CHƯƠNG VI
|
|
6.1.
SAO an theo THÁNG
Trong các tài liệu cũ có
7 sao an theo tháng sinh là:
Tả phụ, Hữu bật, Thiên riêu, Thiên y, Thiên
giải, Địa giải, Thiên hình.
Tuy
là 7 sao nhưng chỉ còn 6, vì 2 sao Riêu và Y lúc nào cũng
an đồng cung thì có ý nghĩa của 1 sao mà thôi.
Chỉ
có sao Hữu bật an theo chiều ngịch, 6 sao khác an theo
chiều thuận tất nhiên là không ổn.
Nếu an Thiên y ở cùng
cung với Thiên riêu thì phải luận giải là hể
người có năng khiếu về y thuật (nha, y, dược)
thì có tính hoa nguyệt lang
chạ của Riêu !
Sau khi điều nghiên
về ảnh hưởng của những sao an theo tháng
sinh, tôi thấy tính chất đặc biệt của các
sao nầy trong việc phù trợ ảnh hưởng các
sao đồng cung.
Sự
cần thiết của cả hệ thống 12 sao an theo
chiều thuận và 12 sao an theo chiều nghịch có tác
dụng phối hợp với nhau quyết định cho
sự tốt xấu của lá số, nhất là về
nghề nghiệp, cá tính, tâm hồn của đương
số.
Tên
của các sao thêm vào số sao cũ được
lấy ra từ các huyệt của 14 đường kinh
mạch. (Theo tôi cơ thể con người có 14
đường kinh mạch tương đương
với 14 chính tinh tức Lưỡng Nghi, Tứ Tượng
và Bát Quái). Tên của sao không liên quan đến tính
chất của huyệt hay của đường kinh
mạch, mà chỉ có tính cách gợi hình, gợi ý mà thôi
để độc giả tiện bề ghi nhớ.
Tôi
cố gắng giữ lại các sao của Tử vi cũ
ở vị trí cũ của nó nếu thấy đúng hay
thấy không phương hại đến y nghĩa toàn
bộ San định nầy, nhất là để quí
vị đã từng nghiên cứu Tử vi từ nhiều
năm qua có các sao đó làm mấu chốt suy luận
sẽ khỏi bị ngỡ ngàng vì hệ thống mới.
12
sao an theo chiều thuận là:
Thái khê, Não hộ, Tả
phụ, Phục lưu, Ngũ lý, Công tôn, Khúc trì, Thiên hình,
Thừa mãn, Dịch môn, Chương môn, Thiên riêu.
(3
sao Tả phụ, Thiên hình và Thiên riêu ở vị trí cũ
như trong các tài liệu cũ)
Bắt
đầu từ cung dần kể là tháng giêng, đếm
theo chiều thuận đến tháng sinh thì an Thái khê,
rồi lần lượt theo chiều thuận an các sao Não
Hộ, Tả Phụ, Phục Lưu, ...
12
sao an theo chiều nghịch là:
Tâm du, Đoài đoan, Kiên
tỉnh, Du phủ, Ngân giao, Thiên y, Cửu vĩ, Hàm yêm,
Hữu bật, U môn, Toàn cơ, Thiên thương.
(sao
Hữu bật vẫn an ở vị trí cũ, tôi bỏ
sao Thiên thương ở cung Nô Bộc mà đem vào
hệ thống sao an theo tháng sinh cho tiện vì ý nghĩa
cố hữu của nó).
Bắt
đầu từ cung dần kể là tháng giêng, đếm
theo chiều nghịch đến tháng sinh thì an Tâm du,
rồi lần lượt theo chiều thuận an các sao
Đoài đoan, Kiên tỉnh, ...
Thí
dụ như người sinh tháng giêng thì các sao được
an theo bảng dưới đây:
- các sao an theo chiều thuận có
ghi dấu+
- các sao an theo chiều nghịch có
ghi dấu -
Phần Bình giảng sẽ
nêu đầy đủ chi tiết về các sao nầy.
Tuy nhiên phần Bình giảng đặt nặng về triết lý Tử vi hơn là giải đoán.
|
Phục Lưu + Du phủ - |
Ngũ ly + Ngân giao - |
Công tôn + Thiên y - |
Khúc trì + Cữu vĩ - |
|
Tả phụ + Kiên tỉnh - |
Tháng GIÊNG |
Thiên hình+ Hàm yêm* - |
|
|
Não hộ + Ðoài đoan - |
Thừa mãn + Hữu bật - |
||
|
Thái khê + Tâm du - |
Thiên riêu+ Thiên thương - |
Chương môn+ Toàn cơ - |
Dịch môn + U môn - |
Ý-NGHĨA và TÍNH-CHẤT
|
Sao |
Ðặc tính |
Tính chất Ý nghĩa |
|
Chương môn+ |
cát |
Văn hào, biên khảo |
sao
an theo chiều thuận +,
an theo chiều nghịch -
-
Cát-tinh: sao lành
Các sao có đặc tính căn
bản là cát tinh thì thường cứu khổn phò nguy,
trong lúc thịnh vượng càng giúp cho đương
số phấn chấn; lúc gặp tai biến nguy nan thì giúp
đương số thoát hiểm như một cứu
tinh, tuy nhiên giúp được hay không còn cần phải
cứu xét chính tinh vượng, đắc hay hãm, cùng các
trung tinh hội tụ, và vị trí Tuần, Triệt, Thiên
không, Địa sát.
-
Trợ-tinh: sao phụ-tá
Các sao có tính chất căn
bản là trợ tinh thì thường là trung hòa, khi
thịnh giúp thịnh, khi suy thì làm cho suy thêm; Khi an vào
Địa bàn thì sao trợ tinh có chia thành 2 nhóm nhỏ
trợ tinh * thì an phía bên trái của cung, còn trợ tinh =
thì an phía bên mặt của cung. Trợ tinh có dấu * thì
tương đối tốt hơn là trợ tinh có
dấu = .
-
Hung-tinh: sao dữ
Nhóm nầy thường gây
tai họa như hình thương, thị phi, phá tán và tai
nạn. Tuy nhiên một số sao nhóm nầy gặp chính
tinh uy vũ như Vũ khúc, Phá quân miếu vượng
thì lại phò trợ đắc lực cho chính tinh.
Tóm lại các sao an theo tháng
sinh có nhiệm vụ:
- chỉ định tính tình,
khuynh hướng nghề nghiệp
- chỉ định cơ may,
vận rủi chỉ định cơ hội trong Nhân hòa
sau Thiên thời Địa lợi.
6.2.
SAO an theo GIỜ
Trong các tài liệu cũ có
8 sao an theo giờ sinh là:
Văn
xương, Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo, Địa không,
Địa kiếp.
Có 4 sao Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo và Địa kiếp an theo chiều thuận,
2 sao Văn xương và Địa không an theo chiều nghịch.
Linh Hỏa thì tùy theo âm dương nam nữ.
Sau khi điều nghiên
về ảnh hưởng của những sao an theo giờ
sinh, tôi thấy tính chất đặc biệt của các
sao nầy đặt nặng về ảnh hưởng tính
tình đương số.
Tôi
thấy sự cần thiết của cả hệ
thống 12 sao an theo chiều thuận và 12 sao an theo
chiều nghịch mà tác dụng phối hợp với nhau
có hiệu quả phù trợ cho sự tốt xấu
của lá số, nhất là về khuynh hướng, thiên
tư, cá tính, tâm hồn.
Tôi
chỉ giữ lại 2 sao Địa không và Địa
kiếp ở vị-trí cũ của nó vì thấy đúng
với tinh thần và ý nghĩa toàn bộ San định
nầy. Quí vị đã từng nghiên cứu Tử vi
từ nhiều năm qua sẽ thấy sự sai quấy
trong việc an 2 sao Văn xương và Văn khúc trong các
tài liệu cũ ở 2 cung thìn tuất; 2 sao nầy ở
2 cung sửu mùi của hệ thống mới thì mới
đáp ứng đúng các số văn nghệ sĩ.
Tên
của các sao thêm vào được lấy ra từ các
huyệt của 14 đường kinh mạch. (Tôi khám phá
ra cơ thể con người có 14 đường kinh
mạch tương đương với 14 chính tinh
tức Lưỡng Nghi, Tứ Tượng và Bát Quái).
Tên
của sao mà tôi chọn không liên quan đến tính
chất của huyệt hay của đường kinh
mạch, mà chỉ có tính cách gợi hình, gợi ý mà thôi
để độc giả tiện ghi nhớ.
12
sao an theo chiều thuận là:
Khúc trạch, Văn khúc,
Giao tín, Nội quan, Thái uyên, Kinh cừ, Cự liêu, Bách
hội, Đại bào, Thiên lịch, Thái bạch, Địa
kiếp.
Bắt
đầu từ cung tí kể là giờ tí, đếm theo
chiều thuận đến giờ sinh thì an Khúc trạch,
rồi lần lượt theo chiều thuận an các sao Văn
khúc, Giao tín, Nội quan ...
12
sao an theo chiều nghịch là:
Yêu du, Trung phủ, Phách
hộ, Nhân trung, Trường cường, Tịnh minh, Linh
đài, Văn xương, Thừa linh, Ngư tế,
Lệ đoài và Địa không.
Bắt
đầu từ cung tí kể là giờ tí, đếm theo
chiều nghịch đến giờ sinh thì an Yêu du,
rồi lần lượt theo chiều thuận an các sao
Trung phủ, Phách hộ, Nhân trung ...
Thí dụ như người
sinh giờ tí thì các sao được an theo bảng dưới
đây:
-
các sao an theo chiều thuận có ghi dấu +
-
các sao an theo chiều nghịch có ghi dấu -
Phần Bình giảng sẽ nói rõ chi tiết các sao nầy.
|
Kinh cừ + Tịnh minh - |
Cự liêu + Linh đài - |
Bách hội + Văn xương - |
Ðại bào + Thừa linh - |
|
Thái uyên + Trường cường- |
Giờ TÍ |
Thiên lịch+ Ngư tế - |
|
|
Nội quan + Nhân trung - |
Thái bạch+ Lệ đoài - |
||
|
Giao tín + Phách hộ - |
Văn khúc+ Trung phủ- |
Khúc trạch+ Yêu du - |
Ðịa kiếp + Ðịa không - |
Ý-NGHĨA và TÍNH-CHẤT
|
Sao |
Ðặc tính |
Ý nghĩa và Tính chất |
|
Bách hội + |
cát hung hung hung |
Cao thăng, chí hướng lý tưởng |
- Cát-tinh: sao lành
Các sao có tính chất căn-bản là cát tinh thì giữ được bản chất tốt dù gặp chính tinh hãm địa.
Các sao nầy có ảnh hưởng giảm thiểu khi gặp Thiên không, Địa sát hay Tuần, Triệt ...
- Trợ-tinh: sao phụ-tá
Trợ tinh có dấu * thì tương đối tốt hơn là trợ tinh có dấu =; Như sao Tịnh minh không ưa thay đổi, là tính người có lập trường vững, an hưởng thanh bình, nhưng không có khả năng đáp ứng khi tình hình đột biến giặc giả bất ngờ.
- Hung-tinh: sao dữ
Tuy nhiên một số sao nhóm nầy gặp chính tinh uy-vũ như Vũ khúc, Phá quân miếu vượng thì lại phò trợ đắc lực cho chính tinh.
Tóm lại toàn thể các sao an theo giờ sinh có nhiệm vụ:
- chỉ định tính tình, cảm xúc
- chỉ định khuynh hướng đối nội và đối ngoại
- chỉ định nghị lực, tác phong
- chỉ định khuynh hướng và tài năng nghề nghiệp.
6.3. SAO an theo NĂM Sinh và với GIỜ
LINH HỎA
2 sao Linh tinh và Hỏa tinh an theo giờ sinh và nam nữ
Tùy theo tuổi đương số thuộc tam hợp tuổi nào như dưới đây:
1 Dương nam và âm nữ
Từ 1 cung được chỉ định gọi là giờ tí, đếm theo chiều thuận đến giờ sinh thì an Hỏa tinh và từ 1 cung được chỉ định gọi là giờ tí, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh thì an Linh tinh.
2 Âm nam và dương nữ
Từ 1 cung được chỉ định gọi là giờ tí, đếm theo chiều thuận đến giờ sinh thì an Linh tinh và từ 1 cung được chỉ định gọi là giờ tí, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh thì an Hỏa tinh
| Tuổi | Hỏa | Linh | |||
| ↓ | ↓ cung chỉ định | ↓ | |||
|
Hợi-Mão-Mùi Tỵ-Dậu-Sửu Dần-Ngọ-Tuất Thân-Tí-Thìn |
tuất thìn sửu mùi |
tí ngọ mão dậu |
|||
Như người âm nam tuổi Tỵ, sinh giờ Mão, thì từ cung thìn gọi là giờ Tí đếm theo chiều nghịch đến giờ Mão tại cung sửu an Hỏa tinh và từ cung ngọ gọi là giờ Tí đếm theo chiều thuận đến giờ Mão tại cung dậu an Linh tinh.
Như người âm nữ tuổi Hợi, sinh giờ Mão, thì từ cung tuất gọi là giờ Tí đếm theo chiều thuận đến giờ Mão tại cung sửu an Hỏa tinh và từ cung tí gọi là giờ Tí đếm theo chiều nghịch đến giờ Mão tại cung dậu an Linh tinh.
Các tài liệu cũ chỉ đúng được 3 tuổi Dần-Ngọ-Tuất.
6.4. SAO an theo NGÀY
với THÁNG hay với GIỜ
Trong các tài liệu cũ có 4 sao an theo ngày sinh là: Tam thai, Bát tọa, Ân quang và Thiên quí.
Tam thai, Bát tọa an theo Tả phụ, Hữu bật; Ân quang và Thiên quí an theo Văn xương, Văn khúc.
Để dễ hiểu chúng ta an 4 sao đó như sau:
Tam-thai
Kể từ cung thìn kể là tháng giêng đếm theo chiều thuận đến tháng sinh, rồi từ cung đó kể là mùng 1 đếm theo chiều thuận đến ngày sinh thì an Tam thai tại cung đó.
Bát-tọa
Kể từ cung tuất kể là tháng giêng đếm theo chiều nghịch đến tháng sinh, rồi từ cung đó kể là mùng 1 đếm theo chiều nghịch đến ngày sinh thì an Bát tọa
Ân-quang
Kể từ cung sửu kể là giờ Tí đếm theo chiều thuận đến giờ sinh, rồi từ cung đó kể là mùng 1 đếm theo chiều thuận đến ngày sinh thì an Ân quang tại cung đó.
Thiên-quí
Kể từ cung mùi kể là giờ Tí đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh, rồi từ cung đó kể là mùng 1 đếm theo chiều nghịch đến ngày sinh thì an Thiên quí tại cung đó.
Xin chú ý
Trong các tài liệu cũ vì 2 sao Xương Khúc an sai nên 2 sao Ân quang và Thiên quí phải an lùi lại một cung khi an theo ngày sinh thì mới tìm ra ảnh hưởng của Quang Quí.
Do sự an sao cũ lấy Xương Khúc Tả Hữu là mấu chốt để an Thai Tọa Quang Quí, cho nên các tài liệu cũ liền đem Xương Khúc Tả Hữu để an Khoa Quyền Lộc Kỵ một cách sai lầm.
Cấm trích dịch toàn bộ hay một phần sách VĂN-LANG TỬ-VI SAN-ĐINH và BÌNH-GIẢNG
mà không có sự đồng ý của tác giả
|
[ Tài liệu nầy chỉ để cho những vị đã biết an lá số, đã từng biết giải đóan Tử Vi từ năm năm trở lên, và có trình độ tóan học cao đẳng. Tài liệu nầy không hữu ích cho những người mới học xem Tử Vi ] |