
CHƯƠNG
III
|
|
Các sao an theo Thiên Can gồm có:
-
17 sao ṿng Lộc tồn (kể cả Bác sĩ, Ḱnh, Đà,
Ấn, Phù)
-
2 sao Thiên khôi, Thiên việt
-
2 sao Thiên quan, Thiên phúc
-
3 sao phụ: Lưu niên Văn tinh, Lưu hà, Thiên trù.
Tổng cộng 24 sao.
Khi san định các sao an
theo Thiên Can, tôi t́m thấy sao Lộc tồn không bao
giờ an tại 4 cung th́n tuất sửu mùi, như
vậy những sao chính thuộc nhóm Thiên Can (như
Lộc tồn, Khôi Việt v.v...) phải an theo Tiên Thiên, v́
Tiên Thiên không có cung thổ ở ṿng Bát quái, c̣n các sao
Quan Phúc, Hà Trù th́ gọi là sao phụ an theo Bát Quái
Hậu Thiên, tất không có ở th́n tuất mà có ở
sửu mùi.
3.1. ĐỊNH-LUẬT An Các Sao Theo
THẬP-CAN
Nên nhớ là hỏa
vừa khắc kim vừa sinh kim:
lửa vừa nung chảy
kim, vừa được dùng để luyện kim.
2 sao Quan Phúc ở mục 3.5 và 2 sao Hà Trù ở mục 3.6 do ngũ hành sinh khắc chế hóa giữa Can và cung, phải cần đến cung thổ (sinh và khắc) nên phải xử dụng 2 cung sửu mùi của Hậu Thiên.
|
ĐỊNH-LUẬT Những
sao chính thuộc Thiên Can phải an theo Tiên Thiên Những sao phụ an theo Thiên Can phải an vào các cung do ngũ hành sinh khắc chế hóa Hậu Thiên.
|
Việc an các sao Thiên Can
đặt nặng về âm dương và về nam nữ
v́ ngũ hành được ấn định theo Bát Quái
Tiên Thiên, mà Tiên Thiên th́ âm dương lẫn lộn. Cho
nên khi an sao, cần phải phân định rơ ràng âm dương
và ngũ hành.
3.2. Ṿng LỘC-TỒN
3.2.1.
Các sao thuộc ṿng Lộc-tồn:
Trong các tài
liệu Tử vi cũ 17 sao an theo ṿng Lộc tồn là:
13
sao của ṿng Lộc tồn là:
Lộc tồn Bác sĩ, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao,
Tướng quân, Tấu thư, Phi liêm, Hỉ thần,
Bệnh phù, Đại hao,
Phục binh, Quan phủ.
Thêm
vào 13 sao đó c̣n có 4 sao:
- sao Quốc ấn ở vào cung
thứ 9 kể từ cung an Lộc tồn đếm theo
chiều thuận,
- sao Đường phù ở vào
cung thứ 8 kể từ cung an Lộc tồn theo chiều
nghịch.
- sao Ḱnh dương an trước
Lộc tồn, sao Đà la an sau Lộc tồn
Như tuổi Canh, Lộc tồn an tại cung thân, Ḱnh dương
an tại cung dậu và Đà la an tại cung mùi.
An 13 sao ṿng Lộc tồn
do theo âm dương nam nữ:
- Dương Nam và Âm Nữ an
theo chiều thuận,
- Âm Nam và Dương Nữ an
theo chiều nghịch.
Tuy nhiên muốn biết an đúng
hay sai chúng ta phải nghiên cứu qui tắc an sao Thiên Can
theo phương cách nào.
3.2.2.
Phương hướng ngũ hành Tiên Thiên
3.2.3.
Phương hướng của Thập Can:
3.2.4.
Phương hướng của Địa bàn:

An Lộc tồn theo Thiên Can vào các cung của Địa bàn có cùng ngũ hành:
|
Thiên Can |
Lộc tồn an tại |
thuộc Hành |
|||||||
|
↓ |
|
↓ |
|
↓ |
|||||
|
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí |
|
dần măo tỵ ngọ tỵ ngọ thân dậu hợi tí |
|
mộc mộc hỏa hỏa hỏa hỏa kim kim thủy thủy |
|||||
|
Bính Mậu |
Đinh Kỷ |
|
Canh |
|
|
Vị trí của sao Lộc tồn an theo Thập Can |
Tân |
|
|
Ất |
|
||
|
Giáp |
|
Quí |
Nhâm |
Sao Lộc tồn được
an đúng 100% trong các tài liệu cũ.
Ghi
chú:
Tiền
nhân đă an Lộc tồn của 2 tuổi Mậu
Kỷ thuộc hành thổ vào Địa bàn tại 2 cung
tỵ ngọ (hành hỏa), cùng với Bính Đinh có hành
hỏa v́ hỏa sinh thổ.
Ṿng Lộc tồn theo khoa ĐỘN-GIÁP:
Trong
khoa Độn Giáp các sao thuộc ṿng Lộc tồn là:
Lộc tồn (Ngũ hành đồng cung ), Thiên tào,
Địa phù, Phong bá, Lôi công, Vũ sư, Phong linh,
Đường phù, Quốc ấn, Thiên quan, Địa
trục, Thiên tặc. An vào Địa bàn như sau
|
Phong bá
|
Lôi công |
Vũ sư |
Phong linh |
|
Địa phù
|
theo ĐỘN GIÁP |
Đường phù
|
|
|
Thiên tào
|
Quốc ấn
|
||
|
LỘC TỒN Ngũ hành |
Thiên tặc |
Địa trục |
Thiên quan |
Như vậy giữa Tử vi cũ
và Độn giáp chỉ có 2 sao giống nhau là Lộc
tồn và Quốc ấn, c̣n lại hoàn toàn khác. 2 sao
Đường phù và Thiên quan không cùng vị trí ở
Tử vi và ở Độn Giáp.
3.2.5.
SAN-ĐỊNH ṿng LỘC-TỒN:
NGUYÊN-TẮC:
a Ṿng Lộc tồn
- an theo chiều thuận
nếu là Dương Can.
- an theo chiều nghịch nếu là Âm Can.
b 12 sao của ṿng Lộc tồn xin được minh
định như sau:
Lộc tồn, Thiên tào, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân, Phong linh, Hỉ thần, Bệnh phù, Tấu thư, Đại hao,
Phục
binh, Phi liêm.
c Quốc ấn và Đường phù ở thế tam
hợp với Lộc tồn.
Bắt đầu từ cung an Lộc tồn kể là cung
thứ nhất đếm theo chiều nghịch đến
cung thứ 5 an Quốc ấn.
Bắt đầu từ cung an Lộc tồn kể là cung
thứ nhất đếm theo chiều thuận đến
cung thứ 5 an Đường phù.
d - Dương Nam và Âm Nữ:
Ḱnh dương an trước Lộc tồn
và
Đà la an sau Lộc tồn.
- Âm Nam và Dương
Nữ:
Ḱnh dương an sau Lộc tồn
và Đà la an trước
Lộc tồn
Thí dụ tuổi Giáp (dương Can) có ṿng
Lộc tồn được an như sau:
|
Tiểu hao |
Tướng quân Đường phù |
Phong linh |
Hỉ thần |
|
Thanh long
|
tuổi GIÁP nam hay nữ |
Bệnh phù |
|
|
Thiên tào |
Tấu thơ Quốc ấn |
||
|
|
Phi liêm |
Phục binh |
Đại hao |
Thí dụ tuổi Ất (âm Can) có ṿng Lộc tồn được an như sau:
|
Phục binh |
Đại hao |
Tấu thơ Đường phù |
Bệnh phù |
|
Phi liêm |
tuổi Ất nam hay nữ |
Hỉ thần
|
|
|
|
Phong linh |
||
|
Thiên tào |
Thanh long |
Tiểu hao |
Tướng quân Quốc ấn |
Vậy ṿng Lộc tồn có những nét đặc
biệt đại cương như sau:
2
sao về vơ tướng là Tướng quân và
Phục binh
2
sao về văn quan là Phong linh và Tấu thư.
2
sao của lục bại là Đại hao, Tiểu hao
2
sao của bệnh hoạn là Thiên tào, Bệnh phù
2
sao tính t́nh là Hỉ thần (vui vẻ) và Phi liêm (mau
mắn)
2
sao của danh lợi là Lộc tồn và Thanh long
Tôi bỏ 2 sao Lực sĩ và Quan phủ của
Tử vi cũ v́ sao Lực sĩ không được đúng
trong nhiều lá số theo ư nghĩa của nó, c̣n sao Quan
phủ cùng với Quan phù của ṿng Thái tuế là cả
một mớ thập cẩm rắc rối cho nên phải
bỏ hẳn.
Tôi bỏ cách an sao Bác sĩ
luôn luôn đồng cung với Lộc tồn v́ không có tác
dụng ǵ. Thực ra việc an sai sao nầy là do những
thầy bói cố t́nh an như vậy để nịnh
bợ những người có tiền của, thế
lực v́ những người nầy có Lộc tồn;
chữ bác sĩ ngày xưa dùng để chỉ người
thông minh, hiểu rộng chứ không phải y khoa bác sĩ
như ngày nay.
Tôi xin dành sao Bác sĩ để cặp với sao Văn tinh thành bộ khoa học văn chương.
3.2.6.
Luận về Ngũ-hành ṿng LỘC-TỒN
Ngoài các chính tinh ra không có sao nào được mang
một hành riêng. Chính tinh được dùng đồng
đều cho tất cả tuổi, ngược lại các
sao khác mỗi tuổi bị an riêng biệt tại một
vị trí cố định.
Tỷ như nếu cho sao
Lộc tồn có hành mộc, th́ tuổi Giáp có lợi v́
sao nầy an ở cung dần thuộc mộc; ngược
lại tuổi Canh luôn luôn bị bất lợi v́ Lộc
tồn phải an ở cung thân thuộc kim tất khắc
kỵ sao thuộc mộc.
3.2.7.
Bộ sao ẤN-PHÙ
Quốc ấn và Đường phù là 2 sao về công
danh lập nên bộ Binh-Phù-Tướng-Ấn
Các tài liệu cũ ghi
bộ sao nầy là Binh-H́nh-Tướng-Ấn là sai v́ 3
sao Phục binh, Tướng quân và Quốc ấn thuộc
ṿng Lộc tồn an theo Thiên Can, chỉ có 1 sao thứ tư
là Thiên h́nh (có sách nói tượng trưng cho cái gươm)
được an theo tháng sinh của đương số,
tất nhiên sự lập nên bộ sao Binh-H́nh-Tướng-Ấn
như vậy là sai.
Sao Quốc ấn tượng trưng cho ấn tín, cái
triện, con dấu dùng để đóng bên chữ kư
của vua quan trên các chiếu chỉ, công văn, chứng
chỉ. Có Quốc ấn là có thực quyền, chức
vị.
Sao Đường phù là tượng
trưng cho dinh thự vua chúa có phù hiệu, lệnh
tiễn. Có Đường phù là có dinh cơ, uy lệnh,
hưởng lộc.
Theo các tài liệu cũ,
sao Quốc ấn được an từ cung an Lộc
tồn đếm theo chiều thuận đến cung
thứ 9 an Quốc ấn (hay là từ cung an Lộc tồn
đếm ngược đến cung thứ 5 cũng
vậy). Sao Đường phù được an từ cung
Lộc tồn đếm theo chiều nghịch đến
cung thứ 8 an Đường phù. An như vậy không bao
giờ 2 sao Quốc ấn và Đường phù có thể
phối hợp với nhau được.
Cho nên chúng ta cần san định lại như sau:
Bất luận là dương Can hay âm Can, bất luận là Nam hay Nữ số
-
Sao Quốc ấn được an từ cung Lộc
tồn đếm theo chiều nghịch đến cung
thứ 5 an Quốc ấn.
-
Sao Đường phù được an từ cung
Lộc tồn đếm theo chiều thuận đến
cung thứ 5 an Đường phù.
An như vậy lúc nào 2 sao Quốc ấn và
Đường phù cũng ở thế tam hợp với
nhau, và với Lộc tồn:
-
Đối với dương Can, sao Quốc ấn
ở cùng cung với Tấu thư, Đường phù
ở cùng cung với Tướng quân.
-
Đối với âm Can, sao Quốc ấn ở cùng
cung với Tướng quân, Đường phù ở cùng
cung với Tấu thư.
Trong các tài liệu cũ
sao Quốc ấn được an đúng 100%, sao
Đường phù an hoàn toàn sai.
3.2.8.
Bộ sao K̀NH-ĐÀ
2 sao Ḱnh dương và Đà la phải được
an như sau:
-
Dương nam và âm nữ: Ḱnh dương an trước
Lộc tồn.
và Đà la an sau Lộc
tồn.
-
Âm nam và dương nữ: Ḱnh dương an sau
Lộc tồn,
và
Đà la an trước Lộc tồn.
3.3.
KHÔI-VIỆT
3.3.1.
Thiên-Khôi và Thiên-Việt cũ
2 sao nầy được an theo Thiên can. Hầu hết tất cả các sách cũ đều an bộ sao nầy như sau:
| Can | Thiên Khôi | Thiên Việt | |||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp Mậu Ất Kỷ Canh Tân Bính Đinh Nhâm Quí |
sửu tí ngọ hợi măo |
măo thân dần dậu tỵ |
|||||||||
Trong cách dùng kinh Dịch để bói quẻ Diệc, tôi t́m thấy hai sao Khôi Việt lại được gọi là Quới nhơn (quí nhân) do cách an 2 quới nhơn đó; người ta đặt bài vè cho dễ nhớ như sau:
|
Giáp Mậu an Ngưu Dương Ất Kỷ, Thử Hầu hương Bính Đinh, Trư Kê vị Nhâm Quí, Thố Xà tàng Canh Tân, phùng Mă Hổ |
( trâu dê = sửu mùi ) ( chuột khỉ = tí thân ) ( heo gà = hợi dậu ) ( thỏ gà = măo tỵ ) ( ngựa cọp = ngọ dần ) |
thố là thỏ, là mèo, măo |
Ngày Giáp ( hay Mậu ) th́ an quới nhơn ( quí nhân ) ở hào Sửu và Mùi, khi giải đoán quẻ Diệc nếu thấy hào nào có quới nhơn th́ được sự phù trợ, giúp đỡ của một vị có khả năng hay thần linh.
Như
vậy trong Tử vi an Khôi Việt hay trong Bói Dịch an quí
nhơn giống nhau ( và đều sai).
| Can | Thiên Khôi | và | Thiên Việt | ||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp Mậu Ất Kỷ Bính Đinh Canh Tân Nhâm Quí |
Kgm Kấk Kbđ Kct Knq |
Vgm Vấk Vbđ Vct Vnq |
|||||||||
Đem
an vào Địa bàn như sau:
|
Vnq |
Kct |
Vgm |
Vấk |
|
|
|
Vbđ |
|
|
Knq |
|
||
|
Vct |
Kgm |
Kấk |
Kbđ |
Chúng ta nhận thấy những điểm đặc
biệt sau:
1.
Th́n-Tuất là trục đối xứng của
cặp sao Khôi Việt.
2.
Có 3 cặp Thiên Can là Bính-Đinh, Canh-Tân và Nhâm-Quí
là những Can nối tiếp nhau, chỉ có 2 cặp Giáp-Mậu
và Ất-Kỷ là chẳng ăn nhằm vào đâu,
tất nhiên là an bậy bạ.
Cho nên tôi thấy cần sửa lại cho thống
nhất như sau:
3.3.2.
SAN-ĐỊNH KHÔI VIỆT
2 sao Khôi Việt là tinh hoa
của lá số, sáng suốt và có tài lănh đạo, cho
nên đó là 2 quí tinh thượng đẳng.
- 5 cặp Thiên Can tiếp nối
nhau là: Giáp-Ất, Bính-Đinh, Mậu-Kỷ, Canh-Tân và Nhâm-Quí.
- Mỗi cặp gồm 2 Can cùng
một hành với nhau:
| Các Can | |||
| Giáp và Ất | đều thuộc | mộc | |
| Bính và Đinh | hỏa | ||
| Mậu và Kỷ | thổ | ||
| Canh và Tân | kim | ||
| Nhâm và Quí | thủy |
- Khôi Việt phải đựơc
an theo Thiên Can như sau tại các cung đối xứng
qua trục th́n tuất; Bính Đinh và Mậu Kỷ an
giống nhau như trong trường hợp của sao
Lộc tồn:
| Can | Thiên Khôi | Thiên Việt | |||||||||
| ↓ | ↓ tại | ↓ tại | |||||||||
|
Giáp-Ất Bính-Đinh Mậu-Kỷ Canh-Tân Nhâm-Quí |
hợi tí tí dần măo |
dậu thân thân ngọ tỵ |
|||||||||
Chúng ta ghi Kgấ là Thiên khôi
của Giáp Ất hay Vmk là Thiên việt của Mậu
Kỷ ......cũng như trên đây.
An
vào Địa bàn:
|
Vnq |
Kct |
|
Vbđ Vmk |
|
|
Khôi Việt mới |
Vgấ |
|
|
Knq |
|
||
|
Vct |
|
Kbđ Kmk |
Kgấ |
An như vậy chúng ta
thấy có sự đồng nhất của tất cả
Thập Can, Khôi Việt hoàn toàn đối xứng qua
trục Th́n Tuất.
Các
sách cũ an đúng 2 can Nhâm, Quí tức được
2/10, an gần đúng can Canh, Tân 2/10. C̣n các can Giáp, Ất,
Bính, Đinh, Mậu, Kỷ hoàn toàn sai, tức sai 6/10 hay 60
%.
Tất
nhiên quới nhơn của quẻ Diệc cũng bị
sai như trong Tử vi cũ.
Cước chú: một vài tên lưu manh học cóp cách san định nầy, cũng bắt chước sửa lại cho 2 tuổi Mậu Kỷ, chúng an Khôi Việt ở 2 cung sửu mùi (thay v́ 2 cung tí thân như trên đây), nhưng chúng không biết rằng san định phải theo những nguyên tắc của sự an sao, hơn nữa tài liệu san định nầy phải dựa trên thực nghiệm và phối kiểm trên rất nhiều lá số.
3.4. BÁC VĂN
3.4.1 Bác-sĩ và Văn-tinh
Sao Lưu niên Văn tinh
trong các tài liệu cũ lúc nào cũng đồng cung
với Tiểu hao nên phải cải đổi toàn
diện.
Sao
Văn tinh chủ văn chương, biện thuyết.
Sao
Bác sĩ chủ khoa học, kỹ thuật.
Bác
sĩ, Văn tinh là 2 sao tài hoa xuất chúng.
3.4.2.
SAN-ĐỊNH Bác-sĩ và Văn-tinh
1. Th́n-Tuất là trục đối
xứng của cặp sao Văn-Bác.
2. 5 cặp Thiên Can tiếp nối nhau là:
Giáp-Ất, Bính-Đinh, Mậu-Kỷ, Canh-Tân và Nhâm-Quí,
mỗi cặp gồm 2 tuổi cùng một hành với nhau.
3. an Văn tinh và Bác sĩ của các
cặp Thiên Can như sau tại các cung đối xứng
qua trục th́n tuất;
Bính Đinh và Mậu
Kỷ an giống nhau như trong trường hợp
của sao Lộc tồn và Khôi Việt, tức những
sao nầy không có ở những cung th́n tuất sửu mùi:
| Can | Bác-sĩ | Văn-tinh | |||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp-Ất Bính-Đinh Mậu-Kỷ Canh-Tân Nhâm-Quí |
măo dần dần tí hợi |
tỵ ngọ ngọ thân dậu |
|||||||||
theo trong bảng dưới đây:
|
V gấ |
Vbđ Vmk |
|
Vct |
|
|
Bác sĩ và Văn tinh |
Vnq |
|
|
B gấ |
|
||
|
Bb đ Bmk |
|
Bct |
Bnq |
3.5. BỘ SAO QUAN PHÚC
3.5.1.
Thiên-Quan và Thiên-Phúc cũ:
Hai sao Thiên quan và Thiên phúc được an như
sau trong các tài liệu cũ:
| Can | Thiên Quan | Thiên Phúc | |||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí |
mùi th́n tỵ dần măo dậu hợi dậu tuất ngọ |
dậu thân tí hợi măo dần ngọ tỵ ngọ tỵ |
|||||||||
Như tuổi Kỷ an sao Thiên quan ở cung dậu và an sao Thiênphúc ở dần.
An vào Địa bàn chúng
ta có:
|
b |
q |
g |
|
|
ấ |
Thiên Quan cũ |
k t |
|
|
m |
n |
||
|
đ |
|
|
c |
|
t q |
c n |
|
ấ |
|
|
Thiên phúc cũ cung khắc can |
g |
|
|
m |
|
||
|
k |
|
b |
đ |
Như vậy tuổi Giáp
thuộc mộc có Thiên quan ở cung mùi thuộc thổ là
khắc xuất, riêng Thiên phúc an tại tất cả các
cung có ngũ hành khắc với Can của tuổi, an như
vậy là sai, bậy bạ, chẳng phải phúc ǵ cả.
3.5.2 SAN-ĐỊNH Thiên-Quan,
Thiên-Phúc:
Sao Thiên Quan là sự vinh thăng
của Can, tức hành của Can sinh ra sao Thiên Quan, sao
nầy phải được an tại cung có hành do Can
sinh ra:
Thí-dụ: Can Tân thuộc hành âm kim th́ sinh ra hành thủy
nên sao Thiên Quan phải được an tại cung âm
thủy tất cung hợi.
Sao
Thiên Phúc là sự đem phúc lộc phù trợ cho tuổi,
nên vị trí cung an Thiên Phúc phải sinh ra Can của
tuổi, tức hành của Can được sinh ra bởi
hành của cung an Thiên Phúc:
Thí
dụ: Can Ất thuộc hành âm mộc th́ được
cung âm thủy tất cung hợi sinh ra; cho nên sao Thiên Phúc
của Ất mộc phải được an tại cung
hợi thủy.
Sau
khi san định lại 2 sao Thiên quan và Thiên phúc của
10 Thiên Can chúng ta có:
| Can | Thiên quan | Thiên phúc | |||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí |
ngọ tỵ sửu mùi dậu thân tí hợi măo dần |
tí hợi măo dần tỵ ngọ ngọ tỵ dần thân |
|||||||||
An vào Địa bàn chúng ta có:
|
ấ |
g |
đ |
k |
|
|
Thiên Quan mới can sinh cung |
m |
|
|
n |
|
||
|
q |
b |
c |
t |
|
m |
k |
c |
q |
|
|
Thiên Phúc mới cung sinh can |
n |
|
|
b |
|
||
|
đ |
t |
g |
ấ |
3.6.
BỘ SAO HÀ TRÙ
3.6.1.
Lưu-hà và Thiên-trù cũ:
Hai sao Lưu hà và Thiên trù
trong các tài liệu cũ:
| Can | Lưu Hà | Thiên Trù | |||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí |
dậu tuất mùi th́n tỵ ngọ thân măo hợi dần |
tỵ ngọ tỵ tỵ ngọ thân dần ngọ dậu tuất |
|||||||||
An vào Địa-bàn cho rơ như sau:
|
m |
k |
b |
c |
|
đ |
Lưu Hà cũ |
g |
|
|
t |
ấ |
||
|
q |
|
|
n |
|
g b đ |
ấ m t |
|
k |
|
|
Thiên Trù cũ |
n |
|
|
|
q |
||
|
c |
|
|
|
3.6.2 SAN-ĐỊNH bộ sao Hà Trù
Ư nghĩa chính của Lưu hà là hoạn-nạn, gây tai họa nhất là về sông nước. Sao Lưu hà phải là khắc tinh của Can tuổi. Thí dụ như Can giáp thuộc dương mộc, th́ hành kim khắc mộc giáp phải an Lưu hà tại cung dậu âm kim.
Ư nghĩa của Thiên trù không mấy rơ ràng trong các tài liệu cũ, Thiên trù cũng có nghĩa là bếp ḷ nhà trời chuyên gây về hỏa-tai; ở đây c̣n một trường hợp mà chúng ta chưa dùng đến là Can của tuổi khắc cung.
Thí dụ cung của can Quí là tí dương thủy (Lộc tồn an tại cung tí) khắc chế cung tỵ âm hỏa, cho nên sao Thiên trù của tuổi Quí được an tại cung tỵ. Sau khi san định bộ sao Hà Trù chúng ta có
| Can | Lưu Hà | Thiên Trù | |||||||||
| ↓ | ↓ | ↓ | |||||||||
|
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí |
dậu thân tí hợi dần măo tỵ ngọ sửu mùi |
mùi sửu thân dậu tí hợi măo dần ngọ tỵ |
|||||||||
An vào Địa bàn:
|
c |
t |
q |
ấ |
|
|
Lưu Hà mới cung khắc Can gần như Thiên Phúc cũ ! |
g |
|
|
k |
|
||
|
m |
n |
b |
đ |
|
q |
n |
g |
b |
|
|
Thiên Trù Mới Can khắc cung |
đ |
|
|
c |
|
||
|
t |
ấ |
m |
k |
Tóm lại trong Tử vi cũ
có 7 sao thuộc Thiên Can an đúng:
- 2 sao Lộc tồn, Quốc
ấn,
- 5 sao
Thanh long, Tướng quân,
Phục binh, Đại hao, Tiểu hao, trong trường
hợp cho nam số.
17 sao khác của Thiên Can bị an sai.
Cấm trích dịch toàn bộ hay một phần sách VĂN-LANG TỬ-VI SAN-ĐINH và B̀NH-GIẢNG
mà không có sự đồng ư của tác giả
|
[ Tài liệu nầy chỉ để cho những vị đă biết an lá số, đă từng biết giải đóan Tử Vi từ năm năm trở lên, và có tŕnh độ tóan học cao đẳng. Tài liệu nầy không hữu ích cho những người mới học xem Tử Vi ] |