Việt Nam
Leonid Brezhnev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô
Jimmy Carter, Tổng thống Hoa Kỳ
Andrei Gromyko, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô
Li Hsien-nien, Phó Thủ tướng Trung Quốc
Thanh Nga, nữ diễn viên nổi tiếng Việt Nam
Pol Pot, Thủ tướng Campuchia dưới thời Khmer Đỏ, bị lật
đổ do cuộc xâm lược của Việt Nam.
Heng Samrin, Thủ tướng Campuchia thân Việt Nam sau khi
Pol Pot bị lật đổ
Hsu Shih-yu, Tư lệnh lực lượng của Trung Quốc, Ủy viên
Bộ Chính trị
Yang Teh-Mer, Tư lệnh quân đội Trung Quốc trong Chiến
tranh Triều Tiên
Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tham mưu trưởng quân đội Việt
Nam
Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam
Kurt Waldheim, Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc
Deng Xiaoping, Phó Thủ tướng Trung Quốc
Đại tướng Wu Xiuguan, Phó Tham mưu trưởng quân đội Trung
quốc
Mốc Thời Gian: Những xung đột giữa Trung Quốc và Việt
Nam
1957 đảng Cộng sản Trung Quốc và Bắc Việt Nam
đồng ư tôn trọng các đường biên giới và duy tŕ nguyên
trạng.
1975: ngày 17 tháng 4: Campuchia rơi vào tay quân
Khmer Đỏ. Đài phát thanh Phnôm Pênh tuyên bố, "chiến
thắng vĩ đại của Campuchia là một thắng lợi vĩ đại đối
với nhân dân Trung Quốc"; cho thấy t́nh hữu nghị với
Trung Quốc và t́nh trạng thù nghịch với Việt Nam.
30 Tháng Tư: miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân đội Bắc
Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam kết thúc.
Tháng Mười Một: Bắc Kinh công khai gia tăng tranh chấp
lănh thổ với Việt Nam đối với Quần đảo Trường Sa.
1978 - từ tháng Tư- đến tháng Năm: 50.000 người
Việt gốc Hoa vượt biên giới để t́m điều kiện sống tốt
hơn tại Trung Quốc. Cuộc di cư với tổng số gần 200.000
người.
Tháng Sáu: Trung Quốc cắt tất cả viện trợ kinh tế cho
Việt Nam, triệu hồi Đại sứ, đóng tất cả ba lănh sự quán
Việt Nam tại Trung Quốc, để đáp lại cuộc đàn áp của Việt
Nam và cuộc di cư của người Việt gốc Hoa.
Ngày 03 tháng 11: Nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt
Nam và Liên Xô kư Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác.
Ngày 28 Tháng Mười Một: Thanh Nga, nữ diễn viên tài năng
và nổi tiếng nhất của miền Nam Việt Nam, bị ám sát tại
Sài G̣n do đóng những vai lănh tụ anh hùng trong kháng
chiến của Việt Nam để chống lại sự chiếm đóng của Trung
Quốc.
Ngày 24 tháng 12: Việt Nam xâm chiếm Campuchia, mở chiến
dịch chống chế độ Pol Pot.
1979 Ngày 07 tháng 1: Quân đội Mặt trận Thống
Nhất Cúu Nguy Dân Tộc Campuchia, do Heng Samrin, hành
quân tiến vào Phnôm Pênh, lật đổ chính phủ Khmer Đỏ của
Pol Pot, và thiết lập Chính phủ thân Việt Nam.
Ngày 08 đến ngày 12 tháng 1: Việt Nam lên án Trung Quốc
với chín hành vi vi phạm biên giới, trong đó có hai
người bị thiệt mạng và ba người bị thương.
Ngày 25 tháng 1: Việt Nam chào mừng kỷ niệm 190 năm,
ngày chiến thắng Bắc Kinh vào năm 1789 (Chiến thắng Đống
Đa).
Ngày 30 tháng 1: Trung Quốc bắt đầu các hành động quân
sự tấn công sấm sét, nhanh chóng trên toàn tuyến biên
giới Việt Nam.
Ngày 31 tháng 1: Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu B́nh nói
về Việt Nam trong bài diễn văn tại Washington như
sau:"Nếu bạn không dạy cho họ vài bài học cần thiết, th́
không được."
Tháng Hai: Phó Thủ tướng Trung Quốc Deng Xiaoping kêu
gọi sự hỗ trợ của Nhật Bản chống Việt Nam nhưng đă thất
bại.
Tháng 2 từ ngày 01 đến ngày 13: Trung Quốc triển khai
300.000 quân tới biên giới.
Ngày 17 tháng 2: Có từ 100.000 đến 170.000 binh sĩ Trung
Quốc được hỗ trợ bởi xe tăng, pháo binh và máy bay xâm
lược Việt Nam trăi dọc theo 480 dặm biên giới để "dạy
cho Viêt Nam một bài học."
Trung Quốc kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam mở đàm phán
ḥa b́nh, phía Việt Nam từ chối các cuộc đàm phán và gọi
chúng là " thủ đoạn đánh lừa của kẻ cướp"
Ngày 05 Tháng Ba: Bắc Kinh tuyên bố kết thúc cuộc xâm
lược Việt Nam và chuẩn bị rút quân về lănh thổ Trung
Quốc.
Ngày 06 tháng 3: Hà Nội thông báo sẽ tổ chức các cuộc
thảo luận về việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc nếu
quân đội Trung Quốc thực hiện kế hoạch rút lui.
Ngày 07 tháng 3: Trung Quốc tuyên bố chiến thắng. Việt
Nam tuyên bố quân đội Trung Quốc bị đánh bại nặng nề.
Ngày 18 tháng 3: Kết thúc cuộc chiến tranh ba mươi ngày
được tuyên bố của Bắc Kinh; thu hồi tất cả lực lượng
quân đội về lănh thổ Trung Quốc. Việt Nam tuyên bố quân
đội Trung Quốc vẫn c̣n chiếm lănh thổ Việt Nam.
Ngày 04 tháng Tư: Việt Nam, sau khi có một số phản đối,
đă chấp nhận đề nghị của Trung Quốc cho các cuộc đàm
phán để khôi phục lại quan hệ b́nh thường giữa hai quốc
gia, nhấn mạnh tới việc rút quân hoàn toàn của quân đội
Trung Quốc.
Ngày 19 tháng 4 họp tại Hà Nội: Trung Quốc và Việt Nam
đều từ chối lẫn nhau về những đề nghị ḥa b́nh.
Ngày 01 tháng 5: Phó Thủ tướng Trung Quốc Deng Xiaoping
nói với ông Kurt Waldheim, Tổng thư kư Liên Hợp Quốc,
rằng Trung Quốc sẽ tấn công một lần nữa nếu sự khiêu
khích (của Việt Nam) vẫn tiếp tục.
1987 Tháng Giêng Cuộc chiến tranh biên giới giữa
Việt Nam - Trung Quốc gây tổn thất nhân mạng cao nhất,
kể từ sau cuộc chiến tranh 1979.
Nguồn tham khảo:
The Conflict between China and Vietnam
Kaushik, R.P. and Susheela. Back to the Front, The
Unfinished Story in Vietnam, New Delhi: Orient Longman
Limited (1979)
Lawson, Eugene K. The Sino-Vietnamese Conflict, New
York: Praeger Publishers (1984)
Ray, Herman. China's Vietnam War, New Delhi: Radiant
Publishers (1983) Tretiak, "China's Vietnam War"; see
also: Eugene K. Lawson, "Comment" on Tretiak article,
The China Quarterly 86 (June 1981)