CHƯƠNG IX   

         

    

    

     

      Trên một lá số Tử vi thông thường người ta gọi:

1. ở giữa tờ giấy là Thiên bàn, dùng để ghi tên người có lá số, năm tháng ngày giờ sinh; rồi ghi hành của tuổi và cục rất cần thiết

2. chung quanh là Địa Bàn hình chữ nhật gồm 12 cung dùng để an sao.

 

  

  

9.1. ÂM DƯƠNG của CUNG

   

 

12 cung Địa-bàn chia ra 6 cung dương và 6 cung âm xen kẽ nhau:

                            - Tí Dần Thìn Ngọ Thân Tuất là         6 dương cung

                            - Sửu Mão Tỵ Mùi Dậu Hợi  là         6 âm cung

    

    Do phương cách an các sao mà chúng ta thấy

 

-   những người tuổi dương có Mệnh an tại dương cung và những người tuổi âm có Mệnh an tại âm cung là tốt, vì có được các bộ sao Thái tuế, Long trì, Hồng loan, Bạch hổ, Thiên mã, Hoa cái...

-   những người tuổi dương có Mệnh an tại âm cung và những người tuổi âm có Mệnh an tại dương cung là xấu, vì gặp Thiên không, Địa sát, Kiếp sát, Đào hoa, ...

   

  

9.2. NGŨ HÀNH của CUNG

 

        12 cung Địa bàn chia ra

   

    2 cung thuộc mộc:  dần và mão

    2 cung thuộc hỏa:   tỵ và ngọ

    2 cung thuộc kim:   thân và dậu

    2 cung thuộc thủy:  hợi và tí

    4 cung thuộc thổ:   thìn, tuất, sửu và mùi

   

     Chúng ta thấy 2 cung sửu mùi thuộc thổ là đúng vị trí của 2 cung thổ Cấn Khôn của Hậu Thiên. Các sao thuộc Thiên Can như Lộc tồn hay Lưu niên Văn tinh không bao giờ cư tại các cung thổ, tôi nhận thấy các loại sao chính của Thập Thiên Can đều an theo Tiên Thiên, vì Tiên Thiên không có cung thổ ở vòng Bát Quái.

    Vì Địa bàn có 12 cung mà Hậu Thiên chỉ có 8 cung, nên tôi tìm thấy tiền nhân đã bổ túc vào 8 cung Bát Quái Hậu Thiên thêm 4 cung nữa gồm 2 cung thổ thuộc Lưỡng Nghi là thìn và tuất, cùng 2 cung thuộc Tứ Tượng gồm 1 cung mộc là dần và 1 cung kim là thân.

    Do nguồn gốc của các cung, vị thế của chính tinh tại từng cung sẽ bị chi phối bởi cung của Bát Quái, của Tứ Tượng hay của Lưỡng Nghi.

    8 cung của Bát Quái liệt kê theo chiều thuận là: Càn khảm cấn chấn và tốn ly khôn đoài.

    Tôi thấy rằng cung Tốn Hậu Thiên là xác-định cho cung tỵ Địa bàn nên phải có hành hỏa và cung Càn Hậu Thiên là cung hợi Địa bàn phải có hành thủy. Tất cả tài liệu cũ đều ghi cung Tốn thuộc mộc và cung Càn thuộc kim là hoàn toàn sai.

   

 CHỨNG-MINH:

 

     Chúng ta có 2 cung dần và mão (mão là cung Chấn Hậu Thiên) đều thuộc hành mộc, nếu thêm cung Tốn tại tỵ cũng thuộc hành mộc thì có đến 3 cung thuộc hành mộc và chỉ có 1 cung hỏa là cung Ly (ngọ của Địa bàn) mà thôi. Hơn nữa giữa cung mão (Chấn mộc) và cung tỵ (Tốn) đã có cung thìn (thổ) xen vào, thì 2 cung Chấn Tốn không thể cùng hành mộc được.

    Cũng một lập luận như trên, cung Càn tại hợi phải thuộc thủy, chứ không thể thuộc kim.

    

    Như vậy tôi xin kết luận về ngũ hành, Hậu Thiên bị chép sai 2 cung trên 8, tất sai 25%.

  

    Điều nầy vô cùng quan trọng vì khoa Bốc dịch (hay bốc phệ) hoàn toàn dựa vào ngũ hành của Hậu Thiên để nghiên cứu sinh khắc chế hóa của lục hào và của Dụng thần trong các quẻ Lục Thập Tứ Quát theo Kinh Dịch thì không thể nào không bị sai trật. Nếu may gặp được quẻ trong số 75% đúng thì thầy “bói” đoán trúng phóc, nhưng gặp 25% kia (có 8 quẻ thuộc Càn hay 8 quẻ thuộc Tốn) thì trật bậy, và sự việc xảy ra trái ngược với lời đoán.

 

    Trong trường hợp khoa Mai hoa Dịch số thì cũng lại dùng Càn là kim và Tốn là mộc, nhưng cho càn có số 1 và Tốn số 5, vậy là thuộc Tiên Thiên, tất cả chánh quái, hỗ quái và biến quái đều dùng theo Hậu Thiên! đây chỉ là món xào thập cẩm, không có nguyên tắc gì cả, cho nên Mai hoa Dịch số ít chính xác và ít có người dùng đến.

 

    Trong trường hợp khoa Thái Ất Độn Giáp, trong các tài liệu còn truyền lại đến ngày nay, cũng cho Tốn thuộc mộc và Càn thuộc thổ, lại thêm Dương độn sai 25% và Âm độn cũng sai 25%, vì khởi phân âm dương sai cho nên khoa nầy bị bế tắt hoàn toàn, có quẻ trúng, có quẻ sai trật 100%. Những ai muốn xử dụng đến khoa Thái Ất Độn Giáp như để đoán quân địch sẽ phục kích quân ta ở đâu, ngày giờ nào, thì sai trật, và tất nhiên thua trận, còn tệ hại hơn là người mù bắn súng. Thái Ất Độn Giáp, vì lý do đó, là loại đạn mả tử; có lẽ còn tệ hơn, nó quay lại hại người xử dụng, chứ chẳng phải khó đến nỗi không mấy ai học được.

 

   

9.3. ĐẶC TÍNH của mỗi CUNG:

   

    12 cung Địa bàn chia ra 6 dương và 6 âm xen kẽ nhau, âm dương mỗi cung không bị âm dương của Bát-quái ảnh hưởng; như cung ngọ là dương thuộc Quái Ly hỏa là âm Quái.

 

                         12 cung chia ra

 

 

2 cung thuộc mộc:  dần  Thiếu-dương Tứ Tượng
mão là  cung Chấn, Bát Quái
2 cung thuộc hỏa: tỵ     cung Tốn, Bát Quái
ngọ  cung Ly, Bát Quái
2 cung thuộc kim:  thân là  Thiếu-âm của Tứ Tượng
dậu    cung Đoài, Bát Quái.
2 cung thuộc thủy: hợi   cung Càn, Bát Quái
       cung Khảm, Bát Quái
4 cung thuộc thổ: thìn  cu ng thổ Âm Nghi,
tuất    cung thổ Dương Nghi,
sửu  cung Cấn, Bát Quái
mùi    cung Khôn, Bát Quái

                                

                                                                      .

         

T

hỏa

Tốn

 NGỌ

 hỏa

Ly

  MÙI

thổ

Khôn

  THÂN

kim

Thiếu âm

  THÌN

thổ

Âm Nghi


ÐẶC TÍNH 12 CUNG

của

ÐỊA BÀN

  DẬU

kim

Ðoài

  MÃO

mộc

Chấn

  TUẤT

thổ

Dương Nghi

  DẦN

mộc

Thiếu dương

  SỬU

thổ

Cấn

 

thủy

Khảm

HỢI

thủy

Càn

  

 

    Để xét nguồn gốc mỗi cung chúng ta đi từ Hậu Thiên đến Địa bàn như sau:

 

1- Trục AZ của Hậu Thiên sắp theo đường thẳng đứng, trục nầy thành trục đối xứng nhị hợp của Địa bàn

2- Trục nam bắc NB là Ly Khảm tức trục tí ngọ

3- Trục Chấn Tốn ĐT là trục đông tây trở thành mão dậu.

 

    Sau đây là hình Hậu Thiên mà tôi tìm ra nguồn gốc các cung Địa bàn

 

 

 

 

 

 Hình Hậu Thiên

với trục AZ thẳng đứng

 

 

 

 

    Đem hình Hậu Thiên vào giữa 12 cung để lập ra Địa bàn

   

 

   Kết quả của sự phân tích trên đây là Địa bàn có những:

 

 

1. Trục đối xứng

 

    -     Hợi tỵ là Càn Tốn Hậu Thiên cho 2 sao Tử vi và Thiên phủ (Càn là đầu nhóm dương Quái, Tốn là đầu nhóm âm Quái)

    -     Thìn tuất (trục Lưỡng Nghi): cho các sao Khôi Việt...

    -     Sửu mùi (trục thổ Bát Quái): cho Nhật Nguyệt

 

 

2. Cung phát khởi

 

Nhiều sao đặc biệt phát khởi ở những cung dùng làm trục đối xứng, trục âm dương, trục phân nam bắc ...

    -    Thìn tuất: cho các sao Long Phượng, Tả Hữu v.v..

    -   Sửu mùi (trục thổ): cho Riêu Y v.v..

    -    Tí ngọ (trục Nam Bắc): cho Tuế Khốc v.v..

 

3. Cùng một ảnh-hưởng tại 2 cung xung chiếu

        đối với chính tinh như:

 

    -   Liêm Tham (—) và Vũ Phá (+) đều hãm địa tại tỵ hợi   

   -   Phá Quân, Thiên Lương vượng đắc địa tại tí ngọ

    -   Cự Cơ vượng địa tại mão dậu

    -   Cơ Lương vượng địa tại thìn tuất

    -   Nhật Nguyệt Đồng Cự bình hòa tại 2 cung sửu mùi

    -   2 sao cùng âm dương không hãm địa tại 2 cung Tứ Tượng dần thân

    -   v.v... xin xem phần 2.6 Đặc tính của chính tinh.

 

 

4. Trục đối xứng Đông Tây qua 2 cung mão dậu (Chấn Đoài):

 

    -   tại phía nam, phía có cung ngọ, Nam đẩu tinh mạnh hơn Bắc đẩu tinh

    -   tại phía bắc, phía có cung tí, Bắc đẩu tinh mạnh hơn Nam đẩu tinh

 

Thí dụ tại cung tuất (phía bắc) sao Tử-vi chỉ vượng địa, và sao Thiên phủ thì miếu địa còn được gọi đặc biệt là "Thiên phủ lâm tuất ”.

 

    Ở Hậu Thiên 4 cung Càn Khảm Cấn Chấn là dương, 4 cung Tốn Ly Khôn Đoài là âm. Chấn Đoài là trục đối xứng âm dương, cho nên

 

 

 

  

  

    Độc giả thấy 3 cặp đối xứng âm dương nầy có từng gạch âm dương đối nhau,

   Càn có 3 gạch dương thì đối xứng với Khôn có 3 gạch âm, ngay chính trong mỗi Quái của trục Chấn và Đoài

gạch dương cũng đối xứng với gạch âm.

   

 

 

 

Cước chú:

         Vì 2 cung thìn tuất là thổ của Tiên Thiên nên thời Hậu Hán phịa ra 2 sao Thiên la tại thìn và Địa võng tại tuất để mạt sát Vương Mãng đã soán ngôi năm thứ 8 sau Tây lịch, vì Mệnh của Vương Mãng an tại cung thìn. Sang đến thời Trần Đoàn 900 năm sau cũng giữ nguyên sự sai lầm đó. Như vậy, quan niệm cho rằng Trần Đoàn làm ra Tử vi hay san định lại là sai. Theo tôi từ nay chúng ta nên bỏ hẳn 2 sao Thiên la Địa võng vì chúng chẳng có ảnh hưởng gì trong sự giải luận các sao Tử vi.  

     

  

 

  

9.4. TRÌNH BÀY SAO ở 12 CUNG

 

 

    Mỗi lá số nên an sao theo chiều ngang, tờ giấy để theo chiều đứng, vì chúng ta cần nhiều hàng ngang. Cung trong mỗi lá số là hình chữ nhật đứng.

 

 

Khối 1

 

Các chính tinh được ghi ngay dưới cung Mệnh ở giữa cung dù miếu vượng hay hãm địa cũng vậy; vòng Tử vi ghi phía trên, vòng Thiên phủ ngay dưới. Không có chính tinh thì bỏ trống hàng đó. An Tứ hóa ngay dưới chính tinh, bằng màu càng tốt.

 

Tại mỗi cung chính tinh cư hay chiếu đều có ảnh hưởng then chốt tối đại quan trọng.

    Ghi Tứ hóa gần Chính tinh, ngay dưới.

 

 

Các sao khác chia thành nhiều khối như sau:

 

 

Khối 2

 

 

    Các sao thuộc Thiên Can ghi dưới chính tinh.

 

Nhóm sao Thiên Can ở phần trên chỉ định về Thiên thời, như đương số có ăn về thiên thời không ? có bị thiên tai, bịnh tật bẩm sinh không (Bệnh phù, Kình Đà) ?, có dễ thăng quan tiến chức không (Khôi Việt, Quan Phúc) ?...

 

Khối 4

 

 

    Tiếp dưới là các sao thuộc tháng ngày giờ.

 

Bị dồn ở giữa 2 hệ thống Thiên Can và Địa Chi là nhóm an các sao theo năm tháng ngày giờ. Nhóm nầy là Nhân hòa chỉ định ngay đương số về tính tình, hình-thể, phúc họa hứng chịu. Phần khác là chỉ định xã hội mà đương số bị chi phối

 

Khối 3

 

 

    Ở dưới là các sao thuộc Địa Chi như vòng Thái tuế.

 

Nhóm sao Địa Chi nằm phía dưới của cung chỉ định địa lợi mà đương số có thể gặp phải trên đường đời. Cơ may vận rủi là không gian mà đương số bước vào đời.

 

Khối 5

 

 

    Dưới hết là vòng Trường sinh.

 

Vòng Trường Sinh ấnđịnh thời gian mà đương số bị ảnh hưởng của Cục.

Số hên (Sinh Vượng ..) số xui (Bệnh, Suy .. ) là do cung Mệnh Phúc Quan Tài gặp được gì trong vòng Trường Sinh.

 

 

 

 

     Tôi xin trình bày sao ở mỗi cung như sau: các sao được phân ra từng khối theo tính chất Thiên Nhân Địa tại mỗi cung. Ảnh hưởng của mỗi khối hợp thành hệ thống cùng sinh khắc chế hóa lẫn nhau một cách minh-bạch.

     Như vậy vừa thoạt nhìn vào một cung, độc giả nhận ngay được đương số “ăn” ở hệ thống Thiên Can hay Địa Chi hay Nhân sinh, có khi được hai hay cả ba.Từ khối 2 đến khối 4, các hung tinh là sao dữ còn được gọi là “Sao xấu”, thì ghi bên phải của mỗi cung.Các cát tinh là sao lành còn được gọi là “sao tốt” thì ghi ở bên trái.

  

 

9.5. AN ĐẠI TIỂU HẠN:

  

      Cách an Đại Hạn và Tiểu Hạn trong các tài liệu cũ đều đúng 100%. 

 

9.5.1. An Tiểu-Hạn: 

 

                                                     

      Tuổi

an Tiểu Hạn tại

cung
         
Dần Ngọ Tuất thìn
Thân Tí Thìn tuất
Tỵ Dậu Sửu mùi
Hợi Mão Mùi sửu

                                                                                         

 

     Sau đó Nam số an tiếp 11 năm kế theo chiều thuận, Nữ số an 11 năm sau theo chiều nghịch.

  

  

9.5.2. An Đại-Hạn:

  

       Tùy theo số Cục của đương số mà bắt đầu ghi số đó của Đại Hạn tại cung Mệnh

 

 

     Dương Nam và Âm Nữ theo chiều thuận thêm 10 năm ở cung Phụ Mẫu, thêm 10 năm nữa ở cung Phúc ...

 

 

     Như người Hỏa lục cục, các đại hạn được ghi như sau:

 

 

  6 - 15

16 - 25 

26 - 35

36 - 45

46 - 55

56 - 65

66 - 75

76 - 85

86 - 95

96-105

06-115

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

tại  cung

Mệnh

Phụ Mẩu

Phúc

Điền

Quan

Di

Ách

Tài

Tử

Phối

           

  

     Âm Nam và Dương Nữ theo chiều nghịch thêm 10 năm ở cung Bào, thêm 10 năm nữa ở cung Phối ...

 

  

9.5.3. Lưu Đại-Hạn:

 

 

     Từ cung gốc Đại Hạn thêm 1 năm ở đối cung với cung gốc, rồi từ cung đó

 

Dương Nam và Âm Nữ lùi lại 1 cung an năm kế tiếp rồi cứ theo chiều thuận thêm lên một năm ở cung tiếp theo cho đến Đại Hạn sau ...

 

Âm Nam Nam và Dương Nữ tiến lên 1 cung an năm kế tiếp rồi cứ theo chiều nghịch thêm lên một năm ở cung tiếp theo cho đến Đại Hạn sau ... 

 

    Thí dụ 1     người Dương Nam hay Âm Nữ, Hỏa Lục cục,

           có Mệnh tại cung tí,

  

           Gốc Đại Hạn từ 16 đến 25 tại cung Phụ Mẫu thì   lưu Đại Hạn từ 16 đến 25 như sau

  

   

 

 

 

     Thí dụ 2 người Âm Nam hay Dương Nữ, Hỏa Lục cục,

          có Mệnh tại cung tí,

 

           gốc Đại hạn từ 56 đến 65 tại cung Ách,    lưu Đại hạn từ 56 đến 65 như sau:

  

   

    

    

   

 

    

 

   

                 HTML             MỤC LỤC               

                                                                                                 Trang

Lời Tựa. . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .6

Lời nói đầu  . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .8

Nguyên Tắc San định  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10

CHƯƠNG I Thành lập CỤC  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14

CHƯƠNG II San định CHÍNH TINH  . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23

 

Vòng Tử Phủ và Bản thể Chính tinh   . .. . . . . 23

An Chính tinh vào Địa bàn  . . . . . . . . . . . . . .  32

Nhà xuất bản

PRESTIGE EDITION

ISBN 2-9805220-6-6

2nd edition 2002

 

    

Văn Lang BUI NHU HUNG

An Chính tinh theo Hình học chiếu  .. . . . . . . 44

An Tử vi theo Ngày sinh  . . . . . . . . . . . . . . . .  58

CHƯƠNG III San định Sao THIÊN CAN  . . . . . . . . . . . . . . . 68

CHƯƠNG IV San định Sao ĐỊA CHI  . .  . . . . . . . . . . . . . . . . 89

CHƯƠNG V San định KHOA QUYỀN LỘC KỴ .  . . . . . . .100

CHƯƠNG VI San định Sao THÁNG NGÀY GIỜ  . . . . . . . .107

Sách và cước phí    20 mỹ kim

CHƯƠNG VII San định Sao TRƯỜNG SINH .  . . . . . . . . . .119

7662 Papineau

Montreal - QC - Canada

H2E 2H2

CHƯƠNG VIII San định TUẦN TRIỆT. . . . . . . . . . . . . . . . .123

 

San định LỤC THẬP HOA GIÁP. . . . . . . . . . . . .  . . . . 126

phone: 514 996 4376

 

vanlang@hotmail.com

 

CHƯƠNG IX ĐỊA BÀN  . . .  . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . . . . . ..132

TỔNG KẾT   . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .148

Cấm trích dịch toàn bộ hay một phần sách VĂN-LANG TỬ-VI SAN-ĐINH và BÌNH-GIẢNG                  

mà không có sự đồng ý của tác giả           

 

[ Tài liệu nầy chỉ để cho những vị đã biết an lá số, đã từng biết giải đóan Tử Vi từ năm năm trở lên, 

và có trình độ tóan học cao đẳng.

  Tài liệu nầy không hữu ích cho những người mới học xem Tử Vi ]

  

 

Trang nhà BÙI NHƯ HÙNG  Homepage