|
|
Nguyên
tắc san định là điều nghiên ra được nguyên lư an sao, nhận định
rơ những sự sai lầm rồi an lại cho đúng.
Tứ
Hóa Khoa Quyền Lộc Kỵ sai đến 55%.
Một
ít lá số may mắn có nhiều sao c̣n an đúng vị trí được giải
đoán khá chính xác, nhưng khi gặp trường hợp an sao sai quá
nhiều do các sách cũ th́ việc giải đoán phải sai trật chứ không
phải tại thầy Tử vi dở. Các thầy Tử vi cao thâm dày kinh
nghiệm đă tự t́m phương cách giải đoán riêng th́ có thể vớt
vát được một đôi phần.
Công
việc SAN ĐỊNH rất phức tạp v́ phải phối hợp nhiều phương cách:
1. Dựa theo cách an sao của nhiều sách để
t́m nguyên nhân nào một sao đă được an ở vị trí nầy hay vị
trí kia.
2. Dựa theo Kinh Dịch, để t́m vị trí, âm
dương, ngũ hành của chính tinh.
3. Dựa theo các phương pháp toán học để
an định chính xác các sao.
4. Dựa vào
các khoa Địa lư, Tử b́nh, Bốc dịch, cả Tử vi của đời Trần
để bổ túc thêm.
5. Dựa vào các yếu tố của Âm lịch để
định ngũ hành của tuổi.
Nguyên
lư của khoa Tử vi đặt trên ư thức con người là một tiểu vũ
trụ mà cấu trúc được ấn định bởi những định luật liên
quan đến vật thể và tâm linh như diễn đạt trong Dịch Kinh.
1. Quân b́nh âm dương
Trong
quan niệm cấu trúc càn khôn vũ trụ, căn bản là quân b́nh âm dương.
Cho nên từ Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái đến Địa bàn, hễ
có âm th́ có dương.Do đó mà chính tinh không thể chia ra 6 sao
thuộc Tử Vi và 8 sao thuộc Thiên Phủ mà là 7 sao cho mỗi
bên.
2. Cân bằng các lá số
Một
ưu tư lớn khi san định là các tuổi từ Giáp Tí đến Quí Hợi
phải cần có những sự may mắn ngang nhau. Như 2 sao Thiên tài và
Thiên thọ chỉ có lợi cho tuổi dương mà thôi v́ lúc nào cũng
được an ở Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài hay Phối. C̣n tuổi âm th́
chỉ an ở Phụ Mẫu, Điền, Nô, Ách, Tử hay Bào; tất nhiên tất
cả tuổi âm không bao giờ hưởng được 2 sao Thiên tài và Thiên
thọ, như vậy là bất công. Cho nên tôi xin đề nghị bỏ hẳn 2
sao nầy, cũng như bỏ hẳn các “sao” Mệnh chủ và Thân
chủ.
3. Loại bỏ dư thừa
Phải
hủy bỏ nhiều sao cố định như Thiên la, Địa vơng v́ vô
dụng,
hay 2 sao luôn luôn đồng cung với nhau như Lộc tồn với Bác sĩ,
Quan phù và Long tŕ, Phượng cát và Giải thần, Thiên không và
Thiếu dương th́ phải bỏ đi 1 sao cho bớt rườm rà. Trong tài
liệu nầy một số sao luôn luôn đồng cung có thể bị bỏ hẳn
hay dời qua một vị trí khác hoặc một hệ thống sao
khác.
4. Vị trí cũ
Các
sao được cố gắng lưu giữ ở vị trí cũ đến mức tối đa để
quí vị đă từng nghiên cứu Tử vi có thể dùng những yếu tố
Tử vi cũ mà khỏi bỡ ngỡ và khỏi mất th́ giờ.
5. Xử dụng sao trong Tử vi trung cổ
thời nhàTrần
Ṿng
Thiên Khốc tương đương với ṿng Thái tuế được dùng nhiều
sao của Tử vi thời trung cổ hay thời nhà Trần.
6. Sao mới
Có
nhiều sao cần phải có ở những vị trí then chốt nhưng thiếu sót,
nhất là an theo tháng và giờ sinh, nên xin đem vào một số sao ghi
theo huyệt-mạch, không phải sao đó do kinh mạch mà có hay ảnh hưởng
đến kinh mạch, mà là tên của huyệt đạo do gợi h́nh gợi ảnh
đúng với tính chất th́ được chọn, như Lệ đoài th́ chủ
việc buồn phiền lo rầu...
Nguyên
tắc chính của sự San định là dụng âm dương làm căn bản và
dụng ngũ hành để thể hiện sinh khắc chế hóa.
Phần
San định được ấn hành trước để giúp độc giả sớm có tài
liệu để điều chỉnh cách an các sao của lá số và có thể
giải nghiệm nhằm so sánh sự chính xác lạ lùng của khoa Tử-vi.
1. Thành lập Cục
2. San định Chính tinh: Nam Bắc đẩu, Âm Dương,
Ngũ hành
3. Ṿng Lộc tồn và các sao thuộc Thiên Can
4. Ṿng Thái tuế và các sao thuộc Địa Chi
5. Tứ Hóa: Khoa Quyền Lộc Kỵ.
6. Các sao theo tháng, ngày, giờ
7. Ṿng Trường sinh
8. Tuần Triệt và Lục Thập Hoa Giáp ( 60 năm
).
9. Địa bàn và Đại Tiểu Hạn.
Phần B́nh giảng rất phong phú sẽ được ấn hành sau.
[ Tài liệu nầy chỉ để cho những vị đă
biết an lá số, đă từng biết giải đóan Tử Vi từ năm năm trở lên, và
có tŕnh độ tóan học cao đẳng.
Tài liệu nầy không hữu ích cho những người mới học xem Tử Vi ]
Cấm trích dịch toàn bộ hay một phần sách VĂN-LANG TỬ-VI SAN-ĐINH và B̀NH-GIẢNG
mà không có sự đồng ư của tác giả